Phần 6
Lật bật đến ngày mười bảy, nội bọn đều quá giang xe ô-tô đưa bộ-hành đặng đi Saigon.
Khi bọn ấy lên xe vừa mới ngồi yên; bỗng thấy Xuân-Lan ở đâu cũng lơn tơn xách dù lên xe lựa chỗ ngồi ngang đối diện với Lê-xuân-Kỳ, đặng cố ý trừng liếc trêu bẹo mà khêu gan Cẩm-Lệ.
(Nguyên Cẩm-Lệ đã có lòng ghen sẵn, nay thấy tình-cảnh như vầy thì gan dạ nào mà chẳng nổi tam bành; ngặt bỡi trên xe vì có nhiều người, phần thì mình với Lê-xuân-Kỳ cũng không phải là thật vợ chồng, cho nên nàng-ta cảm nộ bất cảm ngôn; chỉ cứ háy nguýt nhúng trề mà chịu trận.
Khi xe đến Saigon rồi, Xuân-Lan liền kêu xe kéo bước lên, lại còn làm bộ nháy nhó Lê-xuân-Kỳ, dường như chĩ chỗ ở của mình mà dặn Lê-xuân-kỳ lại đó vậy; nàng cứ cố ý khêu gan Cẩm-Lệ cho thật nổi ôn, rồi mới hối xe kéo bảo đi, chỉ đường cho nó kéo lại nhà chị em bạn học của mình mà nghỉ đỡ một đêm, đặng mai sớm lên Tòa rồi sẽ ra tay thủ đoạn.
Thật báo hại cho Lê-xuân-Kỳ, hên lâu mới xuống Saigon, mà trọn một đêm ấy ngụ tại nhà Nam-Việt khách-lầu ở nơi đường Kinh-lấp, bị Cẩm-Lệ nổi ghen, cứ theo cằn nhằn mãi, lại thêm ràng rịt, theo giữ khít ghim, không đi đâu được hết.
Còn bà Phủ Ân việc thì việc của ai, mà tội nghiệp cho bà, khi nghe được tin ấy thì trong lòng bà hồi hộp, lo sợ chẳng cùng; không biết Hoàng-hữu-Chí sẽ được tha chăng; hay là bị kêu án ít hay nhiều, lâu hay mau, lo tới lo lui, lấy làm rối trí. Liền kêu Thu-Cúc, hối sửa san hành-lý cho sẵn sàng, rồi mướn một cái ô-tô, dặn Sốp-phơ sáng mai chừng lối ba giờ khuya, đem xe lại cho đúng giờ, đặng hai mẹ con bà đi xuống Saigon mà coi Tòa xử.
Sớm mai ngày mười tám, trong khoản từ sáu giờ rưởi cho tới bảy giờ, thiên hạ ồ ào, tựu đến trước cữa Tòa đặng chờ cho tới giờ mà coi xử; kẻ thì vì chồng, hoặc vì cha, người thì vì con, hoặc vì em vì cháu mà nô nứt trước cữa Tòa đông quá đổi đông, lủ bảy đoàn ba, rất nên náo nhiệt. Còn các quan Thầy-kiện thì hoặc ba ông một chòm, hoặc hai ông một cặp, đi tới đi lui, chuyện vãn cùng nhau mà chờ giờ xử.
Lúc ấy hai mẹ con bà Phủ còn ngồi trên ô-tô, đậu trước cữa Tòa; duy có bọn Cẩm-Lệ với Lê-xuân-Kỳ thì ngồi tại chỗ ghế xanh (banc) mà nghỉ cẳn. Còn một mình Xuân-Lan đã đến trước bao giờ, thấy bọn ấy ngồi tại ghế xanh, bèn làm bộ nháy nhó Lê-xuân-Kỳ, rồi cứ đi qua đi lại trước mặt Cẩm-Lệ, tay thì cầm chiếc nhẩn đưa lên đưa xuống mà coi, còn tay thì rút khăn mu-soa ra, làm bộ chùi lau cái hột xoàn cho sáng. Cẩm-Lệ xem thấy phát nghi, liền vói kéo bàn tay của Lê-xuân-Kỳ lên mà coi, không thấy đeo chiếc nhẫn. Máu ghen muốn trào, tay chơn run rẩy, liền hỏi một cách rất gắt gao rằng: «Vậy chớ chiếc nhẩn ở đâu? Xuống tới Saigon là chốn kinh-thành sao không đeo lại cất??» Lê-xuân-Kỳ kiếm chuyện dấu quanh dấu quẩn mà dấu chẳng qua. Còn Xuân-Lan thấy vậy lại càng cứ theo trêu bẹo chiếc nhẩn trước mặt hoài. Cẩm-Lệ đã quả quyết của mình, bèn nổi giận xung thiên, liền chỉ Lê-xuân-Kỳ mà mắng rằng: «Mi là đồ khốn nạn, quả là loài nhơn diện thú tâm, để lát nữa đây rồi mi sẽ coi tao, muốn vậy tao cho vậy.» Lúc bấy giờ, Lê-xuân-Kỳ tưởng Cẩm-Lệ nổi máu ghen mà sanh hổn, lời hâm lát nữa đó là nói để lát nữa hầu Tòa rồi ra đường ắt sẽ chưởi mắng niếu kéo gì đây (Chẳng những là Lê-xuân-Kỳ tưởng vậy, cùng những người đi coi Tòa xử bữa ấy cũng đều tưởng vậy mà thôi! Tưởng khi chư khán-quan, ai đọc truyện nầy mà đọc tới đây, thế tất cũng là tưởng vậy chớ gì!)
Có dè đâu mà lại sẽ có một chuyện hy kỳ, thật rất phi thường, xuất nhơn ý ngoại.
Đúng tám giờ, nghe tiếng chuông reo, hai bên lính tập tra lưỡi-lê vào súng sáng lòa; thật là nghi vệ trên Tòa, ngày xử Đại-hình rất có vẽ oai nghiêm, những kẻ gian-manh xem thấy phải lạnh mình mà kinh hồn oản vía.
Cách chừng năm phút, lại nghe tiếng chuông reo. Thầy Đội hô bọt-tê-ấm vang rân, lính bồng súng lên nghe khua lốp rốp. Nội cả Tòa tự quan chí dân, thảy đều đứng dậy. Kế thấy ba ông quan Tòa áo đỏ bước ra ngồi giữa, bốn ông Hội-đồng thẩm-án ngồi kế hai bên; bên hữu là quan thay mặt cho quan Chưởng-lý đề-hình, bên tả thì quan Lục-sự. Ngay chính giữa có để một cái bàn, ấy là chỗ của một thầy Thông-ngôn với một quan Trưởng-tòa ngồi đó. Phía trước có hai giảy ghế, các quan Thầy-kiện phân ra ngồi hai bên. Còn mấy giảy ghế phía sau, bên tả thì phạm-nhơn, bên hữu thì người đi coi, ngồi chen lấn nhau chật nứt.
Khi ai nấy ngồi xuống lặng trang, xảy nghe thầy Thông cầm sổ hô danh từ người:
Chánh-phạm là Hoàng-hữu-Chí;
Thủ-cáo là Cẩm-Lệ;
Chứng là: Lê-xuân-Kỳ, Hương-quản, tên lính X. và tám tên dân làng, đều có đến hầu đủ mặt.
Kêu tên nội vụ xong rồi, Tòa liền dạy kêu chánh-phạm là Hoàng-hữu-Chí lên mà hỏi rằng: «Vậy chớ lời của chú khai tại phòng quan Bồi-thẩm đó có quả y như vậy chăng? Chú còn kêu nài gì nữa chăng?
Hoàng-hữu-Chí bẩm rằng: «Nội lời của tôi khai nơi phòng quan Bồi-thẩm là đủ việc của tôi, thật tôi chẳng còn kêu nài đều chi nữa hết; tôi chỉ xin quan lớn lấy lẽ công bình mà minh đoán cho tôi nhờ đó thôi.»
Quan Tòa liền dạy kêu thủ-cáo là Cẩm-Lệ lên mà hỏi.
Cẩm-Lệ ra đứng giữa Tòa mà hơi giận còn lừng, liền bước tới quì lạy quan Tòa mà bẩm rằng: «Bẩm lạy quan lớn, (và nói và chỉ tạc mặc Lê-xuân-Kỳ), vụ nầy đầu dây mối nhợ cũng tại thằng khốn nạn Lê-xuân-Kỳ nầy, nó đồ mưu thiết kế mà hảm hại người ngay; nó lại xúi giục tôi làm đều tàn nhẫn, táng tận thiên lương, phao vu cho người vô cô mà thọ khuất. Nay ra đến giữa Tòa rồi, thật cái lương-tâm của tôi nó cắn rứt, xốn xang khó chịu, nên tôi phải tỏ thật hết cho quan lớn nghe.» Rồi đó nàng bèn đọc hết, ba bảy hai mươi mốt, đầu đuôi gốc ngọn, nhứt nhứt mỗi việc khai rõ hết một hồi, rồi lại lạy quan Tòa mà nói rằng: «Lời thật tình tôi đã khai hết giữa Tòa, ngữa nhờ lượng quan trên, dầu giết dầu tha, tôi cũng cam bụng chịu.» Cẩm-Lệ khai dứt lời thì nội cả Tòa, tự quan chí dân, ai nấy đều sửng sốt. Quan Tòa liền dạy đòi Hoàng-hữu-Chí lên mà hỏi lại.
Hoàng-hữu-Chí bước lên cúi đầu chào bái các quan Tòa rồi bẩm rằng: «Những lời của cô Cẩm-Lệ khai giữa Tòa nảy giờ đó đều thật quả y như vậy, tôi chẳng có lời nào mà còn kêu nài chi hơn nữa, cúi xin quan lớn minh đoán cho tôi nhờ.» Lúc ấy các quan xem thấy Hoàng-hữu-Chí đương ở nơi một cái địa-vị rất khốn cùng, áo quần xơ xải mà mặt mày đầy đặn, diện mạo đáng thương; lại thêm lời nói rất chơn thành, thật rõ ràng là người trung hậu, bực hiền lương, bị phao vu nên nỗi. Liền dạy chàng lui xuống ngồi chờ, để hỏi hết chứng cớ xong rồi sẽ xử.
Đòi Lê-xuân-Kỳ lên đứng giữa Tòa, tuy là mặt một bộ đồ u-hoe hàng tít-so thẳng thớm, chơn mang giày ăn phón láng đen, thì mặt dầu; mà mặc dài cằm nhọn, gia dĩ trống ngực đánh lia, mặt mày tái ngắt (vì bợm-ta nghe lời khai của Cẩm-Lệ thì biết gian mưu bại lộ, nên sợ thất thanh. tài nào mà mặt mày không tái ngắt). Cho nên lúc nầy dầu mà bợm ta có cái lưỡi bén tợ gươm trường, miệng xuôi như suối chảy đi nữa, cũng khó đem ra mà dùng được; nên đứng nói lớ quớ một hồi, chừng rốt cuộc rồi cũng phải tàng đầu lộ vĩ.
Quan Tòa dạy bợm ta lui xuống, rồi đòi hết mấy tên chứng là Hương-quản, lính X. và tám tên dân làng lên mà hỏi.
Ban đầu chúng nó còn chối cải, mà ba mươi đời cái thứ gian, dẩu có cượng cầu mà chối cải thế nào, cũng chẳng cượng qua cho khỏi lý. Bỡi vậy cho nên, chừng rốt cuộc rồi chúng nó bị quan Tòa chận nghẹt nên phải khai thật rằng: «Ngày: tháng: có thầy Thông Lê-xuân-Kỳ ngồi tại nhà Hương-quản-mỗ, lại cũng có tên lính X. tại đó, kêu anh em tôi lại mà mướn mỗi người là hai đồng bạc, dặn chúng tôi từ mười giờ tới mười hai giờ khuya ngày ấy, phải ở gần lối đó; hễ nghe cô Cẩm-Lệ la làng thì áp vào mà bắt thầy Hoàng-hữu-Chí. Thầy Kỳ lại còn hứa với chúng tôi rằng ngày nào Tòa xử xong, kêu án thầy Giáo-Chí rồi thì thẩy sẽ cho thêm anh em tôi mỗi người là năm đồng nữa. Lúc ấy chúng tôi cũng thấy thẩy đưa bạc cho Hương-quản-mỗ và tên lính X. nữa, song cái số bao nhiêu thì chúng tôi không thấy rõ; ấy là lời thật khai ngay, xin quan lớn châm chế cho chúng tôi nhờ.»
Quan Tòa liền dạy chúng nó lui xuống. Kế đó quan Thầy-kiện liền ra đứng giữa mà biện giải sơ sịa vài lời, tỏ ý xin quan Tòa tha Hoàng-hữu-Chí là người vô tội, và xin buộc Lê-xuân-Kỳ, Cẩm-Lệ và nội bọn về tội phao vu cho người lương thiện.
Đâu đó xong rồi, quan thay mặt cho quan Chưởng-lý bèn đứng dậy mà tuyên bố giữa công chúng rằng: «Vã Tòa là chỗ cầm cân tội phước, ấy là chỗ chí công chí chánh, cầm mực công bình mà thưởng thiện phạt ác. Hoàng-hữu-Chí là người lương thiện, bị phao vu mà chức phận phải hư, danh giá phải hỏng. Nay tôi xin Tòa hãy lấy đều công lý, mở lượng nhơn từ, tha bổng và phục hồi cựu chức cho chàng mà thưởng người vô tội. Còn Cẩm-Lệ với Lê-xuân-Kỳ và nội bọn, thảy đều đồng ác tương tế mà hảm hại người lành, ấy cũng đồng tội liên cang, nên tôi cũng xin Tòa bắt hết giam tra rồi luận tội mà phạt chúng nó một cách cho nặng nề, đặng để làm gương cho kẻ khác.»
Ngài nói dứt lời rồi, các quan Tòa liền bải hội, hiệp với các quan Hội-đồng thẩm-án, lui vào phòng thẩm mà nghị án.
Ngoài nầy thiên hạ xôn xao, kẻ nói vầy người nói khác, ai ai cũng cho là một việc rất phi thường, thật là kim-cổ-kỳ-quang, thuở nay chưa từng thấy.
Lúc nầy hai mẹ con bà Phủ mừng rở vô cùng, song trong lòng cũng còn hởi phập phồng, chưa biết sao mà dám chắc. Kế thấy quan Thầy-kiện của bà bước lại nói cho bà biết rằng chắc là Tòa sẽ tha bổng Hoàng-hữu-Chí. Chừng ấy bà mới thật mừng, song cũng còn nhóng trông coi Tòa xử về bọn Cẩm-Lệ lẽ nào cho rõ.
Duy có cô Xuân-Lan, trong lòng khấp khởi mừng thầm, song còn chưa dám nói cho ai biết được.
Một chặp lại nghe chuông đổ, ai nấy đều trở vào đặng nghe lịnh Tòa xử đoán lẽ nào cho biết.
Các quan đều ra ngồi y chỗ cũ. Quan Tòa liền đọc án một hồi. Kế thầy thông ra đứng giữa Tòa mà tuyên bố lên rằng: «Nay Tòa xét vì Hoàng-hữu-Chí là người vô tội mà bị hàm oan, nên dạy tha bổng cho thầy và phục hồi cựu chức.
Còn Cẩm-Lệ với Lê-xuân-Kỳ và nội bọn đều phải giam lại mà chờ tra hỏi cho phân minh, rồi sau sẽ xử.
Liền nội hồi đó, lính Sơn-đầm dẫn hết nội bọn đem giam vào khám.
Lúc nầy bà Phủ mừng rở vô cùng, song bà lấy làm lạ quá, không hiểu tại sao mà Cẩm-Lệ lại trở lòng với Lê-xuân-Kỳ mà khai thật hết ra như vậy. Chừng đó Thu-Cúc mới mỉn cười và thuật hết lại cho bà nghe rằng: «Con xin lỗi cùng má, nguyên đó là tại chị em con rõ biết được Cẩm-Lệ và Lê-xuân-Kỳ đã tư tình với nhau, Cẩm-Lệ lại có cho Lê-xuân-Kỳ một chiếc nhẩn, nên em con phải liều danh-giá dụng trí gạt Lê-xuân-Kỳ mà lấy cho được chiếc nhẩn ấy. Rồi cứ làm màu bởn trợn trừng liếc với Lê-xuân-Kỳ trước mặt Cẩm-Lệ mãi cho nó đổ ghen ra; mà hễ nó dò ghen ra rồi thì thế nào chúng nó cũng phải sanh ác cảm; chừng ấy nó mới oán hận nhau. Rồi mình lại thừa dịp ấy chờ đến bữa nay, lúc Tòa gần xử, lại đem chiếc nhẩn của nó đã cho tình-nhân nó, mà tình-nhân nó lại đem mà cho người thương khác; trêu bẹo ra trước mắt nó cho nó ngó thấy rồi làm như tuồng khinh khi kiêu hảnh, thị nó như không không vậy; thế thì cái ghen, cái tức, cái oán, cái cừu nầy, dầu giết được nó cũng giết mà không gớm thay; huống chi là đến Tòa mà khai thật cho Lê-xuân-Kỳ ở tù cho lại gan, cho bỏ ghét thì có khó chi mà không dám. Nay chúng nó đã trúng kế của chị em con rồi, lại cứu được thầy Hoàng-hữu-Chí rồi; nên con phải chịu lỗi cùng mà về tội chị em con đã dấu nhẹm mà không cho má hay, xin má dung thứ cho chị em con nhờ.» Bà Phủ nghe nói ngơ ngẩn hồi lâu, lại thấy Xuân-Lan đang đứng xa xa ngó lại, chúm chím miệng cười. Bà liền giơ tay lên ngoắt lia ngoắt lịa và kêu rằng: «Xuân-Lan! Lại đây con.» Xuân-Lan nghe kêu chạy lại cúi đầu, bà liền vói xuống kéo đại lên xe vò lia vò lịa, rồi rưng rưng nước mắt mà nói rằng: «Thật chị em con tệ quá! Có vậy thì cho má hay, đễ chi cho má không biết mà giận con, mắng nhiếc đuổi xua làm cho thân con tất tưởi, ở đậu ở hạt với người ta tự hỏm tới nay, tội nghiệp thì thôi đa.» Rồi bà lại cười và lau nước mắt mà nói nữa rằng: «Trời ơi, mẹ có dè đâu mà chị em con tuổi mới có bây lớn mà khon ngoan lanh lợi, mưu trí quá Khổng-Minh như vầy. Thôi, kêu thầy Giáo, dặn thẩy lấy giấy tờ rồi lên xe đây mà về với mẹ con mình luôn thể con.»
Lúc bấy giờ, thiên hạ đều đồn chuyền với nhau rằng: «Có hai cô con gái của bà Phủ lối 17, 18 tuổi gì đó mà thông minh quá, lại thêm mưu trí cao sâu, biết dụng kế mà cứu người ngay cho khỏi họa. Vì vậy ai ai cũng muốn tranh nhau xúm coi cho biết hai chị em cô ấy ra thể nào mà khôn ngoan như vậy. Ôi thôi! Ban đầu còn ít, sau xít ra đông, đứng vây chung quanh, làm cho xe của bà không cục cựa gì được hết.
Lúc đang lộn xộn, bỗng thấy thằng bồi của ông Phán-Ngãi, sai lên kiếm bà mà báo tin lành cho bà hay rằng ông Phán mới được dây thép của Phan, Nguyễn hai ông đánh về cho hay rằng đã xuống chiếc tàu Orénoque mà trở về Saigon, nay đã tới Tourane (Cữa hàng) rồi, còn hai ngày nữa sẽ tới Saigon, dây thép ấy ở Tourane đánh lại.
Vừa được tin nầy, ôi thôi! Hai chị em Thu-Cúc mừng rở xiết bao. Thật là: Mừng nầy còn có mừng nào cho hơn!
Còn đang mừng rở, nói nói cười cười, kế thấy Hoàng-hữu-Chí đã lãnh giấy rồi trở ra, bước thẳng đến trước xe mà xá bà Phủ với hai cô con, rồi dùng lời trung hậu mà tạ ơn bà với chị em cô Thu-Cúc. Rồi đó bà liền mời Hoàng-hữu-Chí lên xe ngồi bên cạnh Sốp-phơ, rồi bà dạy Sốp-phơ chạy lên đường Thuận-kiều ghé nhà ông Phán-Ngãi.
Vào nhà còn đang mừng rở chuyện trò, kẻ hỏi thăm việc nầy người hỏi thăm việc khác. Bỗng đâu lại thấy một người Phắt-tơ ngoài cữa bước vào đem lại một cái dây thép nữa. Ông Phán ký tên lãnh rồi mở ra coi, té ra là của một ông bạn ở Bạcliêu đánh lên cho ông hay rằng chiều bữa ấy chuyến xe lửa chót bà Huyện sẽ lên tới Saigon. Ôi! Đều đâu cũng lạ, mừng lại dập dồn.
Nực cười Con-Tạo lá lay,
Khi tan, khi hiệp, rất dày công phu!
Mới được tin cha, lại ra thêm tin mẹ. Hai chị em Thu-Cúc mừng quýnh mừng quíu, mừng quá đổi mừng; bèn thưa với mẹ nuôi, xin nán lại đến chiều đặng đón rước bà thân-sanh lão-mẫu. Bà Phủ cũng vui lòng mà nói rằng: «À phải đa con, vậy để chiều nay ba mẹ con mình ra ga rước chị rồi sẽ về Tây-ninh, kẻo bỏ nhà không có ai coi; rồi sáng mốt hai chị em con sẽ trở xuống mà đón anh với anh Phan cũng được.»
Chiều bữa ấy lối sáu giờ rưởi, Hoàng-hữu-Chí mắt đi thăm anh em, còn bà Phủ với chị em Thu-Cúc đem ô-tô ra ga mà đón bà Huyện. Khi xe lửa về tới ga, bà Huyện trên xe bước xuống, thình lình sao lại thấy hai đứa con gái mình đây, vòng vàng chuổi hột nhởn nhơ, nét mặt tươi cười đứng với một bà nào lạ mặt; bà ngở là trong giấc chiêm bao, bà đương nhìn sửng, chưa biết nói làm sao. Kế nghe hai cô ấy miệng kêu má, má; chơn chạy lại gần, bà cứ nhìn trân, thật bà không biết ai xui ai khiến mà được như vầy, khóc lỡ khóc, mà cười cũng lỡ cười; không nói chi được hết. Hai chị em Thu-Cúc liền nắm tay mẹ dắc lại gần chĩ bà Phủ mà thuật sơ các việc cho mẹ mình nghe. Chừng ấy hai bà mới biết nhau, chuyện trò mừng rở, bà Huyện rất cảm tình bà Phủ có lòng nhân hậu mà chiếu cố hai trẻ từ ấy đến nay. Rồi đó bà Phủ liền hối Sốp-phơ quày xe trở về nhà ông Phán. Hoàng-hữu-Chí thấy xe về tới, cũng vội vã chạy ra chào mừng bà Huyện, rồi hiệp lại một đoàn, từ giã vợ chồng ông Phán trở về Tây-ninh, qua mười hai giờ khuya mới tới.
Sáng ra bữa sau, Thu-Cúc xem nhựt-báo, thấy có đăng một khoản nói rằng Hội-xổ-số đã xổ rồi, bao nhiêu số trúng cũng có đăng trong tờ báo ấy. Thu-Cúc liền kêu Xuân-Lan, bảo mở rương lấy số của mình mua, đem ra dò thử coi trúng trậc. Ai ngờ là:
Khi nên trời cũng chìu người!
Hết cơn bỉ cực tới hồi thới lai.
Cho nên khi Thu-Cúc vừa dở số ra mà dò, thì thấy số của mình được trúng độc đắc là một vạn đồng; chị em đều mừng rở, bà Phủ với bà Huyện cũng mừng. Thật là cuộc đời dời đổi, thiên địa tuần huờn, hết thạnh tới suy, suy rồi lại thạnh.
Qua bữa sau Thu-Cúc với Xuân-Lan bèn thưa cho hai bà mẹ hay, rồi mướn một cái xe ô-tô đi xuống Saigon, trước là đón tàu rước cha, sau là đến nhà Băng mà lãnh tiền trúng số.
Khi xe xuống tới Saigon rồi cũng cứ ghé nhà ông Phán Ngãi. Ông bèn nói cho chị em Thu-Cúc hay rằng: «Nầy hai cháu, hôm nay sẽ có tới hai chiếc tàu lớn đến một lược, chiếc Porthos thì ở bên Tây qua, còn chiếc Orénoque thì ở Bắc-kỳ lại; cả hai cũng đều vào tới Cap (Vũng-Tàu), đã báo tin rồi, chiều nay đúng một giờ, có khi hai chiếc cũng vào tới Saigon một lượt. Vậy nếu hai cháu có đi đón anh Huyện thì phải coi chừng cái danh hiệu chiếc tàu kẻo lộn, phải đón chiếc Orénoque thì mới khỏi lầm; mà hay hơn là cho chú đi với cho vui.» Hai chị em nghe nói rất mừng, bèn nhơn lúc tàu chưa tới bến, đi trước xuống nhà Băng lãnh tiền trúng số cho xong, rồi trở về nhà ông Phán nghỉ ngơi mà chờ tàu tới.
Gần một giờ chiều, hai chị em bèn sửa soạn, rồi hiệp với ông Phán lên xe ô-tô chạy qua hảng nhà Rồng, kiếm chỗ đậu xe mà đợi. Lúc bấy giờ, tại bến tàu thiên hạ lao xao, kẻ đón rước anh em, người đón cha mẹ bà con, chẳng biết số nào mà kể cho xiết được.
Còn đang mơ ước ngóng trông, bỗng thấy xa xa, nơi ngoài mấy khúc quanh, khói tỏa đen sì, ấy là khói tàu đò đã vào gần tới bến; những khách trên cầu, lại lại qua qua, kẻ ngóng tàu bên Tây, người trông tàu ngoài Bắc.
Một lát đã thấy hai chiếc tàu ló mũi, chiếc trước chiếc sau, hai chiếc nối nhau, riu ríu dựa vào cầu rất nên êm ái.
Hai chị em Thu-Cúc và ông Phán-Ngãi đứng ngó lên tàu, thấy quan Huyện với Phan-công, hai ông đứng kế nhau, thì mừng vui chẳng xiết. Còn trên tàu quan Huyện trông xuống thấy hai đứa con, trong lòng ông cũng vô cùng hớn hở.
Khi tàu ghé yên rồi, hai ông xách hoa-ly dắc nhau xuống cầu, bắt tay ông Phán chào mừng, rồi quay lại vuốt ve hai con, lòng mừng khấp khởi; song vì chỗ đông người, nên không lẽ hỏi qua gia-sự. Cha con còn đương mừng rở, chưa kịp nói chi; bỗng nghe ông Phan-mẩn-Đạt nói lớn lên rằng: «Ủa! Cơ khổ!! Thằng Chấn của tôi nó cũng về tới kia cà!» Và nói và chỉ bên chiếc tàu Porthos. Ai nấy cũng ngó theo, thấy trên chiếc tàu ấy có một người trai tơ tắn, diện mạo khôi ngô, hình dung tuấn nhã; đứng ngó Phan-công một hồi rồi cũng kêu rằng: «Ủa cha! Con đã về tới đây nầy cha.» Ôi! Tạo-hóa khéo xui, tình cờ mà gặp, bên nầy một cặp, bên ấy ba người, cha cha con con, nói nói cười cười; thật cái sự vui mừng nầy, ký-giả không có tài nào mà tả ra cho rõ được.
Còn Phan-quốc-Chấn với Thu-Cúc mà thấy nhau đây, ký-giả chẳng cần tả ra, chớ khán-quan cũng cháng rõ rằng:
Người quốc-sắc, kẻ thiên-tài;
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
Rồi đó, hai người cha, ba người con và một ông bạn, liền đề huề dắc nhau lên ô-tô, chạy về nhà ông Phán, Thu-Cúc bèn đem hết đầu đuôi các việc của chị em mình và bà Phủ mà thuật rõ lại cho quan Huyện nghe. Phan-quốc-Chấn cũng đem việc bà Phủ gởi mười hai ngàn quan tiền tây mà giúp thêm học-phí cho mình, nhờ có tấm lòng hào-hiệp của bà nên mới được công thành danh toại; đầu đuôi gốc ngọn thuật hết một hồi. Phan, Nguyễn hai ông nghe nói cũng ngùi ngùi, hết sức cám ơn bà Phủ.
Chuyện trò mừng rở một hồi, rồi mới đứng dậy giã từ ông Phán mà lên xe, bảo Sốp-phơ chạy thẳng lên trường Nguyễn-phan-Long ghé vào xin phép và rước luôn Trọng-Liêm về chơi ít bữa. Quan Huyện cám cảnh vô cùng, ông càng thấy mấy đứa con của ông đã được bà Phủ châu toàn tử tế chừng nào thì ông lại càng cảm tình bà Phủ chừng nấy. Rước Trọng-Liêm rồi liền hối Sốp-phơ chạy thẳng về Tây-ninh.
Đây xin nhắc sơ lại việc Hoàng-hữu-Chí, ban đầu thì chàng nhứt định, chẳng thèm cưới con gái nhà giàu; sau vì mắc nạn mà phải thọ ơn bà Phủ, cám nghĩa Xuân-Lan, chừng ấy mới biết trong đám con gái nhà giàu, cũng có kẻ vầy người khác. Lại thêm thấy Phan-quốc-Chấn là bạn thiết của mình, cũng là rể nhà bà; nên chàng cũng vui lòng vào đó mà chèo xuôi cho mát mái.
Ngày ấy Hoàng-hữu-Chí cũng ở tại nhà bà Phủ mà chờ tin. Thoạt nghe tiếng kèn ô-tô, cả nhà đều mừng rở, rủ nhau ra trước ngỏ ngóng trông. Xe vừa ngừng bánh, ôi thôi! Kẻ dưới đất, người trên xe, nói nói cười cười, mừng nhau chi xiết.
Khi vào nhà ai nấy đều ngồi yên, Phan-quốc-Chấn và Hoàng-hữu-Chí liền bước ra tạ ơn bà Phủ. Bà cười và dạy hai trẻ ngồi, rồi day qua nói với Phan-công và vợ chồng quan Huyện rằng: «Ơn trời phò hộ, phụ tử đoàn viên; vậy thì ngày nay việc hôn-nhơn của trẻ, cũng nên sớm liệu cho rồi; vã lại cặp lớn đó thì vốn của hai anh định trước, còn cặp nhỏ nầy là của tôi mới định sau đây; vậy xin anh chị liệu tính lẽ nào, cho trẻ con nó nhờ phước.» Quan Huyện bèn đáp rằng: «Cái lòng nhân hậu của chị mà đối với trẻ con, từ xưa đến nay, chẳng có ai được vậy bao giờ, mỗi mỗi chị cũng đều để ý châu-toàn, chẳng hề bỏ qua một mãy; tôi và mẹ nó đây tuy là thân-sanh của chúng nó mặc dầu, chớ cũng không sao bì kịp. Còn mấy chị em chúng nó mà đối với cái ân trọng đức dày của chị đây, thật là thiên cao địa hậu, tái tạo chi ân; thế thì chẳng biết kiếp nào mà chúng nó đền bồi cho được. Huống chi việc hôn-nhơn là việc trọng trong đạo nhân-luân, mà chị định cho bốn trẻ cũng vừa chừng, thì vợ chồng tôi cũng vui lòng, lẽ đâu còn dám cải. Nhưng tôi còn lo một nỗi gia-nghiệp chưa yên; vậy xin để cho tôi trở về cố lý ít ngày, đặng lo thục hồi cựu-nghiệp đâu đó cho xong xuôi, rồi tôi sẽ trở lại đây mà định hôn cho bốn trẻ, cũng chẳng muộn chi, xin chị với anh Phan an dạ.»
Bà Phủ nghe nói rất vui lòng, mà thật bà rất vui lòng hơn hết. Nghĩ vì bà giúp đâu nên đó, kết quả được nhiều việc rất hay, giúp họ Phan thì họ Phan đã thành danh, mà cứu họ Hoàng thì họ Hoàng lại khỏi nạn; ấy rõ ràng là: Chưởng qua huờn đắc qua, chưởng đậu huờn đắc đậu. Một nhà phước hậu, kiết-triệu tới liền liền, ấy cũng vì lòng nhân-hậu của bà thật là vô lượng vô biên; nên bà mới được hưởng vô cùng hạnh-phước.
Từ đây cha con, chồng vợ, bậu bạn, chị em, một cữa sum vầy, ngàn năm phước ấm.
— Hết —
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương