Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Mọi thứ về đúng chỗ của nó

của Hans Christian Andersen

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 15.007 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Chuyện này đã hơn một trăm năm rồi!
  2. 1:46Rồi anh kéo cô bé lên chỗ đất khô.…
  3. 3:34Ngày và tuần trôi qua. Người ta thấy cành…
  4. 6:06Một trăm năm trôi qua. Đã đến thời của…
  5. 9:52Cô gái kêu lên:
  6. 11:14Rồi câu chuyện tự nhiên chuyển sang giới quý…
  7. 14:36Anh là nghệ sĩ à? Anh thổi sáo, anh…
  8. 16:38Tiếng sáo vang xa cả dặm, và những chuyện…

Chuyện này đã hơn một trăm năm rồi!

Ở bìa rừng, cạnh một cái hồ lớn, có một toà trang viên cổ. Bốn phía quanh trang viên là những con hào sâu, lau sậy và cỏ nến mọc đầy. Sát chiếc cầu treo, gần cổng, có một cây liễu già ngả mình trên đám lau.

Từ khe núi hẹp vọng lại tiếng tù và và tiếng vó ngựa. Một cô bé chăn ngỗng vội lùa đàn ngỗng ra khỏi cầu, kẻo cả đoàn đi săn phi tới. Nhưng họ tới nhanh quá, cô bé phải trèo lên một hòn đá cao ở góc cầu để khỏi bị ngựa giẫm. Cô vẫn còn nửa trẻ con, người mảnh dẻ, đôi mắt xanh trong sáng, nét mặt hiền dịu, dễ thương. Những cái đó thì ngài nam tước chẳng để ý. Khi phi ngựa ngang qua cô bé chăn ngỗng, ngài trở ngược cán roi săn, đùa một cách thô bạo, đẩy cô một cái, khiến cô ngã ngửa xuống hào.

Ngài quát lên:

— Mọi thứ về đúng chỗ của nó! Xuống hào mà ở!

Rồi ngài cười phá lên, vì ngài gọi thế là đùa vui. Mọi người cười theo, cả đoàn hò hét ầm ĩ, lũ chó sủa vang.

May sao lúc ngã, cô bé tóm được một cành liễu, nhờ thế mà treo mình được phía trên mặt nước. Ngài nam tước cùng đoàn tuỳ tùng và lũ chó vừa khuất sau cổng, cô bé cố trèo lên, nhưng cành liễu gãy. Cô đã ngã ngửa vào đám lau rồi, nếu ngay lúc ấy không có một bàn tay khoẻ mạnh từ trên chộp lấy cô. Đó là bàn tay của một anh bán hàng rong. Anh đã đứng cách đó không xa, thấy hết mọi chuyện, liền chạy tới giúp.

Anh nhại giọng ngài nam tước cao quý:

— Mọi thứ về đúng chỗ của nó!

Rồi anh kéo cô bé lên chỗ đất khô. Anh muốn gắn cành liễu lại vào chỗ nó vừa gãy, nhưng đâu phải cái gì cũng đưa về được đúng chỗ của nó. Thế là anh cắm cành liễu xuống đất mềm.

Anh nói:

— Mọc đi, lớn đi nếu mày làm được, rồi làm thành một cây sáo thật hay cho cái bọn trên kia.

Anh mà được thấy ngài nam tước và bè lũ bị nện cho một trận ra trò thì anh hả lòng lắm.

Rồi anh vào lâu đài, nhưng không vào phòng tiệc, anh hèn mọn quá, không vào đó được. Anh vào gian nhà của gia nhân. Đám người hầu trai gái xem hàng của anh, mặc cả với anh. Từ bàn tiệc của chủ trên lầu vọng xuống những tiếng gào thét om sòm. Họ gọi thế là hát, mà quả họ cũng đã cố hết sức. Qua cửa sổ mở vọng ra tiếng cười và tiếng chó tru. Họ đang ăn uống, chè chén. Rượu vang và bia nặng sủi bọt trong ly, trong vò. Những con chó cưng ăn chung bàn với chủ. Thỉnh thoảng mấy ông điền chủ lại hôn một con chó, sau khi đã lấy khăn bàn chùi mõm nó.

Họ gọi anh bán hàng rong lên, chỉ để giễu anh. Rượu đã bốc lên đầu, lý trí đã bỏ họ mà đi. Họ đổ bia vào một chiếc bít tất bắt anh uống cùng, mà phải uống nhanh. Họ gọi thế là vui, và cười ngặt nghẽo. Rồi đồng cỏ, nông dân, trang trại được đặt cả lên một quân bài, và thua sạch.

Cuối cùng, khi đã thoát ra được cái nơi mà anh gọi là chốn tội lỗi ấy, anh bán hàng rong nói:

— Mọi thứ về đúng chỗ của nó! Đường cái rộng thênh thang mới là chỗ của mình. Trên kia mình chẳng thấy yên lòng chút nào.

Cô bé vẫn đang chăn ngỗng gật đầu chào anh thân mật khi anh đi qua cổng.

Ngày và tuần trôi qua. Người ta thấy cành liễu gãy mà anh bán hàng rong cắm xuống bên hào vẫn tươi xanh, lại còn đâm thêm chồi mới. Cô bé chăn ngỗng thấy cành liễu đã bén rễ thì mừng lắm. Cô bảo cây liễu ấy bây giờ là cây của cô.

Cây thì lớn lên, còn mọi thứ khác trong lâu đài thì đi xuống, vì chè chén và cờ bạc, hai cái bánh lăn mà chẳng ai đứng vững được trên đó. Chưa đầy sáu năm sau, ngài nam tước bước ra khỏi cổng lâu đài của mình như một kẻ ăn mày khố rách. Còn trang viên thì đã bị một thương gia giàu có mua lại. Ông ta chính là anh bán hàng rong ngày nào bị người ta giễu cợt, bị bắt uống bia đựng trong bít tất. Nhưng thật thà và chăm chỉ thì đưa người ta tiến lên, và giờ anh bán hàng rong đã là chủ trang viên của nam tước. Từ đó trở đi, ở đây cấm đánh bài.

Ông nói:

— Đó là trò tiêu khiển xấu xa. Hồi quỷ sứ lần đầu trông thấy cuốn Kinh Thánh, nó muốn làm ra một thứ nhại lại để chống đối, thế là nó bày ra cỗ bài.

Ông chủ mới của trang viên lấy vợ. Ông lấy ai? Ông lấy chính cô bé chăn ngỗng, người lúc nào cũng hiền lành tốt bụng, mặc quần áo mới vào trông đẹp như một tiểu thư dòng dõi. Mọi chuyện đã diễn ra thế nào? Kể ra thì dài quá đối với thời buổi bận rộn của chúng ta, nhưng chuyện ấy có thật, và những điều quan trọng nhất thì còn chưa kể.

Bây giờ sống trong trang viên cũ thật dễ chịu, vui vẻ. Bà mẹ trông nom việc nhà, ông bố coi sóc việc ngoài, và họ làm ăn thịnh vượng lắm. Ở đâu thật thà dẫn đường thì ở đó phồn vinh theo sau. Toà nhà cổ được sửa sang, sơn phết lại. Hào được nạo vét, cây ăn trái được trồng thêm. Đâu đâu cũng ấm cúng, dễ chịu, sàn nhà trắng bóng như mặt bàn. Những tối mùa đông dài, bà chủ cùng các cô hầu ngồi quay sợi trong gian sảnh lớn. Chủ nhật nào ông cố vấn cũng đọc to một đoạn Kinh Thánh. Ông được phong danh hiệu cố vấn, dù chỉ là lúc đã về già. Con cái họ, vì họ có con, đều được dạy dỗ tử tế nhất, nhưng không phải đứa nào cũng sáng dạ như nhau, nhà nào cũng thế cả.

Trong khi đó, cây liễu bên cầu treo đã lớn thành một cây cổ thụ tuyệt đẹp. Nó đứng đó, tự do, chưa bao giờ bị cắt tỉa.

Hai ông bà bảo con cái:

— Đó là cây gia phả của nhà ta, cho nên phải kính trọng nó.

Một trăm năm trôi qua. Đã đến thời của chúng ta. Cái hồ đã thành đầm lầy. Cả trang viên của nam tước như đã biến mất. Một vũng nước bên mấy bức tường đổ nát là tất cả những gì còn lại của những con hào sâu. Và ở đó vẫn đứng một cây cổ thụ tuyệt đẹp, cành rủ xuống. Đó chính là cây gia phả.

Nó đứng đó, cho thấy một cây liễu có thể đẹp đến thế nào nếu người ta để yên cho nó. Thân cây, thật ra, đã nứt toác ở giữa từ gốc lên tới ngọn. Bão gió đã làm nó hơi nghiêng đi, nhưng nó vẫn đứng vững. Từ mọi kẽ nứt, mọi khe hở mà gió mưa đã mang đất tới, cỏ và hoa nhô lên. Nhất là trên cao, chỗ những cành lớn tách ra, có hẳn một khu vườn treo, mâm xôi dại và dương xỉ lưỡi nai mọc tốt um, đến cả một nhánh tầm gửi nhỏ cũng bén rễ, uyển chuyển vươn mình giữa những cành liễu già. Bóng cây in xuống làn nước sẫm bên dưới mỗi khi gió dồn đám bèo cám vào góc vũng. Một lối mòn băng qua cánh đồng chạy sát bên gốc cây già.

Trên cao, trên sườn đồi có rừng, là toà trang viên mới. Nó nhìn ra một cảnh tuyệt đẹp, to lớn và lộng lẫy. Kính cửa sổ trong đến nỗi tưởng như chẳng có kính. Bậc thềm lớn dẫn lên cửa chính trông như một giàn hoa phủ đầy hoa hồng và những cây lá to. Thảm cỏ xanh mướt như thể sáng tối người ta lau từng ngọn cỏ một. Trong sảnh treo những bức tranh sơn dầu quý giá. Ở đây có ghế, có trường kỷ bọc lụa bọc nhung, gắn bánh xe đẩy đi đâu cũng dễ. Có những chiếc bàn mặt đá cẩm thạch bóng loáng, có những cuốn sách bìa da dê mạ vàng. Quả thật ở đây là những người giàu sang, danh giá. Đó là nhà của ngài nam tước và gia đình. Vật nào cũng hợp với chung quanh.

"Mọi thứ về đúng chỗ của nó" cũng là phương châm của người ở đây. Cho nên tất cả những bức tranh xưa kia từng là niềm vinh dự của toà trang viên cũ, giờ bị treo ở hành lang dẫn xuống chỗ gia nhân. Toàn là đồ cũ bỏ đi, nhất là hai bức chân dung. Một bức vẽ một người đàn ông mặc áo đỏ thắm, đội tóc giả. Bức kia vẽ một bà tóc rắc phấn, uốn quăn, tay cầm một bông hồng. Quanh mỗi bức đều có một vòng hoa lớn kết bằng cành liễu. Cả hai bức đều thủng lỗ chỗ, vì mấy cậu con trai của ngài nam tước lấy hai ông bà già ấy làm bia tập bắn nỏ. Đó là ông cố vấn và vợ ông, tổ tiên của cả dòng họ.

Một cậu nói:

— Nhưng họ đâu thật sự thuộc dòng họ mình. Ông ấy là người bán hàng rong, bà ấy chăn ngỗng. Họ đâu có giống bố mẹ mình.

Hai bức chân dung là đồ cũ bỏ đi, và "mọi thứ về đúng chỗ của nó". Vì thế mà ông bà cố bị treo ở hành lang dẫn xuống chỗ gia nhân.

Con trai ông mục sư làng là thầy giáo dạy học trong trang viên. Một hôm anh dẫn mấy cậu học trò nhỏ và cô chị cả của chúng, cô vừa chịu lễ thêm sức, đi dạo qua cánh đồng. Họ đi theo con đường chạy ngang cây liễu già. Vừa đi, cô vừa hái một bó hoa đồng nội. "Mọi thứ về đúng chỗ của nó", và quả là bó hoa trông đẹp lắm. Cô lắng nghe mọi điều mọi người nói, và rất thích nghe anh con trai ông mục sư nói về các hiện tượng tự nhiên, về những người đàn ông, đàn bà vĩ đại trong lịch sử. Cô có một tâm hồn lành mạnh, ý nghĩ và việc làm đều cao thượng, trái tim chan chứa yêu thương mọi vật Trời sinh ra.

Họ dừng lại bên cây liễu già, vì cậu út con ngài nam tước rất muốn có một cây sáo làm từ cây này, như những cây sáo người ta đã cắt từ những cây liễu khác cho cậu. Anh con trai ông mục sư bẻ một cành.

Cô gái kêu lên:

— Ôi, xin anh đừng!

Nhưng cành đã gãy rồi. Cô nói tiếp:

— Đây là cây cổ thụ nổi tiếng của nhà em. Em yêu nó lắm. Ở nhà người ta hay cười em vì chuyện ấy, nhưng em không cần. Cây này có một câu chuyện.

Rồi cô kể cho anh nghe tất cả những gì ta đã biết về cái cây, về toà trang viên cũ, về anh bán hàng rong và cô bé chăn ngỗng đã gặp nhau lần đầu ở chính chỗ này, rồi trở thành tổ tiên của dòng họ quý tộc mà cô là con cháu.

Cô nói:

— Hai ông bà già tốt bụng ấy không muốn được phong tước. Phương châm của họ là "mọi thứ về đúng chỗ của nó", và họ cho rằng bỏ tiền ra mua tước vị là không đúng. Ông nội em, vị nam tước đầu tiên, là con trai họ. Người ta bảo ông là người rất uyên bác, được các hoàng tử, công chúa quý mến lắm, ngày hội nào trong cung cũng được mời. Những người khác trong nhà yêu ông nhất. Nhưng em không hiểu vì sao, em lại thấy ở hai ông bà già có một cái gì đó níu lấy lòng mình. Trong toà trang viên cũ hẳn là ấm cúng lắm, đầm ấm như một gia đình xưa, bà chủ ngồi quay sợi cùng các cô hầu, còn chồng bà đọc to Kinh Thánh!

Anh con trai ông mục sư nói:

— Hẳn họ là những người tuyệt vời, hiểu lẽ phải.

Rồi câu chuyện tự nhiên chuyển sang giới quý tộc và giới bình dân. Nghe cách anh thầy giáo nói về ý nghĩa của dòng dõi quý tộc, người ta gần như tưởng anh không phải con nhà thường dân.

Anh nói:

— Sinh ra trong một gia đình có những người làm rạng danh, mang trong mình một cái cựa thúc ta vươn tới mọi điều tốt đẹp, ấy là một điều may mắn. Thuộc về một dòng họ quý tộc, có một cái tên như tấm thẻ mở cửa vào những giới cao sang nhất, ấy là một điều tuyệt diệu. Dòng dõi quý tộc là một sự phân biệt, là đồng tiền vàng mang dấu ấn giá trị của chính nó. Thời nay có một cái lầm, nhiều nhà thơ cũng nói theo, rằng cái gì quý tộc cũng xấu xa và ngu ngốc, còn càng xuống thấp trong đám người nghèo thì càng gặp nhiều đức tính sáng ngời. Tôi không nghĩ thế, vì như thế là sai. Ở giới thượng lưu, người ta thấy nhiều nét đẹp cảm động. Chính mẹ tôi đã kể cho tôi nghe những chuyện như thế, tôi kể ra được mấy chuyện. Một hôm mẹ tôi tới thăm nhà một vị quý tộc trên tỉnh. Hình như bà ngoại tôi ngày xưa từng là vú nuôi của bà chủ nhà hồi bà còn nhỏ. Mẹ tôi và vị quý tộc đang ngồi một mình trong phòng thì ông chợt trông thấy một bà cụ chống nạng tập tễnh đi vào sân. Chủ nhật nào bà cũng tới để nhận một món quà mang về.

"Bà cụ đáng thương đến kia rồi," vị quý tộc nói. "Bà ấy đi lại khó nhọc quá."

Mẹ tôi chưa kịp hiểu ông nói gì thì ông đã ra khỏi phòng, xuống cầu thang, để bà cụ khỏi phải lê bước vất vả đến lấy quà. Tất nhiên đó chỉ là một chuyện nhỏ, nhưng nó có một âm vang đẹp, như hai đồng xu của bà goá nghèo trong Kinh Thánh, cái âm vang dội tận đáy lòng mỗi con người. Đó là điều nhà thơ phải cho người ta thấy, phải chỉ ra, nhất là trong thời buổi của chúng ta, nhà thơ phải ca ngợi điều ấy. Nó làm điều tốt, nó xoa dịu, nó hoà giải! Còn khi một người, chỉ vì sinh ra trong dòng quý tộc và có gia phả, mà chồm lên hai chân sau, hí vang ngoài phố như một con ngựa Ả Rập, và mỗi lần có một người thường dân bước vào phòng thì lại nói: "Vừa có mấy kẻ ngoài đường vào đây", thì ở đó dòng dõi quý tộc đang mục ruỗng. Nó đã thành một chiếc mặt nạ trên sân khấu, và thật đáng cười khi kẻ như thế bị đem ra châm biếm.

Bài nói của anh thầy giáo là thế, hơi dài một chút, nhưng trong lúc nói anh cũng đã gọt xong cây sáo.

Ở trang viên có một buổi tiệc lớn. Rất nhiều khách khứa quanh vùng và từ kinh đô đã tới. Có những bà mặc áo đẹp, có những bà mặc áo chẳng ra sao. Gian sảnh lớn chật ních người. Các ông mục sư khiêm tốn đứng túm tụm trong một góc, trông như đang chuẩn bị đi đưa đám, nhưng đây là một buổi hội, có điều cuộc vui chưa bắt đầu. Sắp có một buổi hoà nhạc lớn, vì thế cậu út con ngài nam tước đã mang theo cây sáo liễu của mình. Nhưng cậu thổi không ra tiếng, bố cậu thổi cũng không ra, nên cây sáo coi như vô dụng.

Có nhạc, có hát, thứ nhạc thứ hát làm vui lòng nhất là chính những người đang biểu diễn. Ngoài cái đó ra thì cũng hay lắm!

Một chàng công tử, thứ cậu ấm chỉ có mỗi cái tài là con ông bố mình, hỏi anh thầy giáo:

— Anh là nghệ sĩ à? Anh thổi sáo, anh tự làm lấy cây sáo. Thiên tài mới là kẻ cầm quyền, chỗ danh dự phải dành cho anh!

Anh thầy giáo đáp:

— Đâu có! Tôi chỉ đi theo thời thế thôi, mà cái đó thì ai cũng phải thế.

Chàng công tử nói:

— Tôi mong anh sẽ làm cho tất cả chúng tôi vui thích với cây đàn nhỏ này, phải không nào?

Nói rồi chàng đưa cho anh thầy giáo cây sáo cắt từ cây liễu bên vũng nước, và lớn tiếng tuyên bố rằng anh thầy giáo muốn độc tấu sáo. Rõ ràng là họ muốn trêu anh. Vì thế anh thầy giáo từ chối, dù anh thổi sáo rất giỏi. Nhưng họ nài nỉ, cố nài mãi, cuối cùng anh đành cầm sáo lên môi.

Đó là một cây sáo kỳ diệu! Tiếng nó rít lên như còi đầu máy hơi nước, mà còn mạnh hơn thế nhiều, vì nó vang ra sân, ra vườn, vào rừng, khắp vùng quê xa hàng dặm. Cùng lúc ấy, một cơn bão nổi lên gào rú: "Mọi thứ về đúng chỗ của nó!"

Thế là ngài nam tước, như bị gió cuốn, bay vèo ra khỏi sảnh, thẳng vào túp lều của người chăn cừu. Còn người chăn cừu thì bị gió cuốn bay đi, không phải vào sảnh, chỗ ấy ông không tới được, mà vào gian nhà gia nhân, giữa đám người hầu sang trọng đi đi lại lại trong đôi bít tất lụa. Đám gia nhân kiêu kỳ ấy kinh hoàng khi thấy một kẻ như thế dám ngồi cùng bàn với họ.

Còn trong sảnh, cô con gái ngài nam tước bay tới chỗ danh dự ở đầu bàn, cô xứng đáng ngồi ở đó. Anh con trai ông mục sư được ngồi ngay cạnh cô. Hai người ngồi đó như một cặp cô dâu chú rể. Một ông bá tước già, thuộc một trong những dòng họ lâu đời nhất nước, vẫn ngồi yên ở chỗ danh dự của mình, chẳng bị đụng tới. Cây sáo công bằng lắm, mà công bằng là bổn phận. Chàng công tử lẻo mép, kẻ đã xui người ta thổi sáo, cậu ấm con ông bố mình, thì bay lộn đầu vào chuồng gà, mà không phải chỉ một mình chàng.

Tiếng sáo vang xa cả dặm, và những chuyện lạ lùng xảy ra. Một gia đình chủ nhà băng giàu có đang ngồi trên cỗ xe bốn ngựa thì bị thổi văng ra ngoài, đến cả một chỗ đứng sau đuôi xe cùng đám người hầu cũng chẳng còn. Hai ông chủ trại giàu có, những người thời nay đã vọt lên cao hơn cả đồng lúa của mình, bị hất xuống hào. Đúng là một cây sáo nguy hiểm! May sao ngay tiếng đầu tiên nó đã vỡ toác, thế cũng tốt, vì nó lại được nhét vào túi chủ nó, "đúng chỗ của nó".

Hôm sau, chẳng ai hé răng nói một lời về những gì đã xảy ra. Mọi thứ lại đâu vào đấy như thường, chỉ trừ một điều: hai bức chân dung cũ của anh bán hàng rong và cô bé chăn ngỗng giờ treo trong phòng tiệc. Chúng ở trên tường như bị gió thổi lên đó. Lại có một người sành tranh thật sự bảo rằng chúng do một bậc thầy vẽ, thế là chúng được ở lại đó và được tu sửa.

"Mọi thứ về đúng chỗ của nó", rồi sẽ đến như thế. Cõi vĩnh hằng thì dài lắm, dài hơn nhiều so với câu chuyện này.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảHans Christian Andersen (1805 – 1875)
Năm mất1875
Xuất bản lần đầu1853
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Alt paa sin rette Plads, 1853 (dịch qua bản tiếng Anh của H. B. Paull)
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →