Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, gần thành có một thị trấn lớn của thợ mộc, gồm một nghìn gia đình. Thợ mộc ở thị trấn này hay nhận lời đóng giường, đóng ghế, làm nhà cho người ta, nhận trước của khách cả một món tiền lớn, rồi chẳng làm nổi thứ gì.
Gặp người thợ mộc nào, dân chúng cũng xúm vào mắng nhiếc, gây khó dễ. Những con nợ ấy bị quấy rầy tới mức không sao sống nổi ở đó nữa. Họ bảo nhau:
— Ta hãy đi sang xứ khác, tìm lấy một chỗ nào đó mà sinh sống.
Thế là họ vào rừng, đốn cây, đóng một chiếc thuyền thật lớn, hạ thuyền xuống sông, đưa ra khỏi thị trấn, tới một nơi cách chừng ba phần tư dặm thì giấu thuyền ở đó. Rồi giữa đêm khuya, họ trở về thị trấn đón vợ con, đưa tất cả lên thuyền, rồi xuôi dòng ra biển.
Họ để thuyền trôi theo chiều gió, cho tới khi tới một hòn đảo nằm giữa biển khơi. Trên đảo mọc hoang đủ các loài cây cỏ, cây trái: lúa, mía, chuối, xoài, mận hồng, mít, dừa, chẳng thiếu thứ gì.
Trước họ đã có một người đàn ông bị đắm thuyền dạt vào chiếm hòn đảo ấy làm chỗ ở. Anh ta ăn lúa, ăn mía và đủ các thứ kia, nên người vạm vỡ, khoẻ mạnh. Anh ta đi trần truồng, râu tóc mọc dài.
Bọn thợ mộc nghĩ: "Nếu hòn đảo kia có quỷ dữ ám thì tất cả chúng ta sẽ chết. Ta phải đi dò xét trước đã."
Thế là bảy người đàn ông can đảm, khoẻ mạnh, mang đủ năm thứ vũ khí, lên bờ đi dò khắp đảo.
Lúc ấy, người bị đắm thuyền vừa ăn sáng xong, uống nước mía, đang khoan khoái nằm ngửa ở một chỗ đẹp đẽ, mát rượi dưới bóng cây, trên bãi cát lấp lánh như mặt đĩa bạc. Anh nghĩ: "Người ở đất Ấn Độ ngày ngày cày cấy làm gì có được niềm sung sướng như thế này. Đối với ta, hòn đảo này còn hơn cả đất Ấn Độ!"
Rồi anh cất tiếng hát vang, sung sướng tột độ:
— Người khác gieo, người khác cày, đổ mồ hôi kiếm miếng ăn hằng ngày. Còn nơi vương quốc ta đây, họ chẳng có phần nào. Ấn Độ ư? Chỗ này còn hơn xa!
Mấy người đi dò đảo nghe thấy tiếng hát, bảo nhau:
— Hình như ta nghe thấy tiếng người. Ta tới làm quen xem sao.
Họ lần theo tiếng hát, tới chỗ người đàn ông, nhưng thấy bộ dạng anh ta thì hoảng sợ.
— Quỷ đấy!
Họ kêu lên, lắp tên vào cung. Thấy vậy, người đàn ông sợ bị bắn, vội kêu lên:
— Thưa các ông, tôi không phải quỷ, tôi là người! Xin tha mạng cho tôi!
— Thế nào? Người mà lại trần truồng, chẳng có tấc sắt trong tay như anh à?
Họ hỏi đi hỏi lại, lần nào anh cũng trả lời như thế, rằng anh là người. Cuối cùng họ lại gần, và mọi người bắt đầu chuyện trò vui vẻ. Những người mới tới hỏi vì sao anh tới được nơi này. Anh kể lại sự thật cho họ nghe, rồi nói:
— Các ông làm điều lành nên mới được tới đây đấy. Hòn đảo này tốt nhất trần đời. Ở đây chẳng phải làm lụng gì để kiếm ăn cả. Lúa, mía, và đủ thứ khác nhiều vô kể, đều mọc hoang. Các ông cứ ở đây mà chẳng phải lo nghĩ gì.
— Ở đây còn điều gì khác cản trở chúng tôi không?
— Chẳng có gì đáng sợ, chỉ trừ một điều. Đảo này có thần linh ngự, và các vị thần sẽ nổi giận nếu thấy đồ dơ bẩn của người ta. Vì thế, khi muốn đi đại tiện tiểu tiện, các ông hãy đào một cái hố trên cát mà vùi đi. Chỉ có mối nguy ấy thôi, chẳng còn gì khác. Các ông chỉ cần luôn luôn cẩn thận điều đó.
Thế là các gia đình thợ mộc ở lại đảo.
Trong một nghìn gia đình ấy có hai người thợ cả, mỗi người đứng đầu năm trăm gia đình. Một người ngu dại và tham ăn ngon, còn người kia khôn ngoan, chẳng mải tranh phần hơn.
Ở lâu ngày trên đảo, ai nấy đều béo tốt khoẻ mạnh. Rồi họ nghĩ: "Đã lâu lắm rồi chúng ta chẳng được vui chơi. Ta hãy lấy nước mía nấu rượu uống."
Thế là họ nấu rượu mạnh. Say rồi, họ hát hò, nhảy múa, nô đùa, rồi vô ý phóng uế khắp nơi chẳng thèm vùi lấp, làm cho hòn đảo dơ dáy ghê tởm.
Các vị thần nổi giận vì chỗ vui chơi của mình bị bọn người kia làm cho nhơ bẩn. Các thần bàn nhau:
— Ta có nên dâng nước biển lên mà rửa sạch hòn đảo không? Bây giờ đang là nửa tháng tối trời, hội của chúng ta đã tan. Thế này vậy: mười lăm ngày nữa, đêm đầu tiên trăng tròn, lúc trăng vừa mọc, ta sẽ dâng nước biển lên, giết sạch bọn chúng.
Họ định ngày như thế. Nghe vậy, một vị thần hiền lành trong số đó nghĩ: "Ta không muốn những người này chết ngay trước mắt ta."
Thương xót họ, vào lúc mọi người đã ăn tối xong, đang ngồi trước cửa nhà chuyện trò vui vẻ, vị thần làm cho cả hòn đảo sáng rực, rồi khoác vẻ huy hoàng lộng lẫy, hiện ra lơ lửng trên không phía bắc, nói với họ:
— Hỡi các người thợ mộc! Các vị thần đang giận các người. Đừng ở lại chỗ này nữa, vì nửa tháng nữa các thần sẽ dâng nước biển lên, giết sạch các người. Vậy hãy trốn khỏi nơi này đi! Mười lăm ngày nữa, trăng rằm sẽ mọc. Khi ấy, từ biển, một cơn nước lớn sẽ dâng lên nhấn chìm hòn đảo lớn này. Hãy mau mau tìm nơi khác mà trú, kẻo nước hại các người.
Khuyên bảo xong, vị thần trở về chốn của mình.
Vị thần ấy vừa đi, một vị thần khác, độc ác, nghĩ: "Có lẽ bọn chúng sẽ nghe theo lời khuyên ấy mà trốn thoát mất. Ta phải ngăn không cho chúng đi, để chúng chết sạch."
Thế là hắn cũng khoác vẻ huy hoàng của thần linh, làm cho cả vùng sáng rực, rồi tới gần họ, lơ lửng trên không phía nam, hỏi:
— Có vị thần nào vừa tới đây phải không?
— Thưa có.
— Vị ấy bảo các người những gì?
— Thưa ngài, vị ấy bảo thế này thế này.
Hắn bèn nói:
— Vị thần ấy không muốn các người ở lại đây, nên mới giận dữ mà nói thế. Đừng đi đâu cả, cứ ở lại đây. Ta đã thấy rõ qua bao nhiêu điềm báo, rằng cơn nước biển lớn mà các người nghe nói đó sẽ chẳng bao giờ nhấn chìm hòn đảo lớn này. Vậy cứ vui chơi đi, đừng buồn, đừng sợ gì cả. Các người đã tìm được một chốn ở rộng rãi, đầy đủ mọi thứ ăn thứ uống. Ta chẳng thấy mối nguy nào cho các người cả. Hãy tới mà hưởng phúc này, đời đời con cháu.
Nói mấy lời trấn an ấy xong, hắn bỏ đi.
Hắn vừa đi, người thợ cả ngu dại chẳng thèm để tâm tới lời của vị thần hiền lành, liền lớn tiếng nói với tất cả thợ mộc:
— Các ông hãy nghe tôi đây! Vị thần đứng phía nam kia kêu lên rằng mọi sự đều yên ổn. Ta nghe được sự thật từ vị ấy. Còn vị phía bắc thì có biết gì đâu về chuyện đáng sợ hay không đáng sợ. Thế thì buồn làm gì? Cứ vui chơi đi, chẳng sợ gì hết!
Nghe vậy, năm trăm người thợ mộc tham hưởng thụ ngả theo lời người thợ cả ngu dại.
Nhưng người thợ cả khôn ngoan không chịu nghe theo. Ông nói với mọi người:
— Hai vị thần ấy kêu ngược nhau, một vị bảo phải sợ, một vị bảo cứ yên tâm. Vậy hãy nghe tôi khuyên, kẻo chẳng mấy chốc tất cả chúng ta đều chết sạch. Chúng ta hãy cùng nhau đóng một chiếc thuyền thật lớn, thật chắc chắn, rồi để sẵn trong thuyền đủ mọi thứ cần dùng. Nếu vị thần phía nam nói thật, còn vị kia chỉ nói lời dại dột, thì chiếc thuyền này cũng có ngày dùng tới, mà chúng ta cũng chẳng phải bỏ đảo này đi vội. Còn nếu vị thần phía bắc nói thật, vị phía nam chỉ nói điều dại dột, thì tất cả chúng ta cùng nhau lên thuyền, đi tới nơi nào an toàn. Đừng vội cho lời nghe đầu tiên là hay nhất hay dở nhất. Ai để mọi lời lọt vào tai, rồi suy xét kỹ càng mà chọn lấy đường giữa, người ấy sẽ cập được bến an toàn nhất.
Rồi ông nói tiếp:
— Nào, ta hãy làm theo lời cả hai vị thần. Ta hãy đóng một chiếc thuyền. Nếu lời vị thứ nhất là thật, ta sẽ leo lên thuyền mà đi. Nếu lời vị kia là thật, ta sẽ cất thuyền đi một chỗ, mà cứ ở lại đây.
Nghe vậy, người thợ cả ngu dại nói:
— Thôi đi! Ông thấy chén nước mà tưởng có cá sấu! Ông chậm chạp quá thể! Vị thần thứ nhất giận chúng ta nên mới nói thế, còn vị thứ hai thì thương chúng ta. Bỏ hòn đảo tuyệt nhất này thì ta còn đi đâu nữa? Nhưng nếu ông nhất định đi thì cứ dắt lũ đuôi của ông theo mà đóng thuyền. Chúng tôi chẳng cần thuyền bè gì hết!
Người thợ cả khôn ngoan cùng những người theo mình đóng một chiếc thuyền, chất đủ mọi thứ cần dùng lên, rồi cả đoàn người đứng sẵn trong thuyền.
Rồi đến ngày trăng tròn, lúc trăng vừa mọc, từ biển một con sóng dâng lên, tràn khắp hòn đảo, nước ngập tới đầu gối. Thấy sóng dâng, người khôn ngoan liền tháo dây cho thuyền ra khơi.
Phe của người thợ cả ngu dại, cả năm trăm gia đình, vẫn ngồi yên, bảo nhau:
— Con sóng dâng lên tràn qua đảo, nhưng sẽ chẳng sâu hơn thế đâu.
Thế rồi sóng biển dâng lên ngập tới thắt lưng, ngập quá đầu người, cao bằng một cây thốt nốt, rồi cao bằng bảy cây thốt nốt, cuộn qua khắp hòn đảo.
Người khôn ngoan, nhiều mưu kế, không bị lòng tham hưởng thụ trói buộc, đã ra đi bình an. Còn người thợ cả ngu dại, tham hưởng thụ, chẳng đoái hoài tới mối nguy về sau, đã chết cùng năm trăm gia đình.
Như những người thợ đi biển kia, nhờ việc mình làm mà thoát nạn giữa biển khơi trong niềm vui, người khôn ngoan thấu hiểu những gì còn ẩn giấu trong ngày mai, sẽ chẳng lầm lỡ chút nào. Còn kẻ dại, bị lòng tham gặm nhấm, không thấy những hiểm nguy sắp tới, sẽ bị nhấn chìm khi cơn nguy ập tới, như những người kia đã bỏ mạng giữa lòng biển cả. Vậy hãy làm việc cần làm trước khi cần tới nó, để lúc ngặt nghèo không thiếu thứ gì. Ai làm việc cần làm đúng lúc, thì khi thời khắc tới, sẽ chẳng bao giờ rơi vào khổ đau.
Đức Phật kể chuyện này khi Đề Bà Đạt Đa, kẻ vì tham lợi lộc mà hãm hại Ngài, đã sa xuống địa ngục cùng năm trăm gia đình đi theo hắn. Kể xong, Ngài cho biết: người thợ cả ngu dại thuở ấy là Đề Bà Đạt Đa, vị thần độc ác đứng phía nam là Cù Ca Lê, vị thần đứng phía bắc là Xá Lợi Phất, còn người thợ cả khôn ngoan chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích