Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hồi ký một con chó vàng

của O. Henry

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 9.933 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Tôi đoán chẳng ai trong các vị ngã ngửa…
  2. 3:01Có trời chứng giám, đó là một sinh vật…
  3. 5:23Sao mặt mũi ông chua thế, hả cái ông…
  4. 6:11Ở căn hộ bên kia hành lang có một…
  5. 7:57Tới một chỗ yên tĩnh trên một con phố…
  6. 9:31Tôi không chịu đi. Tôi nhảy nhót, quấn quýt…
  7. 11:00Sang tới bờ bên Giơ-xi, ông chủ tôi nói…
  8. 11:31Tao sẽ gọi mày là "Pít", ông chủ tôi…

Tôi đoán chẳng ai trong các vị ngã ngửa ra khi đọc bài viết của một con vật. Ông Kíp-linh và khối người khác đã chứng minh rằng loài vật cũng có thể diễn đạt mình bằng thứ tiếng Anh kiếm ra tiền, và thời nay chẳng tạp chí nào lên khuôn mà không có một truyện về loài vật, trừ mấy tờ nguyệt san kiểu cũ vẫn còn in mãi tranh ảnh chính khách với cảnh núi lửa phun.

Nhưng các vị đừng tìm trong bài của tôi thứ văn chương kiểu cách, như lời gấu, lời rắn, lời hổ nói chuyện với nhau trong những cuốn sách về rừng xanh. Một con chó vàng đã sống gần hết đời trong một căn hộ rẻ tiền ở New York, ngủ ở một góc nhà trên chiếc váy lót sa-tanh cũ, cái váy mà bà chủ làm đổ rượu vang lên trong buổi tiệc của hội các bà vợ phu khuân vác bến cảng, thì đừng mong nó giở ngón nghề gì với nghệ thuật ăn nói.

Tôi sinh ra là một con chó con màu vàng. Ngày sinh, nơi sinh, phả hệ và cân nặng đều không rõ. Điều đầu tiên tôi còn nhớ được là một bà già đựng tôi trong cái giỏ ở góc đường Brốt-uê với phố Hai mươi ba, đang cố bán tôi cho một bà béo. Bà già tâng bốc tôi hết cỡ, bảo tôi là giống chó sục cáo chính cống, lai đủ thứ dòng giống quý tộc mà kể ra thì dài như một tràng. Bà béo lục lọi tìm một tờ năm đô-la giữa đống mẫu vải trong túi đi chợ, cho đến khi dồn được nó vào một góc, rồi chịu thua. Từ giây phút ấy tôi thành con cưng, thành cục vàng cục bạc của mẹ. Này, bạn đọc dịu dàng, bạn đã bao giờ bị một mụ đàn bà chín mươi cân, hơi thở sặc mùi pho mát với nước hoa, nhấc bổng lên rồi dụi mũi khắp người bạn, miệng không ngớt nựng bằng giọng ca sĩ ô-pê-ra: "Ôi, cục cưng bé bỏng xinh xinh tí ti của ai đây nào?" chưa?

Từ một con chó con màu vàng có phả hệ, tôi lớn lên thành một con chó vàng vô danh tiểu tốt, trông như con lai giữa một con mèo lông dài với một thùng chanh. Nhưng bà chủ tôi chẳng bao giờ vỡ lẽ. Bà nghĩ rằng hai con chó nguyên thuỷ mà ông Nô-ê lùa lên con tàu cứu nạn thời đại hồng thuỷ chỉ là một nhánh họ xa của tổ tiên tôi. Phải hai ông cảnh sát mới ngăn được bà đem tôi đi dự thi giải chó săn Xi-bê-ri ở Quảng trường Ma-đi-xơn.

Để tôi kể các vị nghe về căn hộ ấy. Toà nhà thuộc loại thường thấy ở New York, sảnh vào lát đá cẩm thạch, còn từ tầng hai trở lên thì lát đá cuội. Căn hộ của chúng tôi ở trên ba, à không phải ba tầng cầu thang, mà là ba lần leo trèo. Bà chủ tôi thuê nó không có đồ đạc, rồi sắm vào những thứ quen thuộc: một bộ bàn ghế phòng khách cổ kính sản xuất năm ngoái, một bức tranh in màu vẽ mấy cô gái Nhật trong một quán trà, một chậu cây cao su, và một ông chồng.

Có trời chứng giám, đó là một sinh vật hai chân mà tôi thấy tội nghiệp. Ông là một người đàn ông nhỏ thó, tóc và ria màu cát, trông khá giống tôi. Sợ vợ ư? Chao ôi, mọi loài chim mỏ to đều đã mổ vào ông. Ông lau bát đĩa, và ngồi nghe bà chủ tôi kể về những thứ đồ rẻ tiền rách rưới mà mụ đàn bà mặc áo lông sóc ở tầng hai phơi lên dây. Và tối nào, trong khi bà nấu bữa tối, bà cũng bắt ông dắt tôi bằng một sợi dây đi dạo.

Nếu đàn ông biết đàn bà giết thời gian thế nào khi ở nhà một mình, thì họ chẳng bao giờ lấy vợ. Đọc tiểu thuyết ba xu, nhai kẹo lạc, xoa chút kem hạnh nhân lên bắp thịt cổ, bát đĩa để đó chẳng rửa, nói chuyện nửa tiếng với anh giao nước đá, đọc lại một xấp thư cũ, nhai vài quả dưa chuột muối với hai chai nước mạch nha, một tiếng đồng hồ ghé mắt qua lỗ thủng trên tấm rèm cửa sổ nhìn sang căn hộ bên kia giếng trời. Đại khái chỉ có thế. Hai mươi phút trước khi ông chồng đi làm về, bà dọn dẹp nhà cửa, sửa búi tóc độn cho khỏi lộ, rồi bày ra một đống đồ khâu vá để làm bộ trong mười phút.

Tôi sống một cuộc đời đúng là đời chó trong căn hộ ấy. Gần như cả ngày tôi nằm trong góc nhà, nhìn mụ đàn bà béo giết thời gian. Thỉnh thoảng tôi ngủ thiếp đi, mơ mộng được ra ngoài đuổi mèo chạy xuống hầm, gầm gừ với mấy bà già đeo găng tay đen, đúng như số phận đã định cho một con chó. Rồi bà lại vồ lấy tôi, tuôn ra một tràng nựng nịu nhảm nhí như nựng chó cảnh, và hôn lên mũi tôi. Nhưng tôi làm gì được? Chó thì đâu có nhai đinh hương cho thơm miệng được.

Tôi bắt đầu thấy tội nghiệp ông chồng, thề có lũ mèo, tôi thấy tội nghiệp thật. Hai đứa tôi giống nhau đến nỗi mỗi lần đi ra ngoài người ta đều để ý. Thế là chúng tôi tránh xa những con phố nơi xe ngựa của các nhà tài phiệt chạy qua, mà đi leo những đống tuyết còn sót từ tháng Chạp năm ngoái trên những con phố của người nghèo.

Một tối, khi chúng tôi đang dạo bước như thế, tôi thì cố làm ra vẻ một con chó cứu hộ đoạt giải, còn ông già thì cố làm ra vẻ ông sẽ không giết anh kéo đàn quay tay đầu tiên dám chơi bản hành khúc đám cưới, tôi ngước lên nhìn ông, và nói theo cách của tôi:

— Sao mặt mũi ông chua thế, hả cái ông tôm luộc kia? Bà ấy có hôn ông đâu. Ông có phải ngồi trong lòng bà ấy mà nghe những lời lẽ khiến kịch bản một vở nhạc kịch hài nghe như châm ngôn của bậc hiền triết đâu. Ông phải mừng vì ông không phải là chó mới đúng. Vui lên nào, anh chàng có vợ, đuổi nỗi buồn đi.

Kẻ gặp nạn hôn nhân nhìn xuống tôi, mặt ông lộ một vẻ thông minh gần như của loài chó.

— Ồ, chó con, ông nói, chó ngoan. Trông mày cứ như sắp nói được ấy. Gì thế, chó con? Mèo à?

Mèo! Sắp nói được!

Nhưng dĩ nhiên ông không thể hiểu. Con người không được ban cho ngôn ngữ của loài vật. Chỗ gặp gỡ duy nhất để chó với người trò chuyện được với nhau là trong truyện hư cấu.

Ở căn hộ bên kia hành lang có một bà nuôi một con chó sục lông đen vàng. Chồng bà cũng buộc dây nó dắt đi mỗi tối, nhưng bao giờ ông ta cũng về nhà vui vẻ, miệng huýt sáo. Một hôm tôi chạm mũi với con chó lông đen vàng ngoài hành lang, và tôi hỏi nó cho ra lẽ.

— Này, cậu Ngoe Nguẩy, tôi nói, cậu biết là bản tính một người đàn ông thực thụ đâu phải là đi làm vú em cho một con chó trước mặt thiên hạ. Tôi chưa từng thấy gã nào bị buộc vào một con chó mà trông không như muốn đấm tất cả những gã đàn ông khác dám nhìn mình. Thế mà ông chủ cậu ngày nào cũng về nhà tươi tỉnh, hãnh diện như một tay ảo thuật nghiệp dư vừa làm xong trò biến quả trứng. Ông ấy làm thế nào vậy? Đừng bảo tôi là ông ấy thích nhé.

— Ông ấy á? Con chó lông đen vàng nói. Ông ấy dùng Phương Thuốc của Mẹ Thiên Nhiên đấy. Ông ấy uống cho say khướt. Lúc mới ra khỏi nhà thì ông ấy rụt rè lắm. Nhưng tới khi chúng tôi đã ghé qua tám quán rượu, thì ông ấy chẳng cần biết cái thứ ở đầu sợi dây là con chó hay con cá trê nữa. Tôi đã mất năm phân đuôi vì phải né mấy cánh cửa quán đung đưa đấy.

Lời mách nước của con chó sục ấy khiến tôi suy nghĩ.

Một tối, khoảng sáu giờ, bà chủ tôi ra lệnh cho ông chồng nhanh nhanh lên mà dắt Cưng đi hít khí trời. Tới giờ tôi vẫn giấu, nhưng bà gọi tôi như thế đấy. Còn con chó lông đen vàng thì tên là "Ngọt Ngào". Tôi cho rằng về khoản tên tuổi thì tôi hơn nó một quãng xa bằng cả một cuộc đuổi thỏ. Dẫu vậy, cái tên "Cưng" vẫn là một cái lon sắt buộc vào đuôi lòng tự trọng của mình.

Tới một chỗ yên tĩnh trên một con phố an toàn, trước một quán rượu hấp dẫn và lịch sự, tôi kéo căng sợi dây của người giám hộ. Tôi lao thẳng về phía cửa quán, rên ư ử như con chó trong những bản tin trên báo, con chó chạy về báo cho cả nhà biết bé An-li-xơ bị sa lầy khi đi hái hoa huệ dưới suối.

— Ơ, mù mắt tôi rồi, ông già nói, cười toe toét. Mù mắt tôi nếu cái thằng con màu nghệ của chai nước chanh có ga này không đang mời tôi vào làm một ly. Để xem nào, đã bao lâu rồi mình chưa được tiết kiệm da giày bằng cách gác một chân lên thanh để chân ở quầy rượu nhỉ? Có lẽ mình sẽ...

Tôi biết là tôi đã nắm được ông. Ông ngồi vào một chiếc bàn và gọi uýt-ki pha nóng. Suốt một tiếng đồng hồ ông gọi hết ly này đến ly khác. Tôi ngồi cạnh ông, lấy đuôi gõ xuống sàn để gọi hầu bàn, và ăn món ăn kèm miễn phí, những món mà bà chủ ở căn hộ chẳng bao giờ bì kịp với mấy thứ đồ làm sẵn mua ở cửa hàng thực phẩm tám phút trước khi ông chồng về.

Khi các sản phẩm của xứ Xcốt-len đã cạn sạch, trừ bánh mì lúa mạch đen, ông già gỡ tôi ra khỏi chân bàn, rồi dắt tôi ra ngoài như người câu cá kéo một con cá hồi. Ra tới ngoài, ông tháo vòng cổ của tôi ra, ném xuống lòng đường.

— Chó con tội nghiệp, ông nói, chó ngoan. Bà ấy sẽ không hôn mày nữa đâu. Thật là nhục quá đi mất. Chó ngoan, đi đi, để xe điện cán cho rồi được sung sướng.

Tôi không chịu đi. Tôi nhảy nhót, quấn quýt quanh chân ông già, sướng như con chó cảnh được nằm trên tấm thảm.

— Cái lão già đầu đầy bọ chét, chuyên đuổi chuột đồng kia, tôi nói với ông, cái lão chó săn già hay tru trăng, hay chỉ thỏ, hay ăn trộm trứng kia, ông không thấy là tôi không muốn rời xa ông sao? Ông không thấy là cả hai ta đều là những đứa trẻ lạc trong rừng, còn bà vợ là ông chú độc ác đang đuổi theo ông với cái khăn lau bát, đuổi theo tôi với lọ thuốc trị bọ chét và cái nơ hồng để buộc vào đuôi sao? Sao ta không dứt hết những thứ ấy đi mà làm bạn đồng hành với nhau mãi mãi?

Có lẽ các vị sẽ bảo ông chẳng hiểu gì. Có lẽ ông chẳng hiểu thật. Nhưng ông có vẻ tỉnh lại khỏi mấy ly uýt-ki, và đứng yên một lúc, nghĩ ngợi.

— Chó con, cuối cùng ông nói, trên đời này chẳng ai sống quá một tá kiếp, mà rất ít người trong chúng ta sống được tới ba trăm tuổi. Nếu tao còn quay về cái căn hộ ấy thì tao là thằng ngốc, mà mày quay về thì mày còn ngốc hơn. Đó không phải là nịnh đâu. Tao cược sáu mươi ăn một rằng con đường về miền Tây sẽ thắng, hơn đúng một thân chó lạp xưởng.

Chẳng còn sợi dây nào nữa, nhưng tôi vẫn nhảy nhót theo ông chủ ra tận bến phà phố Hai mươi ba. Và lũ mèo dọc đường có cớ để tạ ơn trời vì đã ban cho chúng những bộ móng biết bám.

Sang tới bờ bên Giơ-xi, ông chủ tôi nói với một người lạ đang đứng ăn bánh nho:

— Tôi với con chó của tôi, chúng tôi đang lên đường tới dãy núi Rốc-ki.

Nhưng điều làm tôi sướng nhất là khi ông già kéo cả hai tai tôi cho tới khi tôi kêu ăng ẳng, và bảo:

— Cái thằng con tầm thường, đầu khỉ, đuôi chuột, lông màu lưu huỳnh của tấm thảm chùi chân kia, mày có biết tao sẽ gọi mày là gì không?

Tôi nghĩ tới cái tên "Cưng", và tôi rên lên thảm thiết.

— Tao sẽ gọi mày là "Pít", ông chủ tôi nói.

Và nếu tôi có năm cái đuôi, thì vẫy cả năm cũng chưa đủ để tỏ hết niềm vui trong giây phút ấy.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1906
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Memoirs of a Yellow Dog, O. Henry, in trong tuyển tập The Four Million
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →