Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Cô bé trong ống tre và năm chàng hiệp sĩ

Nàng công chúa ống tre · Chương 1/2 · của Yei Theodora Ozaki

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 17.885 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Ngày xửa ngày xưa, có một ông lão đốn…
  2. 2:29Dường như cô được làm ra từ ánh sáng,…
  3. 5:21Nhận được câu trả lời cứng rắn ấy, năm…
  4. 7:21"Cha tìm thấy con," ông lão đáp, "nhiều năm…
  5. 9:41Chàng hiệp sĩ thứ ba được bảo sang Trung…
  6. 11:46Chàng ra tới bờ biển, lên một chiếc thuyền…
  7. 15:06Thế là trò lừa của chàng hiệp sĩ này…
  8. 18:03Quan trấn thủ vùng ấy nghe tin chàng gặp…

Chương 1: Cô bé trong ống tre và năm chàng hiệp sĩ

Ngày xửa ngày xưa, có một ông lão đốn tre. Ông nghèo lắm, lại buồn nữa, vì trời chẳng ban cho ông đứa con nào để vui lúc tuổi già, nên trong lòng ông chẳng còn hy vọng gì được nghỉ ngơi, cứ phải làm lụng cho tới khi chết đi, nằm xuống nấm mồ yên lặng. Sáng nào ông cũng đi vào rừng, lên đồi, tới những nơi cây tre vươn những ngọn lông vũ xanh mềm mại lên nền trời. Chọn xong, ông đốn những chiếc lông vũ của rừng ấy xuống, chẻ dọc, hoặc cắt thành từng đốt, vác tre về nhà làm thành đủ thứ đồ dùng trong nhà. Hai ông bà lão kiếm sống chật vật nhờ bán những món đồ ấy.

Một buổi sáng, như thường lệ, ông lão đi làm. Tìm được một bụi tre đẹp, ông bắt tay vào đốn mấy cây. Bỗng khu rừng tre xanh tràn ngập một thứ ánh sáng dịu dàng rực rỡ, như thể trăng rằm vừa mọc lên ngay chỗ ấy. Ông kinh ngạc nhìn quanh, thì thấy ánh sáng chói loà ấy toả ra từ một cây tre.

Ông lão vô cùng ngạc nhiên, buông rìu, đi về phía ánh sáng. Lại gần, ông thấy ánh sáng dịu dàng ấy toả ra từ một khoang rỗng trong thân tre xanh. Kỳ diệu hơn nữa, giữa vùng sáng ấy có một người tí hon đứng đó, cao chỉ chừng ba đốt ngón tay, đẹp tuyệt trần.

"Hẳn là trời sai con xuống làm con ta, vì ta tìm thấy con ở đây, giữa rừng tre, nơi ta làm việc hằng ngày," ông lão nói. Rồi ông nâng sinh vật bé nhỏ trong lòng bàn tay, mang về cho vợ nuôi.

Cô bé tí hon đẹp quá, mà lại bé quá, nên bà lão đặt cô vào một cái giỏ để giữ cho cô khỏi bị tổn hại dù chỉ một chút.

Giờ hai ông bà lão hạnh phúc lắm, vì suốt đời hai ông bà vẫn tiếc nuối không có con. Hai ông bà vui sướng dồn hết tình thương lúc tuổi già cho đứa bé đã tới với mình một cách kỳ diệu như thế.

Từ đó, ông lão thường thấy vàng trong các đốt tre mỗi khi ông đốn tre xuống mà cắt ra. Không chỉ vàng, mà cả đá quý nữa, nên dần dần ông trở nên giàu có. Ông dựng một ngôi nhà đẹp, người ta không còn biết tới ông như một ông lão đốn tre nghèo, mà như một người giàu có.

Ba tháng trôi qua nhanh chóng. Trong ba tháng ấy, nói ra thật kỳ lạ, đứa bé trong ống tre đã trở thành một thiếu nữ trưởng thành. Cha mẹ nuôi búi tóc cho cô, mặc cho cô những chiếc ki-mô-nô đẹp. Cô đẹp đến mức hai ông bà để cô ngồi sau bức bình phong như một nàng công chúa, không cho ai thấy mặt, tự tay hầu hạ cô.

Dường như cô được làm ra từ ánh sáng, vì cả ngôi nhà tràn ngập một thứ ánh sáng dịu dàng, đến nỗi ngay cả lúc đêm tối cũng sáng như ban ngày. Sự có mặt của cô như mang lại điều lành cho mọi người ở đó. Hễ ông lão thấy buồn, ông chỉ cần nhìn cô con gái nuôi là nỗi buồn tan biến, ông lại vui như hồi còn trai trẻ.

Cuối cùng đã tới ngày đặt tên cho đứa con mới tìm được. Hai ông bà lão mời một người đặt tên nổi tiếng tới. Ông đặt tên cô là Công chúa Ánh Trăng, vì người cô toả ra bao nhiêu ánh sáng dịu dàng rực rỡ, như thể cô là con gái của thần Mặt Trăng.

Suốt ba ngày liền, tiệc mừng diễn ra với ca hát, nhảy múa, đàn nhạc. Bạn bè, họ hàng của hai ông bà lão đều có mặt, ai nấy vui thích vô cùng trong những ngày hội mừng đặt tên cho Công chúa Ánh Trăng. Ai thấy nàng cũng bảo chưa từng thấy ai đáng yêu đến thế. Họ bảo mọi người đẹp khắp chiều dài chiều rộng đất nước này đứng cạnh nàng cũng phải nhợt nhạt đi. Tiếng tăm về vẻ đẹp của công chúa lan khắp nơi, biết bao chàng trai muốn được cưới nàng, hay chỉ cần được nhìn thấy nàng thôi cũng được.

Những chàng trai cầu hôn từ gần từ xa tới đứng chực bên ngoài ngôi nhà, khoét những lỗ nhỏ trên hàng rào, mong thoáng thấy bóng công chúa khi nàng đi từ phòng này sang phòng khác dọc hiên nhà. Họ đứng đó ngày đêm, bỏ cả giấc ngủ để mong có dịp thấy nàng, nhưng tất cả đều vô ích. Rồi họ tới gần ngôi nhà, cố nói chuyện với ông bà lão hay mấy người hầu, nhưng đến điều ấy họ cũng chẳng được.

Thế nhưng, dù thất vọng như thế, họ vẫn ở lại ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm khác, coi mọi khó nhọc chẳng là gì, vì lòng khao khát được thấy công chúa của họ lớn quá.

Nhưng rồi cuối cùng, phần đông thấy việc mình theo đuổi vô vọng quá, mất cả can đảm lẫn hy vọng, bèn về nhà. Chỉ trừ năm chàng hiệp sĩ, lòng nhiệt thành và quyết tâm của họ chẳng những không nguội đi, mà dường như càng gặp trở ngại càng mãnh liệt hơn. Năm chàng trai này nhịn cả bữa, ai mang tới cái gì thì ăn vội cái ấy, để lúc nào cũng đứng được bên ngoài ngôi nhà. Họ đứng đó bất kể trời nắng hay trời mưa.

Có khi họ viết thư cho công chúa, nhưng chẳng được hồi âm. Thấy thư không được trả lời, họ làm thơ gửi nàng, kể về mối tình vô vọng khiến họ mất ăn, mất ngủ, chẳng nghỉ ngơi, thậm chí bỏ cả nhà cửa. Vậy mà Công chúa Ánh Trăng vẫn chẳng tỏ dấu hiệu gì là đã nhận được thơ của họ.

Mùa đông trôi qua trong cảnh vô vọng ấy. Tuyết, sương giá và gió lạnh dần nhường chỗ cho hơi ấm dịu dàng của mùa xuân. Rồi mùa hè tới, mặt trời trắng chói thiêu đốt cả bầu trời lẫn mặt đất, mà những chàng hiệp sĩ chung thuỷ ấy vẫn đứng canh, vẫn chờ đợi. Cuối những tháng dài ấy, họ gọi ông lão đốn tre, van xin ông thương tình cho họ gặp công chúa. Nhưng ông chỉ đáp rằng ông không phải cha đẻ của nàng, nên không thể bắt nàng nghe lời ông trái với ý nàng.

Nhận được câu trả lời cứng rắn ấy, năm chàng hiệp sĩ ai về nhà nấy, suy nghĩ xem làm cách nào tốt nhất để lay động trái tim kiêu hãnh của công chúa, dù chỉ để nàng chịu nghe họ nói. Họ cầm tràng hạt, quỳ trước bàn thờ trong nhà, đốt hương trầm quý, cầu Phật cho họ được toại nguyện. Mấy ngày trôi qua như thế, nhưng dù vậy họ vẫn chẳng yên lòng ở nhà được.

Thế là họ lại lên đường tới nhà ông lão đốn tre. Lần này ông lão ra gặp họ. Họ xin ông cho biết có phải công chúa đã quyết không bao giờ gặp bất kỳ người đàn ông nào không. Họ van ông nói giúp với nàng, kể cho nàng biết tình yêu của họ lớn đến thế nào, họ đã chờ đợi bao lâu qua cái lạnh mùa đông, cái nóng mùa hè, không ngủ, không mái che dưới mọi thời tiết, không ăn, không nghỉ, tha thiết mong cưới được nàng. Họ sẵn lòng coi những ngày canh chờ dài đằng đẵng ấy là niềm vui, chỉ cần nàng cho họ một cơ hội được giãi bày với nàng.

Ông lão vui lòng nghe họ kể chuyện tình, vì tận đáy lòng ông thương những chàng trai chung thuỷ ấy, mà ông cũng muốn thấy cô con gái nuôi xinh đẹp của mình lấy một trong số họ. Ông bèn vào gặp Công chúa Ánh Trăng, kính cẩn nói:

"Tuy lúc nào cha cũng thấy con như người nhà trời, nhưng cha đã nhọc công nuôi con như con đẻ, và con đã vui lòng sống dưới mái nhà che chở của cha. Lẽ nào con từ chối làm theo ý cha?"

Công chúa Ánh Trăng đáp rằng chẳng có gì nàng không làm vì ông, rằng nàng kính yêu ông như cha đẻ, còn về phần nàng, nàng không còn nhớ gì về thời gian trước khi nàng tới mặt đất.

Ông lão vui sướng vô cùng khi nghe những lời hiếu thảo ấy. Rồi ông nói với nàng rằng ông nóng lòng muốn thấy nàng lấy chồng yên ổn, hạnh phúc trước khi ông chết.

"Cha già rồi, đã ngoài bảy mươi tuổi, cái chết có thể tới bất cứ lúc nào. Con cần phải gặp năm chàng trai cầu hôn này, chọn lấy một người, đó là điều cần thiết và phải lẽ."

"Ôi, sao con lại phải làm thế?" công chúa đau khổ nói. "Giờ con chẳng muốn lấy chồng."

"Cha tìm thấy con," ông lão đáp, "nhiều năm trước, khi con chỉ là một sinh vật bé nhỏ cao chừng ba đốt ngón tay, giữa một vùng ánh sáng trắng rực rỡ. Ánh sáng ấy toả ra từ cây tre nơi con nấp, dẫn cha tới chỗ con. Vì thế cha vẫn luôn nghĩ con không phải một người đàn bà trần thế. Khi cha còn sống, con muốn cứ như thế này cũng phải thôi. Nhưng một ngày nào đó cha sẽ không còn nữa, khi ấy ai sẽ chăm sóc con? Vì thế cha xin con hãy lần lượt gặp năm chàng trai can đảm này, rồi quyết định lấy một người."

Công chúa đáp rằng nàng tin chắc mình không đẹp như lời đồn đại. Mà dù nàng có bằng lòng lấy một người trong số họ, thì vì người ấy không thật sự hiểu nàng từ trước, về sau lòng người ấy có thể đổi thay. Vì thế, vì không tin chắc ở họ, dù cha nàng bảo họ là những hiệp sĩ xứng đáng, nàng vẫn thấy gặp họ là không khôn ngoan.

"Những điều con nói rất có lý," ông lão nói, "nhưng con bằng lòng gặp những người thế nào? Cha không gọi năm chàng trai đã chờ con mấy tháng trời là những kẻ hời hợt. Họ đã đứng bên ngoài ngôi nhà này suốt mùa đông lẫn mùa hè, nhiều khi nhịn ăn nhịn ngủ để mong cưới được con. Con còn đòi hỏi gì hơn nữa?"

Công chúa Ánh Trăng bèn nói nàng phải thử thêm tình yêu của họ, rồi mới chấp thuận cho họ gặp. Năm chàng chiến binh phải chứng tỏ tình yêu bằng cách mỗi người mang về cho nàng từ những xứ xa xôi một vật nàng muốn có.

Ngay tối hôm ấy, những chàng trai cầu hôn tới, lần lượt thổi sáo, hát những bài ca tự sáng tác kể về tình yêu lớn lao không mỏi mệt của mình. Ông lão đốn tre ra gặp họ, bày tỏ lòng cảm thông vì những gì họ đã chịu đựng, vì sự kiên nhẫn họ đã tỏ ra trong lòng khao khát cưới được con gái nuôi của ông. Rồi ông truyền lời nhắn của nàng: nàng sẽ bằng lòng lấy bất kỳ ai mang về được vật nàng muốn. Đó là để thử thách họ.

Cả năm người đều nhận lời thử thách, cho đó là một cách rất hay, vì nó sẽ tránh cho họ khỏi ghen tị nhau.

Công chúa Ánh Trăng bèn nhắn chàng hiệp sĩ thứ nhất rằng nàng muốn chàng mang về cho nàng chiếc bát đá từng là của Đức Phật ở Ấn Độ.

Chàng hiệp sĩ thứ hai được yêu cầu tới núi Bồng Lai, nghe nói nằm ở Biển Đông, mang về cho nàng một cành của cây kỳ diệu mọc trên đỉnh núi. Rễ cây ấy bằng bạc, thân bằng vàng, cành kết những viên ngọc trắng làm quả.

Chàng hiệp sĩ thứ ba được bảo sang Trung Hoa tìm con chuột lửa, mang về cho nàng bộ da của nó.

Chàng hiệp sĩ thứ tư được bảo đi tìm con rồng mang trên đầu viên ngọc toả ánh sáng năm màu, rồi mang viên ngọc ấy về cho nàng.

Chàng hiệp sĩ thứ năm phải tìm con chim én mang trong bụng một chiếc vỏ sò, rồi mang chiếc vỏ sò ấy về cho nàng.

Ông lão nghĩ đây là những việc khó quá, ngần ngại không muốn chuyển lời. Nhưng công chúa không chịu đặt điều kiện nào khác. Thế là lời yêu cầu của nàng được truyền đạt từng chữ một tới năm chàng trai. Nghe những gì người ta đòi hỏi mình, cả năm người đều nản lòng, chán ngán vì những việc được giao dường như không thể làm nổi, tuyệt vọng trở về nhà.

Nhưng ít lâu sau, khi nghĩ tới công chúa, tình yêu trong lòng họ lại bừng lên, và họ quyết định thử tìm cho được vật nàng đòi hỏi.

Chàng hiệp sĩ thứ nhất nhắn với công chúa rằng ngay hôm ấy chàng lên đường đi tìm chiếc bát của Đức Phật, mong sớm mang về cho nàng. Nhưng chàng không đủ can đảm đi tận Ấn Độ, vì thời ấy đi đường rất khó khăn, đầy hiểm nguy. Chàng bèn tới một ngôi chùa ở Ky-ô-tô, lấy một chiếc bát đá trên bàn thờ, trả cho nhà sư một khoản tiền lớn. Rồi chàng gói nó trong một tấm vải thêu vàng, lặng lẽ chờ ba năm, rồi trở về mang tới cho ông lão.

Công chúa Ánh Trăng lấy làm lạ sao chàng hiệp sĩ trở về sớm thế. Nàng lấy chiếc bát ra khỏi lớp vải vàng, tưởng nó sẽ làm cả căn phòng sáng rực. Nhưng nó chẳng sáng chút nào, nên nàng biết đó là đồ giả, không phải chiếc bát thật của Đức Phật. Nàng trả lại ngay, không chịu gặp chàng. Chàng hiệp sĩ vứt chiếc bát đi, tuyệt vọng trở về nhà. Giờ chàng đã từ bỏ mọi hy vọng cưới được công chúa.

Chàng hiệp sĩ thứ hai bảo cha mẹ mình cần đi đổi gió cho khoẻ người, vì chàng xấu hổ không dám nói rằng tình yêu với Công chúa Ánh Trăng mới là lý do thật khiến chàng ra đi. Rồi chàng rời nhà, đồng thời nhắn với công chúa rằng chàng đang lên đường tới núi Bồng Lai, mong lấy được cho nàng một cành cây vàng bạc nàng hằng ao ước. Chàng chỉ cho gia nhân đi theo nửa đường rồi cho họ về.

Chàng ra tới bờ biển, lên một chiếc thuyền nhỏ. Đi được ba ngày, chàng lên bờ, thuê mấy người thợ mộc dựng cho mình một ngôi nhà được thiết kế sao cho không ai vào được. Rồi chàng tự nhốt mình trong đó cùng sáu người thợ kim hoàn lành nghề, cố làm một cành cây vàng bạc mà chàng nghĩ sẽ khiến công chúa tin là lấy từ cây kỳ diệu trên núi Bồng Lai. Vì ai chàng hỏi cũng bảo núi Bồng Lai chỉ có trong truyện cổ, chứ chẳng có thật.

Làm xong cành cây, chàng lên đường về nhà, cố làm ra vẻ mệt mỏi, kiệt sức sau chuyến đi xa. Chàng đặt cành cây nạm ngọc vào một chiếc hộp sơn mài, mang tới cho ông lão đốn tre, xin ông dâng lên công chúa.

Ông lão bị vẻ ngoài phong trần của chàng hiệp sĩ đánh lừa hoàn toàn, tưởng chàng vừa mới trở về sau chuyến đi xa mang theo cành cây. Ông bèn cố thuyết phục công chúa bằng lòng gặp chàng. Nhưng nàng vẫn im lặng, trông rất buồn. Ông lão bắt đầu lấy cành cây ra, khen nó là báu vật kỳ diệu khắp đất nước không đâu có. Rồi ông nói về chàng hiệp sĩ, chàng đẹp trai, can đảm biết bao khi dám đi tới một nơi xa xôi như núi Bồng Lai.

Công chúa Ánh Trăng cầm cành cây lên tay, ngắm nghía kỹ càng. Rồi nàng nói với cha nuôi rằng nàng biết người ấy không thể lấy được cành cây vàng bạc trên núi Bồng Lai nhanh chóng và dễ dàng như thế, và nàng tiếc phải nói rằng nàng tin đó là đồ giả.

Ông lão bèn ra gặp chàng hiệp sĩ đang chờ đợi, lúc ấy đã tới gần nhà, hỏi chàng tìm được cành cây ở đâu. Người ấy chẳng ngại bịa ra một câu chuyện dài:

"Hai năm trước, tôi lên một con tàu, bắt đầu đi tìm núi Bồng Lai. Thuận gió đi được một thời gian, tôi tới vùng biển xa tít phía đông. Rồi một cơn bão lớn nổi lên, tôi bị quăng quật nhiều ngày liền, mất hết phương hướng, cuối cùng bị gió đánh dạt vào một hòn đảo lạ. Ở đó tôi thấy toàn quỷ sinh sống, có lúc chúng doạ giết tôi mà ăn thịt. Nhưng tôi đã khéo kết bạn được với những sinh vật ghê rợn ấy, chúng giúp tôi và các thuỷ thủ sửa thuyền, rồi tôi lại giương buồm. Lương thực cạn, trên tàu nhiều người ốm. Cuối cùng, vào ngày thứ năm trăm kể từ ngày lên đường, tôi thấy xa tít ở chân trời một cái gì trông như đỉnh núi. Đến gần, thì ra đó là một hòn đảo, giữa đảo nhô lên một ngọn núi cao. Tôi lên bờ, đi lang thang hai ba ngày, thì thấy một vị thần sáng rực đi về phía tôi trên bãi biển, tay cầm một chiếc bát vàng. Tôi tới gần, hỏi có phải tôi may mắn tìm được đảo núi Bồng Lai không, và người đáp: phải, đây là núi Bồng Lai!

Tôi vất vả lắm mới leo được lên đỉnh. Ở đó có cây vàng, rễ bạc cắm trong đất. Miền đất lạ ấy có nhiều điều kỳ diệu lắm, nếu tôi bắt đầu kể thì không bao giờ dứt được. Dù rất muốn ở lại lâu, bẻ được cành cây rồi tôi vội vã trở về. Đi nhanh hết mức cũng mất bốn trăm ngày mới về tới, và như cụ thấy đấy, quần áo tôi vẫn còn ẩm vì dãi dầu suốt chuyến hải trình dài. Tôi chẳng kịp thay áo, vì nóng lòng muốn mang cành cây tới dâng công chúa cho nhanh."

Đúng lúc ấy, sáu người thợ kim hoàn đã làm cành cây mà chưa được chàng hiệp sĩ trả công, tới nhà, gửi đơn vào xin công chúa trả công cho họ. Họ nói họ đã làm việc hơn một nghìn ngày để làm cái cành vàng có nhánh bạc, quả ngọc, mà giờ chàng hiệp sĩ đang dâng lên nàng, nhưng đến nay họ vẫn chưa được trả đồng nào.

Thế là trò lừa của chàng hiệp sĩ này bị lộ. Công chúa mừng vì thoát được thêm một kẻ cầu hôn dai dẳng, vui vẻ trả lại cành cây. Nàng cho gọi những người thợ vào, trả công họ hậu hĩnh, và họ vui vẻ ra về. Nhưng trên đường về, họ bị kẻ thất vọng kia đuổi kịp, đánh cho gần chết vì tội làm lộ bí mật, mãi mới thoát được mạng. Chàng hiệp sĩ trở về nhà, lòng giận dữ sôi sục. Tuyệt vọng không bao giờ cưới được công chúa, chàng từ bỏ đời sống xã hội, lui về sống cô độc trong núi.

Chàng hiệp sĩ thứ ba có một người bạn ở Trung Hoa, bèn viết thư nhờ bạn kiếm da chuột lửa. Điều kỳ diệu của mọi bộ phận trên con vật này là lửa không đốt được. Chàng hứa sẽ trả cho bạn bao nhiêu tiền cũng được, miễn là kiếm được thứ mình cần. Vừa nghe tin con tàu chở bạn mình về đã cập cảng, chàng phi ngựa bảy ngày liền ra đón. Chàng trao cho bạn một số tiền lớn, nhận lấy bộ da chuột lửa. Về tới nhà, chàng cẩn thận đặt nó vào một chiếc hộp, gửi vào cho công chúa, còn mình đứng bên ngoài chờ câu trả lời.

Ông lão đốn tre nhận chiếc hộp từ tay chàng hiệp sĩ, như thường lệ mang vào cho nàng, cố dỗ nàng gặp chàng hiệp sĩ ngay. Nhưng Công chúa Ánh Trăng không chịu, bảo trước hết nàng phải thử bộ da bằng cách bỏ nó vào lửa. Nếu là đồ thật thì nó sẽ không cháy. Thế là nàng tháo lớp giấy nhiễu bọc ngoài, mở hộp, ném bộ da vào lửa. Bộ da kêu lách tách rồi cháy rụi ngay, và công chúa biết người này cũng không giữ được lời. Thế là chàng hiệp sĩ thứ ba cũng thất bại.

Chàng hiệp sĩ thứ tư cũng chẳng gan dạ hơn những người kia. Thay vì tự lên đường tìm con rồng mang trên đầu viên ngọc toả ánh sáng năm màu, chàng gọi tất cả gia nhân lại, ra lệnh cho họ đi tìm khắp nơi ở Nhật Bản và Trung Hoa, nghiêm cấm không ai được về chừng nào chưa tìm thấy.

Đông đảo gia thần, gia nhân của chàng lên đường đi khắp các hướng, nhưng chẳng ai định tuân theo cái lệnh mà họ cho là không thể làm được. Họ chỉ việc đi nghỉ, cùng nhau tới những vùng quê dễ chịu, cằn nhằn về sự vô lý của chủ.

Trong khi ấy, chàng hiệp sĩ nghĩ gia nhân của mình không thể không tìm thấy viên ngọc, bèn về sửa sang nhà cửa thật đẹp để đón công chúa, vì chàng tin chắc mình sẽ cưới được nàng.

Một năm trôi qua trong chờ đợi mỏi mòn, mà người của chàng vẫn chưa mang ngọc rồng về. Chàng hiệp sĩ tuyệt vọng. Chàng không chờ thêm được nữa, bèn chỉ mang theo hai người, thuê một con tàu, ra lệnh cho thuyền trưởng đi tìm con rồng. Thuyền trưởng và thuỷ thủ không chịu làm cái việc mà họ bảo là đi tìm chuyện hão huyền, nhưng cuối cùng chàng hiệp sĩ cũng ép được họ ra khơi.

Mới đi được vài ngày, họ gặp một cơn bão lớn kéo dài lâu đến mức, khi cơn bão dịu đi, chàng hiệp sĩ đã quyết định bỏ cuộc săn rồng. Cuối cùng họ bị gió đánh dạt vào bờ, vì hồi ấy nghề đi biển còn thô sơ lắm. Kiệt sức vì đường xa và lo lắng, chàng trai cầu hôn thứ tư đành nằm nghỉ. Chàng bị cảm nặng, mặt sưng vù, phải nằm liệt giường.

Quan trấn thủ vùng ấy nghe tin chàng gặp nạn, sai sứ mang thư mời chàng về nhà mình. Ở đó, nghĩ lại mọi nỗi khổ của mình, tình yêu với công chúa của chàng biến thành giận dữ, chàng đổ lỗi cho nàng về mọi gian khổ đã phải chịu. Chàng nghĩ rất có thể nàng muốn chàng chết cho rảnh nợ, nên mới sai chàng đi tìm thứ không thể nào tìm được.

Đúng lúc ấy, tất cả gia nhân chàng sai đi tìm ngọc kéo tới thăm chàng. Họ ngạc nhiên thấy chủ khen ngợi thay vì trách phạt. Chủ của họ bảo chàng đã chán ngấy phiêu lưu rồi, và từ nay về sau chàng chẳng bao giờ định tới gần nhà công chúa nữa.

Cũng như những người khác, chàng hiệp sĩ thứ năm thất bại trong cuộc tìm kiếm. Chàng không tìm được chiếc vỏ sò của chim én.

— Hết chương 1 —

Mục lục Nàng công chúa ống tre

  1. 1Cô bé trong ống tre và năm chàng hiệp sĩ18 phút
  2. 2Thiên hoàng và đêm trăng rằm tháng TámĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảYei Theodora Ozaki (1870 – 1932)
Năm mất1932
Xuất bản lần đầu1908
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Bamboo-cutter and the Moon-child, truyện cổ Nhật Bản; Yei Theodora Ozaki, Japanese Fairy Tales, 1908
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →