Chương 1: Ba kẻ trong căn chòi hoang
Bên hai đĩa mì Ý, ở một góc nhà hàng Pờ-rô-ven-da-nô, Giép Pi-tơ đang giảng cho tôi nghe về ba loại lừa đảo.
Mùa đông nào Giép cũng về New York để ăn mì Ý, để ngắm tàu bè trên sông Đông từ sâu trong chiếc áo khoác lông sóc của mình, và để mua sắm một lô quần áo may sẵn ở một cửa hàng trên phố Phun-tơn. Ba mùa còn lại, người ta có thể gặp anh xa hơn về phía tây, địa bàn của anh trải từ Xpô-ken tới Tam-pa. Anh tự hào về nghề của mình, và bảo vệ niềm tự hào ấy bằng một triết lý đạo đức nghiêm túc và độc nhất vô nhị. Nghề của anh chẳng có gì mới. Anh là một nơi trú ngụ đã đăng ký kinh doanh, không vốn, không giới hạn, chuyên đón nhận những đồng đô-la bồn chồn và dại dột của đồng loại.
Giữa rừng đá nơi Giép tìm kỳ nghỉ cô đơn hằng năm, anh vui lòng tán chuyện về những cuộc phiêu lưu của mình, như đứa trẻ huýt sáo khi đi trong rừng lúc mặt trời đã lặn. Vì thế tôi đánh dấu trên lịch ngày anh tới, và đặt trước ở nhà hàng Pờ-rô-ven-da-nô cái bàn nhỏ loang vết rượu trong góc, giữa chậu cây cao su nghiêng ngả và bức tranh lâu đài gì gì đó lồng khung trên tường.
— Có hai loại lừa đảo, — Giép nói, — đáng bị luật pháp xoá sổ. Tôi muốn nói tới đầu cơ ở phố Uôn, và trộm cạy nhà.
— Một trong hai thì gần như ai cũng đồng ý với anh, — tôi cười nói.
— Ừ, thì trộm cạy nhà cũng nên bị xoá sổ chứ, — Giép nói. Và tôi tự hỏi không biết tiếng cười của mình có thừa không.
— Chừng ba tháng trước, — Giép nói, — tôi có vinh dự được làm quen với mỗi ngành nghệ thuật phi pháp nói trên một mẫu. Tôi được thân thiết cùng lúc với một thành viên nghiệp đoàn trộm cạy nhà và một ông Na-pô-lê-ông tài chính.
— Kết hợp thú vị đấy, — tôi ngáp. — Tôi đã kể với anh là tuần trước tôi bắn một phát hạ được cả một con vịt với một con sóc đất trên núi Ra-ma-pô chưa?
Tôi thừa biết cách moi chuyện của Giép.
— Để tôi kể anh nghe trước về lũ hà bám làm tắc bánh xe xã hội, đầu độc nguồn nước ngay thẳng bằng con mắt độc như cây sui ấy đã, — Giép nói, trong mắt ánh lên tia sáng trong trẻo của nhà báo chuyên bới móc.
Như tôi đã nói, ba tháng trước tôi rơi vào chỗ bạn bè xấu. Đời người có hai lúc người ta làm thế, là lúc nghèo rớt mồng tơi, và lúc giàu.
Thỉnh thoảng cả cái nghề chính đáng nhất cũng hết vận. Ở bang Ác-kan-xơ, tôi rẽ nhầm ở một ngã tư, và lỡ đánh xe vào thị trấn Pi-vai. Hình như mùa xuân năm trước tôi đã tấn công và làm méo mó Pi-vai rồi. Tôi đã bán ở đó sáu trăm đô-la cây ăn quả giống, nào mận, anh đào, đào, lê. Dân Pi-vai vẫn để mắt canh con đường quê, mong tôi lại đi qua. Tôi đánh xe dọc phố Chính tới tận hiệu thuốc Cung Pha Lê mới nhận ra mình đã tự phục kích chính mình cùng con ngựa trắng Bạch Mã của tôi.
Dân Pi-vai tóm tôi bất ngờ, túm cương con Bạch Mã, rồi bắt đầu một cuộc nói chuyện chẳng hoàn toàn tách rời đề tài cây ăn quả. Một uỷ ban của họ luồn mấy sợi xích kéo xe qua nách áo gi-lê của tôi, rồi hộ tống tôi đi qua vườn tược của họ.
Mấy cây ăn quả của họ chẳng sống đúng như nhãn ghi. Phần lớn hoá ra là cây hồng dại với cây sơn thù du, thêm một hai lùm sồi đen với cây dương. Cây duy nhất có dấu hiệu ra quả là một cây bông gòn non tốt tươi, đã đơm được một tổ ong vò vẽ và nửa cái áo lót cũ.
Dân Pi-vai kéo dài cuộc dạo chơi chẳng có quả nào của bọn tôi tới tận rìa thị trấn. Họ lấy đồng hồ và tiền của tôi, coi như trả trước, còn giữ con Bạch Mã với cỗ xe làm con tin. Họ bảo bao giờ một cây sơn thù du ấy ra được quả đào tháng Sáu thì tôi quay lại mà lấy đồ. Rồi họ tháo xích, chỉ ngón cái về phía dãy Rốc-ki, thế là tôi phi nước kiệu như đoàn thám hiểm năm xưa, nhắm thẳng về phía những dòng sông nước lũ và những cánh rừng không lối vào.
Khi tỉnh táo lại, tôi thấy mình đang đi vào một thị trấn vô danh trên tuyến đường sắt. Dân Pi-vai chẳng để lại gì trong túi tôi ngoài một bánh thuốc lá nhai. Họ đâu định lấy mạng tôi, mà chính bánh thuốc ấy đã giữ mạng cho tôi. Tôi cắn một miếng, ngồi xuống đống tà vẹt cạnh đường ray để ngẫm nghĩ lại những cảm nhận về tư duy và sự sáng suốt của mình.
Rồi một chuyến tàu hàng tốc hành chạy tới, chậm lại một chút ở thị trấn, và từ trên tàu rơi xuống một bọc đen, lăn hai chục mét trong đám bụi mù, rồi đứng dậy, bắt đầu khạc ra bụi than và mấy câu cảm thán. Tôi thấy đó là một chàng trai mặt bè bè, ăn mặc hợp với toa nằm hạng sang hơn là tàu hàng, và dù vậy vẫn có một nụ cười vui vẻ khiến cô gái áo trắng trên tranh quảng cáo đường sắt sạch sẽ trông chẳng khác gì thằng nhóc cạo ống khói.
"Ngã à?" tôi hỏi.
"Không," hắn nói. "Xuống tàu. Tới nơi rồi. Đây là thị trấn nào thế?"
"Tôi chưa tra bản đồ," tôi nói. "Tôi tới đây trước anh chừng năm phút. Anh thấy nó thế nào?"
"Cứng," hắn nói, vặn vẹo một cánh tay. "Hình như cái vai này, à không, vẫn ổn."
Hắn cúi xuống phủi bụi quần áo, thì từ trong túi rơi ra một cây xà beng thép dài hơn hai gang, loại đồ nghề trộm cạy cửa hảo hạng. Hắn nhặt lên, nhìn tôi sắc lẻm, rồi nhe răng cười, chìa tay ra.
"Người anh em," hắn nói, "xin chào. Mùa hè năm ngoái tôi có thấy anh ở miền Nam Mít-xu-ri bán cát màu năm mươi xu một thìa cà phê, để bỏ vào đèn cho dầu khỏi nổ phải không?"
"Dầu thì không bao giờ nổ," tôi nói. "Hơi bốc lên từ dầu mới nổ." Nhưng tôi vẫn bắt tay hắn.
"Tên tôi là Bin Ba-xét," hắn nói, "và nếu anh coi đây là lòng tự hào nghề nghiệp chứ không phải thói khoác lác, thì tôi xin báo để anh biết rằng anh đang hân hạnh được gặp tay trộm cạy nhà giỏi nhất từng đặt chân đi giày cao su lên vùng đất mà sông Mi-xi-xi-pi chảy qua."
Thế là tôi với gã Bin Ba-xét ngồi trên đống tà vẹt thi nhau khoe khoang, như mấy nghệ sĩ cùng ngành vẫn làm. Hình như hắn cũng không có một xu, và bọn tôi họp kín với nhau. Hắn giải thích vì sao một tay trộm cừ đôi khi phải đi tàu hàng, rằng ở Lít-tơn Rốc một cô hầu gái đã phản bội hắn, và hắn đang phải chuồn gấp.
"Đó là một phần trong nghề của tôi," Bin Ba-xét nói, "chiều chuộng mấy tà áo diềm đăng-ten khi muốn làm một vố trộm hào hoa. Tình yêu làm cái lưỡi khoan quay tròn. Cứ chỉ cho tôi một ngôi nhà có của và một cô hầu phòng khách xinh xinh, là anh coi như đồ bạc đã nấu chảy đem bán, còn tôi thì đang làm rơi nấm cục với rượu vang lâu đài lên khăn ăn giắt dưới cằm, trong khi cảnh sát bảo là người trong nhà làm, chỉ vì cháu trai bà chủ đi dạy lớp Kinh Thánh. Trước hết tôi gây ấn tượng với cô gái," Bin nói, "rồi khi cô ấy cho tôi vào thì tôi gây ấn tượng với mấy ổ khoá. Nhưng con bé ở Lít-tơn Rốc chơi tôi," hắn nói. "Nó thấy tôi đi xe điện với một cô khác, thế là cái đêm nó hứa để cửa mở cho tôi thì cửa khoá chặt. Mà tôi đã đánh sẵn chìa cho mấy cửa trên lầu rồi. Nhưng không, thưa ông. Nó cắt đứt đường của tôi thật rồi. Nó đúng là nàng Đa-li-la cắt tóc chàng Xăm-xơn," Bin Ba-xét nói.
Hình như Bin vẫn cố cạy cửa vào bằng xà beng, nhưng cô gái phát ra một tràng âm thanh ầm ĩ như bọn ngồi trên nóc xe ngựa du ngoạn thổi kèn, và Bin phải vượt hết mọi chướng ngại từ đó ra tới ga. Vì hắn chẳng có hành lý, người ta cố hết sức giữ chân hắn lại, nhưng hắn kịp nhảy lên một chuyến tàu vừa chuyển bánh.
"Thôi," Bin Ba-xét nói, khi bọn tôi đã trao đổi xong kỷ niệm về những cuộc đời đã qua, "tôi đói rồi. Thị trấn này trông chẳng có vẻ gì là được khoá kỹ. Hay mình làm một vụ tàn bạo nhẹ nhàng nào đó kiếm ít tiền tiêu tạm? Chắc anh không mang theo thuốc mọc tóc hay dây đồng hồ mạ vàng, hay mấy trò lừa coi thường luật pháp tương tự để bán ngoài quảng trường cho đám dân đần độn keo kiệt chứ hả?"
"Không," tôi nói, "tôi để cả một lô hoa tai kim cương Pa-ta-gô-ni-a sang trọng với ghim cài áo hình mặt trời trong va-li ở Pi-vai rồi. Nhưng chúng sẽ phải nằm đó cho tới khi mấy cây sơn thù du bắt đầu tràn ngập thị trường bằng đào vàng với mận Nhật. Tôi nghĩ mình không trông vào chúng được, trừ khi rủ được ông vua lai tạo cây trồng về làm cộng sự."
"Cũng được," Ba-xét nói, "mình làm hết sức vậy. Có khi tối tôi mượn một cái kẹp tóc của bà nào đó rồi mở Ngân hàng Nhà nông và Lái buôn Gia súc bằng nó."
Trong lúc bọn tôi đang nói chuyện, một chuyến tàu khách đỗ lại ở nhà ga gần đó. Một người đội mũ chóp cao xuống nhầm phía tàu, rồi lon ton đi dọc đường ray về phía bọn tôi. Đó là một gã nhỏ thó, béo lùn, mũi to, mắt chuột, nhưng ăn mặc đắt tiền, xách một chiếc túi tay cẩn thận như thể trong đó đựng trứng hay trái phiếu đường sắt. Hắn đi ngang qua bọn tôi, cứ thế đi tiếp dọc đường ray, có vẻ chẳng để ý gì tới thị trấn.
"Đi nào," Bin Ba-xét bảo tôi, bắt đầu đi theo hắn.
"Đi đâu?" tôi hỏi.
"Lạy Chúa!" Bin nói. "Anh quên mình đang ở giữa sa mạc rồi à? Anh không thấy Đại tá Ma-na từ trời rơi xuống ngay trước mắt sao? Anh không nghe tiếng cánh của Tướng Quạ đập phành phạch à? Tôi ngạc nhiên về anh đấy, nhà tiên tri ạ."
Bọn tôi đuổi kịp người lạ ở bìa một khu rừng, và vì trời đã tối, chỗ lại vắng, chẳng ai thấy bọn tôi chặn hắn lại. Bin nhấc chiếc mũ lụa khỏi đầu hắn, lấy tay áo phủi phủi rồi đội lại cho hắn.
"Thế này là nghĩa làm sao, thưa ông?" người kia nói.
"Hồi tôi còn đội loại mũ này," Bin nói, "hễ lúng túng là tôi lại làm thế. Giờ không có mũ, tôi đành dùng mũ của ông. Tôi chẳng biết bắt đầu giải thích việc của bọn tôi với ông thế nào, thưa ông, nhưng chắc mình thử túi ông trước đã."
Bin Ba-xét sờ khắp các túi, mặt chán ngán.
"Đến cái đồng hồ cũng không," hắn nói. "Ông không biết xấu hổ à, cái mả tô vôi kia? Đi đâu cũng ăn mặc như bồi trưởng, mà túi tiền thì như một ông bá tước phá sản! Đến tiền đi xe điện cũng không có. Ông làm gì với vé chuyển tuyến rồi?"
Người kia lên tiếng, bảo hắn chẳng có tài sản hay đồ quý giá gì. Nhưng Ba-xét giật lấy chiếc túi tay mở ra. Trong đó lòi ra mấy chiếc cổ áo, mấy đôi tất và nửa trang báo cắt ra. Bin đọc kỹ mẩu báo, rồi chìa tay cho nạn nhân.
"Người anh em," hắn nói, "xin chào! Xin nhận lời xin lỗi của bạn bè. Tôi là Bin Ba-xét, trộm cạy nhà. Anh Pi-tơ, anh phải làm quen với ông An-phrét I. Ríc. Bắt tay đi. Anh Pi-tơ," Bin nói, "đứng chừng giữa tôi với ông, ông Ríc ạ, trên bậc thang phá hoại và đồi bại. Anh ấy bao giờ cũng đưa lại một thứ gì đó cho số tiền anh ấy lấy. Tôi mừng được gặp ông, ông Ríc, cả ông lẫn anh Pi-tơ. Đây là lần đầu tôi được dự một phiên họp đầy đủ của Đại hội đồng Cá mập Toàn quốc, có đủ cả đại diện ngành trộm cạy nhà, lừa đảo và tài chính. Anh Pi-tơ, xin anh xem giấy uỷ nhiệm của ông Ríc."
Mẩu báo Bin Ba-xét đưa tôi có in một tấm ảnh rõ nét của gã Ríc này. Đó là một tờ báo Chi-ca-gô, đoạn nào cũng có lời bêu riếu Ríc. Đọc qua, tôi thu hoạch được tin rằng cái gọi là Ríc ấy đã chia toàn bộ phần đất bang Phlo-ri-đa nằm dưới nước thành các lô đất xây nhà, rồi bán cho cái gọi là các nhà đầu tư ngây thơ, từ văn phòng bày biện lộng lẫy của hắn ở Chi-ca-gô. Sau khi hắn thu được chừng trăm nghìn đô-la, một trong mấy người mua lắm chuyện, loại lúc nào cũng gây rắc rối, tôi từng gặp những người thật sự đem đồng hồ vàng tôi bán đi thử bằng a-xít, đã đi một chuyến du lịch giá rẻ xuống cái vùng đất lúc nào cũng như sắp tới giờ ăn tối ấy, để xem lô đất của mình có cần thay một hai thanh rào không, và tiện hái ít chanh bán kịp mùa quà Giáng sinh. Ông ta thuê một người đo đạc tìm lô đất cho mình. Họ kéo dây đo, và phát hiện ra thị trấn Thung Lũng Thiên Đường trù phú, như trong quảng cáo, nằm ngay giữa hồ Ô-ki-chô-bi. Lô đất của ông nằm dưới mười một mét nước, mà còn bị cá sấu với cá kìm chiếm cứ lâu tới mức giấy tờ của ông trông tanh mùi cá.
Lẽ tự nhiên, người kia quay về Chi-ca-gô và làm cho An-phrét I. Ríc nóng như buổi sáng sau khi đài khí tượng dự báo có tuyết. Ríc chối bỏ lời buộc tội, nhưng hắn không chối nổi đám cá sấu. Một buổi sáng, báo chí đăng nguyên một cột về chuyện ấy, còn Ríc thì chuồn ra bằng cầu thang thoát hiểm. Hình như cái gọi là nhà chức trách đã tới trước hắn ở két sắt ngân hàng nơi hắn cất tiền thắng cuộc, và Ríc phải tháo chạy về miền Tây, chỉ có giày dép và một tá cổ áo kiểu Anh trong túi xách. Tình cờ trong sổ vé hắn còn ít dặm đường, đủ đưa hắn tới cái thị trấn giữa hoang mạc này, nơi hắn bị trút xuống trước mặt tôi với Bin Ba-xét, như một nhà tiên tri nữa giữa sa mạc, mà chẳng có con quạ nào bay tới mang bánh cho đứa nào trong bọn tôi.
Rồi gã An-phrét I. Ríc ấy kêu chít chít rằng hắn cũng đói, và chối luôn cái giả thuyết rằng hắn đủ sức trả giá trị, chưa nói tới giá tiền, của một bữa ăn. Thế là ba chúng tôi ở đó, nếu muốn suy luận theo tam đoạn luận với hình học thì đại diện cho lao động, thương mại và tư bản. Mà thương mại không có tư bản thì chẳng có cuộc mặc cả nào. Tư bản không có tiền thì món bít-tết hành đình trệ. Thế là việc dồn hết lên vai gã cầm xà beng.
"Hỡi các anh em lục lâm," Bin Ba-xét nói, "chưa bao giờ, lúc hoạn nạn, tôi bỏ rơi bạn bè. Gần đây, trong khu rừng kia, tôi thấy hình như có chỗ trọ không đồ đạc. Ta tới đó chờ trời tối."
Trong lùm cây có một căn chòi cũ bỏ hoang, và ba chúng tôi chiếm lấy nó. Trời tối, Bin Ba-xét bảo bọn tôi chờ, rồi đi ra ngoài nửa tiếng. Hắn quay về, ôm một ôm bánh mì, sườn lợn và bánh nướng.
"Xin được ở một trang trại trên đại lộ Oa-si-ta," hắn nói. "Ăn uống đi mà liệu chừng."
Trăng tròn đang lên sáng vằng vặc, nên bọn tôi ngồi dưới sàn chòi ăn dưới ánh trăng. Thế rồi gã Bin Ba-xét bắt đầu khoe khoang.
"Có những lúc," hắn nói, miệng đầy nông sản, "tôi hết cả kiên nhẫn với mấy người các anh, cứ nghĩ mình đứng cao hơn tôi trong nghề. Này, trong cơn ngặt nghèo hiện nay, các anh làm được gì để đưa cả bọn đứng dậy? Ông làm được không, ông Ríc?"
"Tôi phải thú thật, anh Ba-xét ạ," Ríc nói, giọng gần như không nghe thấy sau miếng bánh, "rằng vào thời điểm trước mắt này, có lẽ tôi không thể khởi xướng một doanh nghiệp nào để giải toả tình hình. Những hoạt động lớn như tôi điều hành, tất nhiên, đòi hỏi chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước. Tôi..."
"Tôi biết, ông Ríc," Bin Ba-xét ngắt lời. "Ông khỏi nói hết. Ông cần năm trăm đô-la để trả đợt đầu cho một cô thư ký đánh máy tóc vàng với bốn phòng bày đồ gỗ sồi xẻ. Ông cần thêm năm trăm nữa cho hợp đồng quảng cáo. Rồi ông cần hai tuần để cá bắt đầu cắn câu. Cái đường cứu trợ của ông trong lúc khẩn cấp cũng hữu ích như đi vận động quốc hữu hoá ngành ga để chữa cho một người đang ngạt vì ga đắt. Còn mánh của anh cũng chẳng nhanh nhẹn gì hơn đâu, anh Pi-tơ," hắn kết thúc.
"Ồ," tôi nói, "tôi chưa thấy anh hoá vàng được cái gì bằng cây đũa thần đâu, ngài Tiên Tốt Bụng ạ. Ai mà chẳng xoa được nhẫn thần để kiếm ít đồ ăn thừa."
"Đó mới là sửa soạn quả bí thôi," Ba-xét nói, khoác lác mà vui vẻ. "Chẳng mấy chốc cỗ xe sáu ngựa sẽ tới tận cửa, cô Lọ Lem ạ. Có khi anh có mánh gì giấu trong cổ tay áo để mình khởi đầu được."
"Chú em," tôi nói, "tôi hơn chú mười lăm tuổi, mà vẫn còn đủ trẻ để mua bảo hiểm nhân thọ. Tôi từng sạch túi rồi. Đèn của thị trấn kia cách đây chưa tới một cây số. Tôi học nghề dưới tay Mông-ta-giơ Xin-vơ, tay bán hàng rong vĩ đại nhất từng diễn thuyết trên xe ngựa. Lúc này có hàng trăm người đang đi trên mấy con phố ấy với vết dầu mỡ trên quần áo. Cho tôi một ngọn đèn xăng, một cái thùng gỗ, một bánh xà phòng trắng hai đô-la, cắt ra thành từng mẩu nhỏ..."
"Hai đô-la của anh đâu?" Bin Ba-xét cười khẩy, cắt ngang bài diễn thuyết của tôi. Cãi với gã trộm ấy cũng chẳng ích gì.
"Không," hắn nói tiếp, "cả hai người đều là trẻ lạc trong rừng. Tài chính đã đóng cái bàn gỗ gụ, thương mại đã kéo cửa chớp. Cả hai đều trông vào lao động để bánh xe chạy lại. Được thôi. Các anh thừa nhận rồi đấy. Đêm nay tôi sẽ cho các anh xem Bin Ba-xét làm được gì."
Ba-xét dặn tôi với Ríc không được rời căn chòi cho tới khi hắn về, dù trời có sáng, rồi hắn đi về phía thị trấn, huýt sáo vui vẻ.
Gã An-phrét I. Ríc cởi giày với áo khoác, phủ chiếc khăn lụa lên mũ, rồi nằm xuống sàn.
"Tôi nghĩ tôi sẽ cố chợp mắt một chút," hắn chít chít. "Hôm nay mệt mỏi quá. Chúc ngủ ngon, anh Pi-tơ thân mến."
"Gửi lời chào thần Giấc Ngủ giùm tôi," tôi nói. "Tôi nghĩ tôi ngồi thức thêm lúc nữa."
Khoảng hai giờ sáng, theo tôi đoán bằng cái đồng hồ đang nằm ở Pi-vai, gã lao động của bọn tôi về nhà, đá cho Ríc dậy, rồi gọi bọn tôi ra chỗ vệt trăng sáng chiếu qua cửa chòi. Rồi hắn bày ra sàn năm gói tiền, mỗi gói một nghìn đô-la, và bắt đầu cục tác bên ổ trứng như con gà mái.
"Để tôi kể các anh nghe vài chuyện về thị trấn ấy," hắn nói. "Nó tên là Suối Đá, người ta đang xây một đền Tam Điểm, có vẻ ứng viên thị trưởng của đảng Dân chủ sắp bị một tay đảng Nhân dân đánh bại, còn bà vợ ông quan toà Tắc-cơ bị viêm màng phổi đang khá lên. Tôi phải nói chuyện về mấy đề tài tí hon ấy rồi mới cắm được ống hút vào nguồn tri thức tôi cần. Ở đó có một ngân hàng gọi là Quỹ Tín thác Thợ Gỗ và Tiết kiệm Nhà Nông. Hôm qua nó đóng cửa với hai mươi ba nghìn đô-la tiền mặt trong két. Sáng nay nó sẽ mở cửa với mười tám nghìn, toàn bạc trắng, thế nên tôi không mang về được nhiều hơn. Đây này, thương mại với tư bản. Giờ các anh có chịu hư hỏng không?"
"Bạn trẻ của tôi ơi," An-phrét I. Ríc nói, giơ hai tay lên, "cậu đã cướp ngân hàng ấy à? Trời ơi, trời ơi!"
"Không gọi thế được đâu," Ba-xét nói. "Cướp nghe nặng nề quá. Tôi chỉ cần tìm xem nó nằm ở phố nào. Thị trấn ấy yên tĩnh tới mức tôi đứng ở góc phố mà nghe rõ mồn một tiếng lẫy khoá kêu tách tách trong két sắt: phải bốn lăm, trái hai vòng tới tám mươi, phải một vòng tới sáu mươi, trái tới mười lăm, rõ như ông đội trưởng bóng bầu dục hô hiệu lệnh. Nào, các anh," Ba-xét nói, "thị trấn này dậy sớm lắm. Người ta bảo dân ở đây trời chưa sáng đã dậy đi lại rồi. Tôi hỏi để làm gì, họ bảo vì giờ ấy đã có bữa sáng. Thế còn chàng Rô-bin Hút vui vẻ thì sao? Phải hú lên mà chạy thôi. Tôi cấp vốn cho các anh. Các anh cần bao nhiêu? Nói đi. Tư bản trước."
"Bạn trẻ thân mến của tôi," con sóc đất Ríc ấy nói, đứng lên bằng hai chân sau, hai chân trước tung hứng mấy hạt dẻ, "tôi có bạn ở Đen-vơ sẽ giúp tôi. Nếu tôi có một trăm đô-la thì tôi..."
Ba-xét tháo một gói tiền ra, ném cho Ríc năm tờ hai mươi.
"Thương mại, bao nhiêu?" hắn hỏi tôi.
"Cất tiền đi, Lao động," tôi nói. "Tôi chưa bao giờ rút vào đồng lương còm cõi kiếm được bằng mồ hôi của lao động chân chính. Những đồng đô-la tôi kiếm là đô-la thừa, đang làm bỏng túi bọn ngốc và bọn non nớt. Khi tôi đứng ở góc phố bán cho một gã khờ chiếc nhẫn vàng đặc nạm kim cương giá ba đô-la, tôi lãi đúng hai đô-la sáu mươi. Và tôi biết hắn sẽ đem tặng cho một cô gái, đổi lấy mọi lợi lộc mà một chiếc nhẫn một trăm hai mươi lăm đô-la đem lại. Hắn lãi một trăm hai mươi hai đô-la. Vậy ai trong hai đứa là kẻ lừa đảo lớn hơn?"
"Còn khi anh bán cho một bà nghèo một nhúm cát năm mươi xu để đèn khỏi nổ," Ba-xét nói, "anh tính tổng thu nhập của bà ta là bao nhiêu, khi cát chỉ có bốn mươi xu một tấn?"
"Nghe này," tôi nói. "Tôi dặn bà ấy giữ đèn cho sạch và đổ dầu cho đầy. Làm thế thì đèn không nổ được. Mà có cát trong đó thì bà ấy biết là không nổ được, nên bà ấy chẳng lo. Đó là một kiểu chữa bệnh bằng đức tin trong công nghiệp. Bà ấy trả năm mươi xu, mà được cả ông vua dầu mỏ lẫn bà giáo chủ chữa bệnh bằng niềm tin cùng làm việc cho mình. Đâu phải ai cũng có được hai chị em bột giặt thần làm hộ việc nhà."
An-phrét I. Ríc gần như liếm sạch bụi trên giày Bin Ba-xét.
"Bạn trẻ thân mến của tôi," hắn nói, "tôi sẽ không bao giờ quên lòng hào hiệp của cậu. Trời sẽ đền đáp cậu. Nhưng tôi khẩn cầu cậu hãy từ bỏ con đường bạo lực và tội ác."
"Chuột nhắt ạ," Bin nói, "về cái lỗ ở chân tường của ông đi. Mấy giáo điều với lời dạy dỗ của ông nghe như hơi thở cuối cùng của cái bơm xe đạp. Cái hệ thống cướp bóc đạo đức cao siêu, đi thang máy của ông đã đưa ông tới đâu? Tới túng quẫn và thiếu thốn. Đến anh Pi-tơ đây, người khăng khăng làm ô uế nghệ thuật ăn cướp bằng mấy lý thuyết buôn bán thương mại, cũng thừa nhận là đang gặp nạn. Cả hai anh đều sống theo luật mạ vàng. Anh Pi-tơ," Bin nói, "anh nên chọn lấy một miếng trong đống tiền ướp xác này. Cứ tự nhiên."
Tôi lại bảo Bin Ba-xét cất tiền vào túi. Tôi chưa bao giờ coi trọng nghề trộm cạy nhà như một số người. Tôi luôn đưa lại một thứ gì đó cho số tiền mình lấy, dù chỉ là một món lặt vặt làm kỷ niệm để nhắc họ lần sau đừng để bị lừa nữa.
Rồi An-phrét I. Ríc lại khúm núm dưới chân Bin, và chào từ biệt bọn tôi. Hắn bảo hắn sẽ thuê một cỗ xe ở một trang trại, đánh xe xuống ga dưới, đi tàu tới Đen-vơ. Khi con sâu đục quả đáng thương ấy đi khỏi, không khí trong lành hẳn. Hắn là nỗi ô nhục của mọi nghề không làm ra sản phẩm trong cả nước. Với bao nhiêu mánh lớn và văn phòng sang trọng, cuối cùng hắn chẳng kiếm nổi một bữa ăn tử tế nếu không nhờ lòng tốt của một gã trộm xa lạ, có khi chẳng ra gì. Tôi mừng khi thấy hắn đi, dù cũng hơi thương hắn, giờ đã tàn đời mãi mãi. Một kẻ như thế làm được gì khi không có vốn lớn trong tay? Ồ, An-phrét I. Ríc, lúc bọn tôi chia tay hắn, bất lực như con rùa lật ngửa. Hắn chẳng nghĩ nổi mánh nào để lừa một bé gái lấy một chiếc bút chì viết bảng giá một xu.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn