Phần 2
Bà đi rồi vừa được ít ngày, một đêm kia ông vì buồn bực, thốn thức bồi hồi, nằm không yên giấc, nhơn nghĩ lại từ ngày ông mới để bước vào đường đời cho tới nay, đã hơn ba mươi mấy năm trời, ông nếm đã đủ mùi, ngọt, bùi, cay, đắng, chua, chát, mặn, nồng; đến nay tuổi quá tri-thiên rồi mà hãy còn gặp cơn gian khổ, phải bước truân chiên, nên ông ngụ ý đặt ra một bài thi, rồi ngồi dậy bước lại thơ-phòng, lấy giấy mực viết ra như vầy:
Khuấy khỏa làm chi hỡi Hoá-công?
Ba mươi năm mấy chữa vừa lòng,
Tuổi xanh luốn chịu đều cay đắng,
Tóc bạc còn mang tiếng mặn nồng,
Thân phận đã dày cơn gió bụi:
Công danh chưa toại chí tang bồng,
Xiết bao xô đẩy người như thế:
Không lẽ mà ông khuấy tới cùng.
Ông viết rồi vừa đọc vừa ngâm một mình, chẳng dè Thu-Cúc cũng vì lo buồn mà ngủ chẳng yên, còn đương mơ màng, bỗng nghe tiếng cha ngâm thi, liền ngồi dậy lóng tai nghe rõ hết đầu đuôi, vùng sa nước mắt, bèn bước ra rĩ rén thưa rằng: «Chừ trời cũng đã khuya rồi, sao cha chưa nghỉ, còn thức làm chi cho mệt vậy cha?» Ông đáp rằng: «Cha nhơn buồn lòng, nên ngụ ý mà nghĩ ra được một bài thi, nên phải rán viết ra đây, kẻo sợ để sáng ra ngày mai rồi mà quên mất đi thì uổng lắm.» Và nói và lấy bài thi trao ra cho Thu-Cúc xem. Thu-Cúc vói tay tiếp lấy bài thi đọc đi đọc lại và suy nghĩ một hồi lâu rồi thưa rằng: «Luôn đây con cũng nghĩ được một bài, song chẳng phải là con họa vận; con lấy theo điệu liên-huờn mà nối với bài thi của cha, họa may có nhờ cái hơi phù hứng trong đấy mà về sau cha con ta có thể phục hồi cựu nghiệp lại chăng? Vậy xin để con viết ra cho cha xem, ngõ nhờ cha phủ chánh.» Nói rồi liền lấy giấy viết ra, bài thi ấy như vầy:
Tới cùng rồi ắt có ngày xong,
Người phải trời đâu nỡ phụ lòng;
Xô đẩy thế nào rồi lại đỡ,
Lấp ngăn cho mấy cũng là thông,
Lá lay trối kệ loài đen bạc,
Son sắt lòng ta cứng tợ đồng.
Thẳng rẳng đường đời xăm xúi mãi;
Còn khi may gặp hội mây rồng.
Ông xem hết bài thi rồi day lại ngó Thu-Cúc mà nói rằng: «Trọn bài thi của con làm đây cũng là khá, duy có cặp luận, con đối chưa được mấy chỉnh; nhưng đó cũng bỡi cái lòng của con, vì quá ghét những lũ vong ân bội nghĩa, phản phúc tiểu-nhân, nên nó lộ ra trong hai câu thi ấy; thôi, cũng nên để vậy, chớ chẳng cần phải tô điểm lại làm chi mà làm cho mất cái tinh-thần của con trong cơn cảm hứng.»
Lúc ấy Xuân-Lan cũng vừa thức dậy, nghe cha với chị mình còn đang luận thi, bèn vội vàng chổi dậy đi nhúm lửa lò, bỏ than quạt lửa, nấu nước pha trà rồi đem cho cha uống. Ông vừa uống trà vừa nhìn sửng hai cô con, rơi đôi giọt lụy mà nói rằng: «Hai con ôi! Cha vẫn yêu thương chị em con lắm, bấy lâu một bước cha chẳng nỡ lìa, đến nay mà vận nhà điên đảo, gặp lối hiễm nguy, cái thế nó buộc cha con ta phải tạm lìa nhau; vậy trước khi cha để bước lên đường, cha có mấy lời dặn bảo chị em con đây, chị em con phải chữ dạ ghi lòng mà giữ gìn cho tròn danh-giá; ấy là một đều cha ước mong hơn hết. Vã em con là Trọng-Liêm vẫn còn thơ ấu, khờ dại chẳng biết chi, chớ như hai chị em con đây tuổi đã trộng rồi, cũng vừa đúng cái thời-kỳ nghi-gia nghi-thất; theo lẽ thường thì lúc nầy là lúc cha mẹ phải kềm thúc giữ gìn, chớ chẳng nên rời ra trong giây phút; nhưng mà, đó là những con-gái nhà tầm-thường kia, chớ như hai chị em con là gái biết đều, nói ít hiểu nhiều, cha cũng khỏi lo cho lắm.» Nói tới đây ông liền nhìn sửng Thu-Cúc một hồi rồi ông lại lau nước mắt mà nói rằng: «Nầy con, còn một việc nầy nữa là một việc rất quan hệ về cuộc trăm năm của con mà bấy lâu cha thấy con vẫn còn thơ-ấu, mãng lo ăn học, nên cha chưa tỏ cho con hay, đến nay con cũng đã khôn lớn rồi, lại thêm cha con ta cũng gần phải lìa nhau; vậy thì cha cũng nên nói cho con rõ mà giữ gìn danh-tiết cho nhà người. Nguyên lúc con còn ăn học trong trường, cha nhơn thấy thằng Phan-quốc-Chấn là con trai của anh Phan-mẩn-Đạt, thông-minh dĩnh ngộ, hữu quốc-sĩ chi phong; lúc nó chưa đi du-học bên nước Pháp, thì nó vẫn thường theo cha nó tới lui cơm nước nơi nhà mình, tưởng khi con cũng đã thấy biết nó rồi. Bỡi vậy cho nên cha đã hứa hôn với cha nó mà định gả con cho nó. Nay tuy là rủi vì tai biến của cha nó mà liên lụy cho tới nhà mình thì mặc dầu, song ta cũng phải giữ gìn lời hứa cho trọn trước trọn sau; chớ chẳng nên học cái thói giả-man, hễ mỗi lần đi làm sui, thì cứ xách cái bàn toán ra mà tính trước, chừng thấy người lỡ bước sẫy chơn rồi ngã lòng thối chí; ấy là một đều mà bình-sanh cha vẫn ghét lắm đa con. Thôi, cha cũng chẳng cần phải nói chi cho nhiều nữa; cha chỉ xin hai chị em con phải biết rằng người đời họ thường lấy bạc tiền mà làm sự-nghiệp, còn cha con nhà mình đây thì chỉ có lấy cái thanh-danh mà làm sự-nghiệp đó thôi; ấy vậy phận hai con là gái, thì phải trọng lấy tiết trinh, làm làm sao cho trong như giá trắng như ngần; được như vậy thì chẳng những hai con đây là một cặp ngọc báu của nhà mình, mà lại cũng là một đôi gương lành của Việt-Nam Xả-hội đó đa hai con à!» Lúc bấy giờ, hai chị em Thu-Cúc với Xuân-Lan, tuy đã thoát cái thường-tình nhi-nữ thì mặc dầu; song mà, vì phụ-tử tình-thâm, cho nên trong cơn tử-biệt sanh-ly, dầu cho có thiết thạch tâm trường, cũng khôn ngăn giọt lụy. Khi Xuân-Lan nghe ông nói dứt lời, liền khóc tấm-tức tấm-tưởi mà hỏi rằng: «Chẳng hay cha tính đi đâu? Trú ngụ xứ nào, xin nói cho chị em con biết, phòng sau cho tiện bề tin-tức viếng thăm.» Ông nghe lời hỏi rất chơn thành, bèn lau nước mắt vuốt ve con mà nói rằng: «Xuân-Lan con ôi! Bốn biển là nhà, cha chưa biết đâu mà định trước; cha chỉ khuyên con có một đều là phải chữ dạ cho bền mà ghi nhớ những lời của cha đã đinh ninh dặn bảo, chớ như cha đi phen nầy đây, có lâu lắm là một năm, bằng mau nữa cũng năm bảy tháng, dầu thế nào cha cũng ráng lo cho phu thê phụ tử đoàn viên; hai con hãy an lòng, để cho cha dời gót.» Xuân-Lan nghe vậy liền ôm cứng cánh tay cha, khóc nứt-nở và nói rằng: «Cha ôi! Lời cha đã ân cần dạy bảo, thì chị em con phải tạc dạ ghi xương, ngặt có một đều là mẹ con đi đã trót tuần, chưa nghe tin tức ở đâu, nay cha lại đành bỏ chị em con mà đi nữa; mà cha cũng chưa quyết định cư xử nơi nào, ôi! Thế thì, từ đây góc biển ven trời, nắng mưa thui thủi quê người biết đâu. Thoản như trong cơn mưa gió, may rủi lẽ nào, thì chị em con mới biết đâu mà thăm viếng.» Nói tới đó rồi lại khóc mùi; làm cho ông cũng phải động lòng mà rưng rưng nước mắt. Thu-Cúc cũng sụt sùi lụy ngọc, bước tới thưa rằng: «Cha ôi! Nay cha phải lìa chị em con mà đi lánh nạn, vậy thì từ đây thiên các nhứt phương, mẹ cha góc biển, con cái ven trời; từ xưa đến nay, thật con chưa hề thấy cái thãm-cảnh nào như cái thãm-cảnh của cha con ta lúc nầy. Tuy vậy, song chị em con cũng phải nhắm mắt đưa chơn, ôm lòng mà chịu, chớ biết sao bây giờ. Nhưng con chỉ có lo là lo cho cha già yếu, tuổi quá tri-thiên, nơi xứ lạ quê người, khi ương yếu biết lấy ai mà nương cậy.» Thu-Cúc nói tới đây nước mắt chan hòa, liền úp mặt trong mình cha mà khóc mùi khóc mẩn, chẳng nói chi được nữa. Lúc bấy giờ, dầu cho quan Huyện mà có cái gan bền như sắt, ruột cứng tợ đồng đi nữa, cũng phải xiêu lòng, vì con mà rưng rưng giọt lụy.
Còn đương bịnh rịnh, đồng-hồ đã gõ 3 giờ, ông liền lau nước mắt, lấy lời nghiêm chánh mà khuyên giải con rằng: «Hai con ôi! Hai con đừng bận biệu làm chi, vã người sanh trong Hoàn-võ, bi hoan ly hiệp là lẽ thường; thôi, hai con hãy an lòng, để cho cha dời gót.» Miệng ông tuy nói vậy, mà lòng ông cũng vẫn ngùi ngùi, còn hai cô con thì giọt lụy sụt sùi, ruột đau từ đoạn.
Ấy mới thật là:
Đau lòng kẻ ở người đi,
Lụy rơi thấm đá, tơ chia rã tằm.
Khi ông đi rồi, chẳng mấy ngày thì sự-nghiệp cữa nhà của ông đều bị phát mải hết, mà trừ cũng chưa đủ số nợ ấy, thật khổ biết dường nào! Thật là cuộc đời dời đổi, thương hải tang điền; một cái cảnh gia-đình của ông xem rất vẽ vang, trong vui ngoài đẹp như vậy; bỗng nhiên vùng đất bằng sóng dậy, trong một phút mà phải tiêu điều; những kẻ có lương-tâm, thấy cái cảnh-tượng như vầy, ai mà chẳng đau lòng xót dạ.
Lúc nầy Thu-Cúc với Xuân-Lan cũng nhờ có chút đỉnh bạc tiền của ông để lại, bèn đem ra mua một cái nhà tranh cũng gần lối đó, chị em khuya sớm hủ hỉ với nhau, thêu gối mạng khăn bán lấy đồng tiền mà đấp đổi với nhau và nuôi em là Trọng-Liêm ăn học.
Mà thật cũng ngán cho cái thói đời, lúc ông mới về tạo lập gia-cư, trong nhà thì tôi trai tớ gái đã rần rần, ngoài ngỏ những khách quí bạn sang thêm rộ rộ. Đến nay nhà ông rủi mà gặp hồi lưu-ly điên-bái, sa cơ thất thế đi rồi; ối thôi! Một khóm lều tranh không kẻ đoái, hai gian nhà lá chẳng ai màng. Thật rõ ràng là:
Nhơn-tình tợ chỉ trương trương bạc,
Thế sự như kỳ cuộc cuộc tân.
Một đêm kia, hai chị em chong đèn đem mặt gối căng ra, rồi ngồi lại vừa thêu vừa trò chuyện với nhau, nhơn nhắc tới những chuyện đâu đâu, xiết bao trăm thãm ngàn sầu, dòm lại trong nhà, vắng trước quạnh sau, liền nhớ tới mẹ cha, vùng sa nước mắt.
Ôi! Xưa sao nhiều kẻ ra vào?
Chừ sao vắng trước quạnh sau một mình.
Một chặp lâu Xuân-Lan bèn lau nước mắt rồi nói với Thu-Cúc rằng: «Nè chị! Hồi mình còn ở đằng cái nhà ngói lớn của mình đó, đã có cha mẹ mình ở nhà, lại thêm bạn bè rần rần rộ rộ, lúc ấy em thấy những bạn hữu của cha mình sao mà họ tới tới lui lui thường quá; mà ông nào ông nấy coi bộ cũng anh anh em em, làm ra như tuồng thân-thiết với cha mình lắm vậy. Thật hồi đó em mảng lo có một việc cơm cơm nước nước mà mệt đa chị. Rồi bây giờ sao không thấy mấy người ấy họ tới lui nữa, có nhiều khi em đi chợ, em cũng có gặp họ, mà họ lại ngó ngang, họ coi em như kẻ thù của họ, chớ họ không có mừng mừng rở rở và kêu em bằng cháu cháu con con như hồi đó vậy nữa đâu chị à! Thật cái nhơn-tình gì mà vô doan quá chị há!» Thu-Cúc nghe Xuân-Lan nói mấy lời, liền chíp miệng mà than rằng: «Nhơn-tình lãnh noản, thế-thái viêm lương, hơi sức đâu mà nói cho mệt vậy em! Nhưng, cũng có một hai người vẫn còn nghĩ tình giao hảo với cha mình mà chiếu cố chị em mình đó là những người trung hậu quân-tử, hữu thỉ hữu chung. Chớ còn nói chi những bọn phàm-phu tục-tử, phản phúc tiểu-nhân, hễ lúc thạnh thời thì nó lân la lui tới, xu phụ phùng nghinh, nào là rượu thịt, nào là cơm canh, chị chị anh anh, tình thân-mật biết bao là khắn-khít. Tới hồi vận bỉ, hễ nó nghe chừng có sa sút lẽ nào, thì chẳng những nó đã lánh xa, lại còn khua môi uống lưỡi, kiếm chuyện dèm pha, nói chùng nói lén, khi bạc dể duôi, thêm thừa thêu dệt, chiết bác người, làm cho hư danh-giá của người, cho vừa cái lòng gian ngoan giả dối của nó; ấy là loài nhơn diện thú tâm, nói sao cho xiết. Lúc đó chị thấy những bọn ấy thường tới lui bợ đở, làm ra tuồng anh em thân-mật, đặng có cậy cha mình giùm giúp cho chúng nó những việc nọ việc kia, thì chị biết nó là bọn dĩ-lợi-giao, bọn dối giả bề ngoài, nên chị có lấy câu: Luận giữ thị đốc, quân-tử giả hồ? Sắc trang giả hồ? mà khuyên can cha mình đừng có chơi bời giao thiệp với chúng nó làm chi, thì cha mình lại cười mà nói với chị rằng: «Cha vẫn biết chán hơn con, đợi gì con phải nói. Nhưng, cha nghĩ cái câu: Điểu thú bất khả giữ đồng quần, ngô phi tư nhân chi đồ giữ, nhi thùy giữ? Bỡi vậy cho nên cha phải lấy theo cái độ lượng của đức Phu-Tử mà đối đãi với người đời, chớ hơi sức đâu mà cố chấp lắm vậy con.» Cái lời nói ấy đến nay vẫn còn văng vẳng bên tai; thật chị nghĩ lại cái độ-lượng của cha mình thinh thinh như biển, đối với quân-tử cũng xong, mà đối với tiểu-nhân cũng được. Thôi, chừ trời cũng đã khuya rồi, hãy dẹp đồ đi mà nghỉ ngơi cho sớm em.»
Lần hồi ngày tháng tợ thoi đưa, bóng thiều-quang như tên bắn, từ ngày quan Huyện để bước lên đường, lật bật mà tính đã ngoài hai tháng.
Bữa nọ chị em đương ngồi trong nhà, vùng nghe tiếng chó sủa vang, ngước mặt ngó ra thấy có tên trạm ở ngoài sân bước vào, trao một phong thơ. Xuân-Lan tiếp lấy, thấy chữ đề ngoài bao, nhìn biết là tuồng chữ của cha mình, chị em mừng rở vô cùng, liền xé ra đọc chung với nhau.
Bức thơ ấy như vầy:
Tây-ninh, le: 192...
«Mấy con yêu dấu ôi!
«Từ ngày cha xa cách mấy con, thắm thoát mà đã quá hai trăng rồi, từ ấy nhẩng nay, chẳng có giờ phút nào mà cha không áo não âu sầu, nhớ thương con trẻ; nỗi lo cho phận mẹ con, nương náu nơi nhà người, đói no ấm lạnh, nỗi lo cho phận trẻ ở nhà, hiêu quạnh trước sau, nỗi lo cho cái tiền-đồ của cha sau nầy chưa biết rủi may may rủi lẽ nào; vì vậy mà nó làm cho cha thân tâm lưỡng địa, tình chữ đa đoan; ngổn ngang trăm mối bên lòng, vơi vơi đất khách não nồng cố hương. Thật đương đứng trong cái cảnh cùng sầu nầy, dầu cho hình đất tượng cây, cũng phải nhăn mặt nhíu mày; huống chi cha là một người đa sầu đa cảm.
«Một đêm kia, mấy ông bạn của cha, ban đầu còn khuyên giải chuyện trò, sau lần lần trời đã khuya rồi, mấy ổng đều ngáy pho pho, mê man giấc điệp.
«Lúc bấy giờ, còn cha ngồi đó trơ trơ, một người một bóng, lo tới tính lui, đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời. Cha nhơn lấy cái cảnh buồn nầy mà ngụ ra một bài thi, nên cha gởi luôn về cho mấy con, để tỏ tấm lòng hoài cảm.
«Thi rằng:
«Mấy bước quan-san mấy bước sầu,
«Ngồi đây mà tưởng chuyện đâu đâu,
«Tấc lòng bận-bịu chia đôi ngã,
«Trăm mối ngổn-ngang chứa một bầu,
«Chúng bạn mê man rền tiếng ngáy,
«Mình ta trằn trọc trót canh thâu,
«Biết ai gởi phứt nùi tâm sự;
«Còn chác làm chi cái bịnh rầu.
«Nói cho phải, từ hôm cha lên ở đây tới nay, những anh em chúng bạn họ thấy cái tình-cảnh của cha gian-truân như vậy, họ sợ cha buồn rầu mà sanh ra bịnh hoạn chăng; cho nên mấy ổng thường hay kiếm lời khuyên giải cha, nay rủ đi chỗ nầy, mai kêu đi chỗ nọ, hoặc xơi trà mà đàm luận việc đời, hoặc ngồi ngựa mà đi giạo xem mấy nơi thắng-cảnh. Nhưng, đi thì đi vậy, chớ bề ngoài tuy cha cũng nói nói cười cười, cho vui lòng chúng bạn, mà bề trong cha vẫn cứ riêng tưởng một mình, dầu cho ai cũng vậy; đương lúc lưu-ly điên-bái như vầy, nếu có may mà được đến chốn Bồng-lai, được xem những kỳ hoa dị thảo, thủy tú san thanh đi nữa, thì trong lòng buồn vẫn cũng hoàn buồn, vì vậy mà cha lại nhớ tới câu:
«Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu?
«Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
«Rồi cha lại nhơn lấy câu ấy mà làm đề, ngụ ra một bài thi nữa, họa là nó có hã hơi chút đỉnh chi chăng. Nay cha cũng biên hết mà gởi về cho mấy con; đặng để làm kỷ-niệm cái ngày của cha con ta phải bước lưu-ly nầy.
«Thi rằng:
«Cảnh nào là cảnh chẳng đeo sầu,
«Người gặp lúc buồn cảnh cũng âu;
«Mây tỏa muôn chòm non núi ũ,
«Mưa sa mấy giọt cỏ hoa xàu,
«Vơi vơi lối cũ lòng ngao ngán,
«Thui thủi quê người dạ đớn đau.
«Thoản mảng nhớ thương ba trẻ dại,
«Trống thành nghe đã giục canh thâu.
«Nguyễn-Trọng-Luân.»
Hai chị em xem hết đầu đuôi rồi, nước mắt chảy ra dầm-dề, tấm lòng thương mẹ nhớ cha, chẳng có bút mực nào mà tả ra cho rõ được.
Chị em than thở một hồi, Thu-Cúc bèn lấy giấy mực họa vận theo bài thi sau để tỏ tấm lòng thương cha nhớ mẹ, ngâm đi đọc lại một hồi lâu rồi mới phong lại gởi lên cho cha.
Bài thi ấy như vầy:
Cảnh sao cảnh khéo giục cơn sầu,
Ngấm cảnh thêm buồn dạ phải âu:
Thơ kím theo mình lòng cũng toại,
Cỏ hoa trông chủ sắc như xàu;
Thương cha bảy lá gan chua xót,
Nhớ mẹ trăm chìu ruột quặn đau,
Kính lạy thung-đường xin bảo trọng:
Đất đông dầu mất đất dâu thâu.
Bất-hiếu-nữ, Thu-Cúc,
phụng hòa nguyên vận.
Chẳng dè cái nhà của quan Huyện, đương gặp hồi vận bỉ, tai nạn dập dồn, hết nạn nầy tới nạn kia, thật là Tạo-vật khéo khuấy người, chua cay cho đến thế. Trong lúc hai ông bà, đều đi lánh nạn, còn công-tử Trọng-Liêm cũng mắc đi học, ở nhà chỉ còn có hai chị em Thu-Cúc với Xuân-Lan là gái đương chừng sen-ngó đào-tơ; những quân lang-tử giả-tâm, thấy vậy nên mới đem lòng khi dể, ban đầu nó còn cậy mấy con mẹ đờn-bà dài cằm rộng miệng, lần mò lui tới lân la, kiếm những lời nói rất êm tai mát dạ, dùng những câu văn như giọng quyển tiếng kèn, mà phỉnh phờ dụ dỗ. Nhưng mà, hai chị em cô đều nhờ có nếm mùi học-thức; gia dĩ cái gia-đình giáo-dục của quan Huyện rất nghiêm-trang, rất đoan-chánh; hóa cho nên hai chị em cô đã ra mặt gái hiền, đức-hạnh hoàn toàn, nét trinh-bạch làu làu như ngọc đúc. Nhờ vậy mà những quân vô-loại ấy, dẫu cho cái miệng ngọt tợ đường, cái lưỡi bén như gươm đi nữa, cũng khó mà nói cho hai chị em cô xiêu lòng được. Sau thét đi rồi, chúng nó lại sanh cái thói giả-man, khoét vách rình hè, làm cho hai chị em cô chẳng có đêm nào mà dám ngủ cho yên giấc.
Một bữa kia, Thu-Cúc mới tính với Xuân-Lan rằng: «Nè em, chị thấy nhơn-tình nham hiểm, thế-đạo kỳ khu, mà chị ngán ngầm; nay chị nghĩ lại dầu cho chị em ta mà có rắn gan cách nào đi nữa thì ở đây cũng bất tiện, cho nên hôm trước đây chị đã lo gởi gắm Trọng-Liêm ăn học đã yên nơi yên chỗ rồi; vậy nay hai chị em mình phải cùng đi với nhau, thẳng lên Saigon, hoặc lên Tây-ninh mà tìm kiếm cha mẹ chẳng là tốt hơn, chớ ở đây tuy cũng có một vài ông bạn tri-thức của cha mình chiếu cố mặc dầu; nhưng mà trong lúc đêm vắng canh khuya, những loài lòng thú dạ lang nó bấu theo khoét vách rình hè mà khuấy nhiểu chị em mình mãi như vầy, thì mấy ổng có hơi đâu mà đề phòng cho châu đáo được; ý em nghĩ sao?» Xuân-Lan nghe nói nét mặt tươi cười, tấm lòng phới phở, mừng rở vô cùng, bèn đáp rằng: «Em vẫn cũng tính như vậy hổm nay, song em không biết ý chị thể nào, nên em chưa dám nói, nếu nay mà chị cũng có lòng như thế, thì rõ ràng là ý hiệp tâm đầu, tình thân-ái của chị em mình còn ai hơn nữa. Nè chị, mà em nghĩ lại thật chị em mình có phước quá chị há!» Thu-Cúc vẫn biết ý em, song cũng giả ý sửng sờ, bèn nghiêm nét mặt mà hỏi rằng: «Sự-nghiệp nhà mình nay đã tiêu điều, sao em còn gọi rằng có phước?» Xuân-Lan cười chúm chím mà đáp rằng: «Chị khéo hỏi mắc em thì thôi đa! Vậy chớ mọi lần chị dạy em những gì, mà nay chị lại hỏi em như vậy? Sự-nghiệp dầu còn dầu mất ấy là tại lẽ trời, huống chi tiền tài là thân ngoại chi vật, mất còn còn mất cũng chẳng sá chi; vì con người ta ở đời, chẳng phải là lo nghèo, một lo không có đức hạnh mà thôi chớ! Chí như cha mình thật là một người đạo đức hoàn toàn, cư xử với con, lòng dạ rất hiền từ; cha như vậy thì rất dễ cho chị em mình hiếu thuận, vậy nên em mới gọi là có phước. Chớ còn nói chi những kẻ bạo tàn, tánh tình lổ mảng, ăn nói dọc ngang, cờ bạc rượu trà, say sưa vất mả, đối đãi với vợ con rất là khắc bạc; những kẻ như vậy, dẫu cho có con mà thật đại hiền đại hiếu như vua Thuấn đi nữa, cũng khó mà ở cho hiếu thuận được; phải vậy không chị? Bỡi em so sánh như vậy, nên em yêu thương cha mình thật là vô hạn. Nay nghe chị tính dắc nhau đi tìm kiếm mẹ cha, thì em mừng lắm, vậy thì chị em mình hãy lo thu xếp việc nhà, đặng có tính đi cho sớm nghe chị.»
Chị em bàn tính xong xuôi, bèn gởi nhà cữa lại cho một bà già hàng xóm, rồi dắc nhau ra đi. Lên tới Saigon tìm kiếm trót tuần mà không nghe tin tức mẹ cha ở đâu cả. Hỏi thăm ông Phan-mẩn-Đạt, thì người ta lại nói ông vì nhà cháy mà buồn, nên phải ra Vủng-tàu mà chơi cho giải muộn; ông đi nay cũng trót tuần, mà chưa thấy ông về. Chị em bơ ngơ báo ngáo, liền nhứt định tháp tùng xe ô-tô đưa bộ-hành, tuốt lên Tây-ninh mà kiếm.
Khi lên đến nơi rồi thì hai chị em cứ hỏi thăm tìm tới mấy nhà anh em quen thuộc của cha mình, chắc sao hai ông bà nếu còn tại Tây-ninh thì ắt ở nơi mấy nhà người ấy.
Chẳng dè hỏi thăm ba bốn nhà quen mà ai ai cũng đều nói y có một lời rằng ông lên ở đó đã hơn hai tháng, còn bà thì lại xuống Bacliêu. Nay lại nghe ông tính hiệp với Phan-Công mà ra Bắc, nên ông đã trở xuống Saigon hổm nay cũng hơn trót tuần rồi, song không biết hai ông đã cùng nhau xuống tàu hay chưa. Hai chị em nghe nói hổi ôi, hai hàng nước mắt rưng rưng, khó đứng khôn ngồi, lấy làm thất vọng. Phần thì trong lưng tiền bạc chẳng có bao nhiêu, mà hổm nay lớp đi tàu lớp đi xe, cũng gần muốn hết. Lúc bấy giờ, hai chị em không biết liệu thế nào, tới khôn đường tới, lui khó nẻo lui, dùng dằng dở ở dở về, rất nên khốn đốn, Xuân-Lan bèn nói với chị rằng: «Em có nghe người ta đồn đãi rằng Bà trên núi Điện rất linh, vậy thì tiện đây hai chị em mình cũng nên lên đó mà xin một lá xăm, thử coi cha mẹ mạnh giỏi thể nào và cha đã xuống tàu ra Bắc hay chưa, cho tiện bề tìm kiếm; chị nghĩ sao?» Thu-Cúc bình sanh ít hay tin những việc xin xăm hỏi bói, mà nay vì lòng quá thương cha mẹ, nên cực chẳng đã, phải thuận theo lời em, bèn mướn một cái xe kiến đi lên núi Điện.
Vào tới chơn núi rồi, thấy có một cái xe mui cũng đậu tại đó, lại nghe tên đánh xe của mình kêu tên đánh xe bên kia mà hỏi rằng: «Anh đi với bà phải không anh?» Tên kia trả lời có một tiếng rằng: «Ừ», mà thôi. Hai chị em nghe vậy thì liệu biết cái xe ấy là xe của một bà nào sang trọng chi đây, song cũng chẳng lưu ý đến làm chi, cứ việc xuống xe rồi dắc nhau đi bộ lần lần lên Điện.
(Chẳng dè cái xe ấy là một cái xe rất có nhiều duyên-cớ, rất có quan-hệ với cái tiền-đồ của hai chị em. Nhờ nó mà hai chị em được bảo tồn danh-giá, nhờ nó mà hai chị em được no dạ ấm thân; nhờ nó mà hai chị em khỏi lở bước trái chơn, lưu linh đất khách; nhờ nó mà cái kết cuộc của hai chị em sau nầy rất may mắn, rất vẽ vang, biết bao là hạnh phước; ấy là cái xe của một vị cứu-tinh của hai chị em mà không ai ngờ đó).
— Hết chương 2 —
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương