Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Lòng người nham hiểm — Phần 4

Lòng người nham hiểm · Chương 4/6 · của Nguyễn Chánh Sắt

⏱ 23 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 21.763 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04«Kính bà,
  2. 2:13«Đa tạ, đa tạ.
  3. 5:05Hoàng. — Chuyện chi vậy?
  4. 6:46Lê. — Tôi thấy thầy tới lui nơi nhà…
  5. 9:12Bà Phủ bèn đam hết các việc từ ngày…
  6. 11:56Lê-xuân-Kỳ bèn dùng dịp ấy, bày đều nói láo…
  7. 20:12Thiệt là: Rồng nằm nước cạn tôm lờn mặt,
  8. 22:21Song ngồi mà nghĩ lại từ ngày ta lên…

Phần 4

«Kính bà,

«Con mới vừa tiếp được một bức thơ rất quí trọng và một tờ măn-đa mười hai ngàn quan của bà đã có lòng tốt gởi qua để giúp con ăn học cho tới ngày thành đạt. Thật con rất đội ơn bà là một người nghĩa trọng như san, vừa hào-hiệp vừa nhân-từ, đã cứu người lạc nạn mà bảo tồn danh-giá cho mấy chị em Thu-Cúc tiểu-thơ, lại còn đam lòng trắc ẩn, đoái thương kẻ du học viển phương mà giúp đỡ con trong cơn khuẩn bức nơi xứ lạ quê người. Thật cái ơn trọng nầy ví tợ non sông, dầu cho phần cốt toái thân đi nữa, con cũng quyết kết cỏ ngậm vòng, chờ ngày đền đáp. Bà lại còn hứa rằng nếu ngày nào con còn thốn thiếu mà gởi thơ cho bà hay, thì bà cũng sẵn lòng gởi cho thêm nữa. Ôi! Thật là thiên cao địa hậu, muôn kiếp ghi xương. Nhưng con nghĩ vì nhà con thuở nay chưa hề có tới lui ơn nghĩa chi với nhà bà, nay bà vì quá thương cô Thu-Cúc mà ái ốc cập ô, gởi cho con một số bạc quá to, thì con đà quá vọng rồi; lẽ đâu con lại còn dám đèo bòng trông mong chi nữa mà làm rộn cho bà phải nhọc công tốn của nữa sao? Huống chi nay con học nghiệp cũng gần thành, tiền học-phí còn chừng năm ngàn quan là đủ, còn dư lại bảy ngàn, con sẽ tiện tặn mua sắm chút đỉnh sách vở cùng những vật cần dùng. Chỉ tồn lại bao nhiêu, con sẽ đem gởi cho nhà Băng, để dành làm lộ-phí nơi ngày con trở về cố quốc cũng đã đủ rồi. Vậy xin bà chớ có để ý cho con về sự tiền bạc nữa làm chi mà lao phiền quí-thể.

«Sau nữa con cũng xin bà đoái thương đứa sĩ cùng là một đứa con bất-tiếu Phan-quốc-Chấn nầy mà lưu tâm dọ giùm tin tức của hai ông lão nhà con, mạnh giỏi thể nào rồi cho con hay, thì con lại càng tạc dạ ghi xương, cám đội ơn bà vô cùng vô tận.— Luôn dịp con kính gởi một tấm tiện-ảnh của con đây, gọi là tỏ chút chơn-thành mà dâng cho bà để làm kỷ-niệm; cúi xin bà vui nạp cho con.

«Vắn tắc mấy lời thành thật, con kính chúc cho bà hai chữ vạn an.

«Phan-quốc-Chấn bá bái kính thơ.»

Phía sau rốt bức thơ, chàng lại gạnh thêm mấy hàng mà ngỏ cùng Thu-Cúc như vầy:

«Thu-Cúc quí-nương nhã giám,

«Mấy lời kim thạch, khắc cốt minh tâm,

«Đa tạ, đa tạ.

«Phan-quốc-Chấn bái.»

Viết xong, đọc đi đọc lại đôi ba lần rồi mới niêm phong đem bỏ vào thùng thơ mà gởi về Nam-kỳ cho bà Phủ.

Cách chừng một tháng ngoài thì bà Phủ đã được thơ, bà mở ra xem hết đầu đuôi, thấy lời nói của chàng vừa trung hậu, vừa khôn ngoan, thì bà đà nứt nở khen thầm, đến khi bà xem tới tấm ảnh của chàng, hình dung tuấn tú, diện mạo khôi ngô, thì bà lại càng mừng lắm. Bà nhơn nghĩ rằng: «Nhà mình thì giàu sang, mà chồng lại bất hạnh mất sớm, con cháu cũng không ngơ, hôm sớm một mình, vào ra tròi trọi, nếu ngày nào mà ta nhắm mắt đi rồi thì sự nghiệp nầy thiên hạ họ chia phay; thế thì có phước cũng như vô phước. Ngồi mà nghĩ lại thật ta cũng buồn cười cho những người bỏn sẻn làm lụng cả ngày, tay lấm chơn bùn mà ăn chẳng dám ăn, mặc không dám mặc, năm chí cuối chỉ cứ khu khu làm mọi giữ của cho đời, đến khi tới số vô thường rồi, thì đi lại cũng nắm hai bàn tay không. Chí như ta đây, vì nhà không con cái, đã cam phận thiệt thòi; có dè đâu mà trời chẳng phụ người hiền, khiến cho ta gặp được hai đứa con, tuy là gá nghĩa minh-linh, nhưng mà sánh với kẻ khác, dầu cho con ruột cũng không bì kịp, cả hai đều tánh tình hiếu thuận, cử chỉ khoan hòa; thật là quan Huyện Nguyễn-trọng-Luân đã khéo sanh con mà cách dạy con cũng khéo. Nay hai chị em nó đã chịu tiếng làm con ta rồi, thì ta cũng nên chọn cho được một đôi giai-tế mà sánh với cặp nầy thì mới là thỏa mản. Mới đây ta gặp Hoàng-hữu-Chí thì ta đã chấm được một đứa rể hiền rồi, nay ta thấy thơ và hình của Phan-quốc-Chấn đây nữa thì cũng là xứng đáng; thật rõ ràng là một nhà con thảo rể hiền, song song hai cặp giai-nhân tài-tử. Nếu ngày nào mà đôi lứa ấy được thành, thì vợ chồng quan Huyện biết bao là toại chí; mà rồi ta đây cũng có người ỷ lại về sau, vì ta tuy không sanh mà có dưỡng, sanh dưỡng cũng đạo đồng; huống chi ta đã chẳng tiếc bạc ngàn mà tác thành cho bốn trẻ, thì có lý nào mà ngày sau chúng nó lại chẳng nghĩ ta, mai sau dầu bóng xế nhành dâu, ắt có kẻ quạt nồng đấp lạnh; thế thì từ đây ta đã khỏi lo đều tịch mịch rồi.»

Bà Phủ thì trong lòng thầm tính như vậy, còn Hoàng-hữu-Chí thì lại khác, vì chàng-ta thấy nhà bà giàu sang, sợ e nếu cưới con bà thì chi cho khỏi cô ấy ỷ của mà khinh thị mình, nên nhứt định không chịu cưới con nhà giàu-có.

Bữa kia, nhằm ngày chúa-nhựt, Hoàng-hữu-Chí đang ngồi trong nhà, xãy có một thầy thông-ngôn dây thép bước vào hai đàng bắt tay chào hỏi rồi mới ngồi lại chuyện vản với nhau. (Nguyên thầy thông nầy tên là Lê-xuân-Kỳ vẫn có quen với Hoàng-hữu-Chí).

Hoàng-hữu-Chí hỏi: «Hôm nay thầy đến đây mà chơi, hay là có việc chi chăng?»

Lê-xuân-Kỳ nói: Bữa nay nhơn rảnh tôi đi dạo chơi, tiện đường nên ghé thăm thầy và cũng có ý muốn hỏi thăm thầy một chuyện.

Hoàng. — Chuyện chi vậy?

Lê. — Tôi đổi lại đây đã hơn năm sáu năm rồi, tôi vẫn biết nhà bà Phủ Ân lắm, hồi tôi mới lại thì ông Phủ vẫn còn, tôi không thấy hai ông bà có con cái chi hết. Mà sao cách mấy tháng nay lại có hai cô thiếu-nữ nào đó, xinh đẹp vô cùng, đến ở trong nhà bà, mà lại kêu bà bằng má; thật cũng là kỳ!

Hoàng. — Đều ấy cũng chẳng lạ gì, vì tôi nghe hai cô ấy đều có học-thức cả, hoặc lúc thầy mới đổi lại thì hai cô ấy còn mắc ở học trong Nữ-học-đường Saigon, nên thầy không biết chăng.

Lê. — Không mà! Tôi có hỏi thăm mấy người gốc gát nhau rún tại đây, thì họ cũng đều không biết và cũng lấy làm lạ như tôi vậy hết nữa mà!!

Hoàng. — Uả! Sao thầy không hỏi họ lại cho kỷ thữ coi?

Lê. — Có chớ! Mà không ai hiểu hết, nên tôi mới lấy làm lạ chớ!! Lại mới hôm tháng trước đây, bà đi với một cô trong hai cô ấy đến nhà dây-thép mua một cái măn-đa tới mười hai ngàn quan mà gởi qua bên tây cho một cậu học-sanh nào đó tên là Phan-quốc-Chấn. Tôi có dọ kỷ thì cậu học-sanh ấy cũng không phải là con cháu chi của bà, thật là người dưng đặt sệt, không hiểu vì sao mà bà lại gởi tiền mà cho nhiều quá vậy?

Hoàng-hữu-Chí nghe nói tới tên Phan-quốc-Chấn thì biết là bạn-hữu của mình, song chẳng muốn cho Lê-xuân-Kỳ biết rõ làm chi; mà cũng không hiểu duyên cớ làm sao mà bà Phủ Ân lại gởi tiền cho ảnh. Bèn ngồi lặn thinh mà suy nghĩ hoài. Lê-xuân-Kỳ thấy vậy phát nghi, liền hỏi rằng: Phan-quốc-Chấn nào đó, anh có biết chăng?

Hoàng. — Biết chớ! Phan-quốc-Chấn thì tôi biết, còn tại sao mà bà Phủ Ân lại gởi tiền mà cho thì tôi không rõ.

Lê. — Tôi thấy thầy tới lui nơi nhà bà Phủ cũng thường mà thầy không hiểu gì hết hay sao?

Hoàng. — Mình là người có học, mắc mảng có giữ cái lễ nghĩa, cho nên việc nhà của người ta không lẽ mình đi tọc mạch mà hỏi tới làm chi. Mà mình cũng chẳng phải là bọn dê rừng, hễ thấy sắc đẹp thì mê, mà cũng không phải là bọn tham tiền, thấy người giàu-có mà muốn cưới con gái của người đặng ăn của nên hòng hỏi thăm cho kỷ; vì vậy nên tôi không biết được gì hết.

Lê-xuân-Kỳ nghe Hoàng-hữu-Chí nói mấy lời thì có ý thẹn thầm, liền đứng dậy từ giã ra về; vừa đi vừa lầm bầm rằng: «Mình tưởng nó là anh em, nên hễ có chuyện gì lạ thì nói cho nó nghe, nó lại kiếm đều mà nói đâm hông mình, làm hơi người liêm-sĩ, nói rằng không ham cưới con gái nhà giàu. Thằng phách thiệt, mi để mi coi ta.» Từ đó mới sanh dạ oán thù Hoàng-hữu-Chí.

Nguyên Hoàng-hữu-Chí vẫn biết Lê-xuân-Kỳ là một tay tham tài háo sắc, kiến lợi vong nghĩa; cho nên bề ngoài tuy quen mà bề trong thì không thích. Khi thấy Lê-xuân-Kỳ về rồi thì cười thầm, rồi bỏ qua, không thèm để ý tới. Nhơn nghĩ lại một mình rằng: «Vã Phan-quốc-Chấn với ta là anh em bạn thiết, tâm đầu ý hiệp, thương yêu nhau, tin cậy nhau, lúc ảnh còn ở bên nầy thì ảnh thường chơi bời chuyện vãn với ta, bà con cô bác của ảnh những ai, ta đều biết hết, mà không hề nghe ảnh nói tới tên bà Phủ Ân nào ở Tây-ninh bao giờ! Sao bà Phủ lại biết ảnh mà gởi bạc tiền cho ảnh? Hoặc là bà có bà con gì với ảnh hay sao mới vậy chớ! Thôi, để bữa nào ta giả đến thăm bà, rồi ta sẽ lần hồi dò la thử coi cho biết.»

Một bữa kia, nhằm ngày thứ năm, Hoàng-hữu-Chí nhơn nghỉ dạy, bèn đến thăm bà Phủ, rồi hỏi thăm qua việc Phan-quốc-Chấn rằng: «Cháu xin vô lễ mà hỏi thăm bà một việc, chẳng hay Phan-quốc-Chấn là người bà con hay là con cháu chi của bà?» Bà Phủ nghe hỏi như vậy cũng lấy làm lạ bèn hỏi lại rằng: Uả! Sao thầy biết Phan-quốc-Chấn?

Hoàng. — Dạ, bẩm bà, Phan-quốc-Chấn là anh em bạn thiết của cháu.

Bà Phủ. — Vậy sao? Cơ khổ dữ chưa! Vậy mà xưa này tôi có dè đâu. Thầy quen với nó hồi nào, đã lâu rồi hay mới?

Hoàng. — Bẩm bà, cháu với ảnh là bạn học với nhau từ hồi thuở nhỏ, thường tới lui chơi bời thân cận với nhau lắm; mới cách nhau là từ ngày ảnh đi du học bên Tây đây mà thôi. Còn ảnh là người chi của bà, xin bà cho cháu biết với.

Bà Phủ bèn đam hết các việc từ ngày mới gặp hai chị em Thu-Cúc cho đến khi gởi bạc qua bên Tây mà cho Phan-quốc-Chấn, đầu đuôi thuật rõ lại hết cho Hoàng-hữu-Chí nghe. Chừng ấy Hoàng-hữu-Chí mới biết hai chị em Thu-Cúc vẫn là con của một ông quan hưu-trí rất có thanh danh, và Thu-Cúc lại có hứa hôn với Phan-quốc-Chấn là bạn-hữu của mình; rủi vì hai nhà ngộ nạn, nên nỗi phiêu lưu, may gặp bà Phủ đem về nuôi mà làm con, đãi như con ruột, bà lại còn châu toàn cho đến Phan-quốc-Chấn đương ăn học bên Tây. Đến đây Hoàng-hữu-Chí mới biết bà Phủ là người nhân hậu, thế thượng vô song, thật rõ ràng là nữ trung quân-tử.

Từ đó chàng ta mới hết lòng kính phục bà và thường lân la tới lui thăm viếng; mà hễ Hoàng-hữu-Chí càng biết bà Phủ chừng nào thì càng kính, càng vì, càng khen, càng sợ.

Nhắc lại Lê-xuân-Kỳ, nhơn thấy bà Phủ đã giàu sang mà chẳng có con trai, duy có hai người con gái mà thôi, nếu cưới được con bà thì ngày sau ắt sẽ nhờ được. Bợm ta tính tới tính lui, (nhơn, chia, trừ, cọng gì đủ hết;) tính nát trong ruột rồi mới cậy mai đến nói.

Chẳng dè bà Phủ, nhơn vì Thu-Cúc đã có nơi rồi, còn Xuân-Lan thì bà lại nhứt định để gả cho Hoàng-hữu-Chí, nên bà kiếm chuyện mà từ rằng con bà còn nhỏ dại, bà chưa chịu gả cho ai, để bà dạy thêm nữ công nữ hạnh một đôi năm nữa rồi bà mới gả. Lê-xuân-Kỷ cậy mai đến nói đã đôi ba phen mà bà cũng khăn khắn một lời trước sau như một. Bợm ta tức giận vô cùng, phần thì thấy Hoàng-hữu-Chí thường hay lai vãng nhà bà, bèn sanh lòng đố kị, quyết toan mưu ám hại cho được mà rửa hờn. Nhưng bề trong thì vẫn cứ hầm hầm, còn bề ngoài thì lại làm màu tử tế; mỗi khi gặp Hoàng-hữu-Chí bất luận chỗ nào, bợm-ta cũng làm bộ chào hỏi vui cười, chuyện trò niềm nở lắm.

Thiệt là: Bề ngoài thơn thớt nói cười,

Mà trong nham hiểm giết người không gươm.

Nguyên Lê-xuân-Kỳ trước đã có tư tình với một nàng kia tên là Cẩm-Lệ, nàng ấy nhân-phẩm tầm thường, không phải xấu, mà cũng không đẹp lắm. Cha mẹ nàng mất sớm, có để lại cho nàng một cái nhà ngói ba gian và đôi ba chục mẫu ruộng; vì không ai câu thúc, cho nên nàng mới được tự do, Lê-xuân-Kỳ tới tới lui lui, giờ nào cũng được.

Đêm kia, Lê-xuân-Kỳ đến thăm Cẩm-Lệ mà mặt còn hơi giận lộ ra bề ngoài. Cẩm-Lệ lấy làm lạ bèn hỏi rằng: «Một lần thầy tới đây thì mặt mày vui vẽ luôn, hôm nay trong thế thầy có bất bình với ai việc gì hay sao mà coi ý thầy còn hơi giận dữ lắm vậy?» (Ấy là Lê-xuân-Kỳ muốn lợi dụng Cẩm-Lệ cho đắc kế của mình, nên mới làm bộ giận dữ cho Cẩm-Lệ hỏi mà nói. Mà quả thật Cẩm-Lệ trúng kế, nên mới hỏi bợm-ta như vậy).

Lê-xuân-Kỳ bèn dùng dịp ấy, bày đều nói láo mà khích Cẩm-Lệ rằng: «Bấy lâu nay tôi tưởng nó là người tử tế, nên mới kết bạn với nó mà chơi, có dè đâu mà nó là một đứa tiểu-nhân, kiêu căng xất xược, nói phách chẳng ai bằng; nó thấy tôi tới lui với cô thì nó làm hơi mặt quân-tử mà ngăn cảng tôi hoài, nó chê tôi dại, lấy cô mà ăn những vật gì, nó lại nhiếc cô là gái mất nết, gái chạ, gái hư; thật là nó nhiếc rất quá lời, nó lại còn nói phách rằng chừng nó có cưới vợ thì nó sẽ lựa chỗ cho xinh đẹp như tiên, lại giàu sang cho tột bực thì nó mới cưới; chớ gái mà lục lục như cô vậy, dầu có đam tới lạy nó mà cho không, nó cũng chẳng thèm. Tôi giận quá, nên tôi gây với nó một hồi, rồi tôi mới bỏ mà lại đây.» Cẩm-Lệ nghe nói xúc tâm, nổi giận phừng phừng, liền hỏi Xuân-Kỳ rằng: «Thầy nói thằng nào đó, thằng nào mà nói phách lắm vậy?» Lê-xuân-Kỳ nói: «Thì có ai, có một mình thằng giáo Chí đó chớ ai.» Cẩm-Lệ chưởi mắng bông lông một hồi rồi nói rằng: «Thôi, thầy ở đây coi giùm nhà cho tôi, để tôi lại nhà giáo Chí, đặng mắng nó ba đều chơi cho nó biết mặt.» Và nói và lấy áo dài mặc vào rồi ngoe ngoảy ra đi. Lê-xuân-Kỳ liền kéo lại vuốt ve rồi nói rằng: «Cô đừng nóng mà hư việc, để thỉnh thoản toan mưu hại nó mà rửa hờn, còn hay hơn là chưởi mắng mà có ích gì.» Cẩm-Lệ nghe lời, bèn ngồi lại xỉa thuốc ba ngoai, giảnh mấy ngón tay có đeo hột xoàn ra mà chưng cho Lê-xuân-Kỳ coi rồi hỏi rằng: «Thầy tính mưu gì hay mà hại nó cho được?» Lê-xuân-Kỳ nói: «Khó khiết gì! Để ít bữa cho nguôi ngoai cái chuyện tôi mới gây với nó đây, rồi tôi làm bộ tới lui giả lả mà làm quen lại với nó, rủ nó đến đây chơi, rồi làm như vầy: như vầy: thì nó chạy đường trời cũng không khỏi ở tù.» Cẩm-Lệ nghe nói lấy làm đắc kế, khen ngợi chẳng cùng.

Đêm ấy hai đàng thong thả, mặc dầu gió gió trăng trăng, ân mặng tình nồng nói sao cho xiết. Cẩm-Lệ lại cổi ra một chiếc nhẩn có nhận hột xoàn mà cho Lê-xuân-Kỳ và nói rằng: «Vật nầy là vật quí của em, sớm trưa em chẳng hề lìa ra cho khỏi ngón tay; nay vì em quá thương thầy, nên phải lìa nó ra mà cho thầy, để làm dấu tích, xin thầy chớ lấy làm thường.» Lê-xuân-Kỳ cảm tạ ơn nàng rồi phân tay ra về, vì trời gần sáng.

Bữa kia nhằm ngày thứ bảy, Lê-xuân-Kỳ đến thăm Hoàng-hữu-Chí và mời Hoàng-hữu-Chí đến nhà tình-nhân của mình mà dùng một bữa cơm chiều đặng đàm đạo chơi. Nguyên Hoàng-hữu-Chí là người tinh tế, hay cẩn thận lắm, thuở nay ít hay nghe ai mời rủ mà chịu đi đâu bao giờ, và bấy lâu cũng ít ưa Lê-xuân-Kỳ cho lắm; nhưng vì nghe Lê-xuân-Kỳ thường hay khoe khoan Cẩm-Lệ là gái sắc tài gồm đủ, ngôn hạnh đoan trang, mà nhứt là nghề nấu ăn khéo lắm; nên cũng dùng dịp ấy đến chơi một phen cho biết, mà đó cũng là cái phần Hoàng-hữu-Chí phải mắc cái nạn lao tù vài tháng, nên khiến cho chàng ta hứa chịu. Lê xuân-Kỳ mừng rở vô cùng, bèn dặn dò xin đừng thất tín, rồi từ giã ra về, đi thẳng qua nhà mà cho Cẩm-Lệ hay đặng có toan tính với nhau sắp đặt lưới rập cho sẵn sàng mà chờ Hoàng-hữu-Chí.

Chiều bữa ấy lối sáu giờ, Hoàng-hữu-Chí vừa bước đến nơi, Lê-xuân-Kỳ làm bộ mừng rở chạy ra bắt tay mời vào chuyện vãn lăng xăng, rồi lại kêu mình ơi, mình hởi, mà nói rằng: «Thầy giáo đã lại rồi đây nè mình ơi!» Cẩm-Lệ ở trong nhà sau bước ra chào hỏi sơ sài, rồi xin kiếu vì mắc lo đồ ăn sau bếp.

Ngoài nầy Lê-xuân-Kỳ cứ ân cần mời Hoàng-hữu-Chí uống vài ly khai vị (apéritif) đặng có dùng cơm cho ngon bữa; và uống rượu và kiếm chuyện dông dài mà nói cầm chừng, vì bợm-ta nói gạt Hoàng-hữu-Chí rằng có mời đôi ba ông bạn đồng-liêu, nên phải uống rượu nói chuyện cầm chừng mà chờ khách. Đó là bợm-ta cố ý làm bữa ăn trễ cho khuya, cho tiện bề hạ thủ. (Viết tới đây ký-giả cũng bắt ghê bắt gớm cho cái lòng nham hiểm của người đời, càng thấy chừng nào càng thêm chán ngán).

Trời một ngày một khuya mà không thấy ai hết. Lê-xuân-Kỳ làm bộ xăn văn xéo véo, chạy ra chạy vào mà ngó chừng hoài, dường như trông ai lắm vậy. Đồng hồ gần gỏ tám giờ rồi mới làm bộ giận dũi mà nói rằng: «Thật mấy anh nầy khốn nạn quá! Đi, không đi gì cũng cho người ta biết, có lý nào đã hứa đi rồi để cho người ta chờ gần trối chết. Thôi, thây kệ, họ có tới trể thì họ uống rượu khan cho họ biết chừng.» Nói rồi liền nắm tay Hoàng-hữu-Chí dắc lại bàn ăn và nói rằng: «Trễ quá rồi, tôi đói bụng lắm, thôi, hai anh em mình đi ăn, chớ ai hơi sức đâu mà chờ họ nữa.» Rồi đó hai người ngồi lại ăn uống chuyện trò với nhau, Lê-xuân-Kỳ cố ý kiếm chuyện minh minh mông mông, ngông ngông nghênh nghênh mà nói mãi chớ không chịu dứt. Hoàng-hữu-Chí coi chừng đồng hồ, thấy đã chín giờ rưởi rồi, một lát lại thấy mười giờ. Có nhiều khi muốn giợm đứng dậy kiếu về, mà bị Lê-xuân-Kỳ cứ ngồi nói chuyện dông dông dài dài mà cầm lại mãi.

Gần mười một giờ khuya, Hoàng-hữu-Chí nhứt định kiếu về, Lê-xuân-Kỳ liệu chừng giờ ấy cũng vừa buổi ra tay rồi, bèn giả chước nói với Hoàng-hữu-Chí rằng: «Bây giờ trời cũng đã khuya rồi, vậy để tôi đóng bớt cữa giùm cho cổ, rồi tôi cũng đi về, tiện đường tôi xin đưa thầy về nhà luôn thể.» Đã đôi ba phen Hoàng-hữu-Chí muốn dứt ra mà về một mình, song bị Lê-xuân-Kỳ ân cần cầm cọng quá, nên không nở phất ý. (Thường người quân-tử mà mắc kế đứa tiểu-nhân, thì cũng vì có một cái lòng không nở mà thôi). Lúc nầy chén bác cổ bàn thì Cẩm-Lệ đã dọn dẹp hết rồi.

Khi Lê-xuân-Kỳ đóng cữa xong rồi lại giả ý nói rằng: «Xin thầy chịu phiền chờ tôi một chút, tôi đi tiểu tiện, tôi trở vô liền, rồi mình sẽ đi về với nhau.» Nói rồi liền tằng hắng một tiếng bèn bước rảo ra ngoài tìm đường mà dông mất. Hoàng-hữu-Chí ơ hờ, không dè là kế. Trong nầy Cẩm-Lệ nghe tằng hắng và thấy Lê-xuân-Kỳ đi rồi thì hội ý, liền bước ra làm bộ sợ gió, vói khép cữa lại, rồi quày trở vô, xuất kỳ bất ý, tay chụp niếu Hoàng-hữu-Chí, còn miệng thì thổi đèn và la làng inh ỏi. Hoàng-hữu-Chí thất kinh, miệng thì kêu Lê-xuân-Kỳ, còn tay thì gở Cẩm-Lệ ra đặng có giải vây mà chạy. Ai ngờ Lê-xuân-Kỳ đâu không thấy, lại thấy nào là Hương-quản, nào là lính tuần, nào là dân làng hơn trót mười người, kẻ đòn tay, người thước nách, ào vô áp bắt Hoàng-hữu-Chí; rồi hối đốt đèn lên đặng có mở đàng tra vấn. Hương-quản làm bộ nhìn coi rồi giả ý lấy làm lạ mà nói rằng: «Ủa! Thầy giáo đây mà! Trời đất ôi! Thầy làm cái gì mà lạ vậy thầy? Nhà người ta là con gái côi cút có một mình, đêm hôm tăm tối, thầy lỏn vào đây chi vậy?» Hoàng-hữu-Chí cứ đem việc Lê-xuân-Kỳ mời mình ăn cơm mà thuật lại, mà có ai chịu tin cho. Hương-quản nói: «Thầy nói sao khó nghe quá! Vã thầy Lê-xuân-Kỳ có nhà có cữa, cách đây cũng chẳng bao xa, nếu thẩy muốn đãi thầy thì mời về nhà thẩy mà đãi, chớ ở đây là nhà của Cẩm-nương, có bà con thân thích gì với thẩy mà thẩy mời thầy lại đây ăn cơm; thầy nói sao lạ vậy? À! Còn như thầy nói thẩy mời thầy ăn cơm, vậy chớ thẩy ở đâu, sao không thấy; có phải là tình ngay mà lý gian chăng?» Hỏi Cẩm-Lệ thì Cẩm-Lệ cứ khai quyết rằng: «Tôi đang ngủ nửa đêm, không biết thẩy cạy cữa mà vô hồi nào, ý muốn gian dâm, tôi không chịu, thẩy lại hâm dọa đòi giết tôi. nên tôi sợ mà la làng. Thẩy muốn thoát chạy, bị tôi niếu kéo nhủn nhẳn, may nhờ mấy ông tới kịp, chớ không thì ắt thẩy đã giết tôi rồi.» (Nguyên Lê-xuân-Kỳ đã mướn bọn nầy mà sắp đặt trước rồi; cho nên Hoàng-hữu-Chí dầu có cái lưỡi bén như gươm đi nữa, cũng không cải cho qua được). Hương-quản lại làm bộ ngay thẳng mà nói rằng: «Cô nầy khai vậy, thầy nọ khai vầy, chưa biết ai ngay ai gian, phận tôi làm làng, cứ việc còng khan, giải nạp tới quan, chừng ấy hai đàng, mặc dầu đối nại.» Nói rồi liền hối dân còng Hoàng-hữu-Chí lại. Ban đầu Hoàng-hữu-Chí còn vùng vẩy không chịu cho còng, sau thấy chúng nó đông quá, liệu cự không lại, mà còn e nếu mình cự với chúng nó đây thì ắt chúng nó sẽ làm nhục mình; chi bằng tùy thời nhẫn nại, chờ đến chỗ công-lý sẽ hay. Bỡi nghĩ vậy nên cũng dằn lòng mà để cho những bọn đầu trâu mặt ngựa, mặc dầu còng trói.

Thiệt là: Rồng nằm nước cạn tôm lờn mặt,

Cọp xuống đất bằng chó ngoắt đuôi.

Liền đó, Hương-quản dạy dân dắc Hoàng-hữu-Chí đem về giam đỡ tại bót làng. Sáng ra bữa sau mới làm phúc-bẩm rồi hiệp với khai báo hai đàng và chứng cớ mà giải hết nội vụ đến quan Biện-lý.

Quan Biện-lý liền tra hỏi tên họ cha mẹ, quê quán, tổng làng, tên tuổi và chức nghiệp xong xuôi, dạy giam Hoàng-hữu-Chí rồi giao hết giấy tờ nội vụ cho quan Bồi-thẩm mở đàng tra vấn.

Ngày ấy thiên hạ lao nhao lố nhố, xậm xì, xậm xịt đồn rùm rằng: «Đêm hôm qua thầy giáo Hoàng-hữu-Chí lén đến cạy cữa vào nhà Cẩm-Lệ, cố ý cường dâm sao đó, bị làng bắt giải, tòa đã giam rồi. Nghe được tin chẳng lành ấy nội nhà bà Phủ, cả ba mẹ con đều lấy làm lạ, dường như sét đánh vào tai, suy tới nghĩ lui, bàn qua tính lại rằng: «Không lẽ, một người học thức như vậy, tánh tình như vậy mà lại làm đều nhục nhã, vô liêm sỉ, bất lương tâm?» Rồi lại nghĩ rằng: «Mà cũng không lẽ, chó đâu có sủa lỗ không? Nếu không vậy thì đêm hôm khuya khoắc, ma dắc lối quỉ đem đường hay sao mà đi đâu đó cho người ta bắt vậy?» Lúc ấy bà Phủ lấy làm bối rối, vì bấy lâu bà thấy tánh tình và thái độ của Hoàng-hữu-Chí mà thương, nên bà quyết ý muốn gả Xuân-Lan cho chàng, song chưa kịp tính, mà nay lại sanh ra việc luân thường tồi bại như vầy, làm cho bà thất vọng. Bèn tính để hỏi thăm và dọ nghe lại thử coi cho biết chơn giả lẻ nào rồi sẽ liệu.

Còn Hoàng-hữu-Chí bị giam trong khám, cứ ngồi lặng thinh, trầm tư mật tưởng, suy nghĩ một mình. Nghĩ tới cái mưu gian của Lê-xuân-Kỳ thật là quá độc, chừng ấy mới biết lòng người nham hiểm, nghĩ lại mà dùng mình. Bèn nói thầm rằng: «Hèn chi người ta nói: Bất phách hổ sanh tam cá khẩu, chỉ khủng nhân hoài tưởng dạng tâm. Thật là lời ấy không lầm.» Một mình suy tới nghĩ lui, mới biết cái đường đời nó gay go là thế. Tuy vậy chớ chàng ta cũng chẳng hề nao núng tấc lòng, vì tự biết cho mình hẵn thật là vàng mười; càng nung nấu chừng nào thì càng tốt càng tươi, không sờn không rúng.

Dầu cho sấm sét búa riều,

Cũng đam vàng đá mà liều với thân.

Song ngồi mà nghĩ lại từ ngày ta lên đất Tây-ninh đến nay, chẳng có một người biết được lòng ta; duy có một mình bà Phủ Ân biết ta mà yêu vì kính trọng đó thôi, thế thì bà Phủ nầy tức là tri-kỷ của ta đó. Đến như cái việc hàm oan của ta đây, mặc tình thế tục nghị luận lăng xăng, dầu họ có đề quyết cho ta đi nữa, ta cũng chẳng sờn, ta chỉ phú cho cao-xanh soi xét. Ta lo là lo có một mình bà Phủ mà thôi, vì sợ e bà cũng lấy theo phụ nữ thường tình mà ức độ cho ta rằng quả có làm đều cang danh phạm nghĩa ấy, thì rất uổng cho cái lòng tốt của bà yêu vì kính trọng ta tự bấy lâu nay. Vậy thì ta phải tạm kính ít hàng gởi ra mà tố trần cái đều oan khuất của ta cho bà rõ, đặng cho bà minh được cái tâm-tích của ta, dầu có thác cũng đành nhắm mắt.» Nghĩ rồi bèn hỏi lính gát khám, mượn một cây viết chì và xin một chút giấy viết lảo thảo vài hàng như vầy:

Một ngày tri ngộ, muôn kiếp ghi xương;

— Hết chương 4 —

Mục lục Lòng người nham hiểm

  1. 1Phần 123 phút
  2. 2Phần 222 phút
  3. 3Phần 322 phút
  4. 4Phần 423 phút
  5. 5Phần 522 phút
  6. 6Phần 623 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNguyễn Chánh Sắt (1869 – 1947)
Năm mất1947
Xuất bản lần đầu1926
Tình trạngHết thời hạn bảo hộ quyền tài sản tại Việt Nam từ 01/01/1998
Nguồn văn bảnWikisource tiếng Việt
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →