Ngày xưa, ở một thành phố bên Ấn Độ có một người bán hương liệu và nước hoa. Ông có một cô con gái rất đẹp tên là Đô-ra-ni. Cô gái có một người bạn là tiên, và hai người được In-đra, vua xứ tiên, hết sức yêu mến, vì họ hát hay, múa khéo, cả xứ tiên chẳng ai bì kịp về vẻ uyển chuyển và duyên dáng.
Đô-ra-ni có mái tóc đẹp nhất trần gian, óng như tơ vàng, toả mùi thơm như hoa hồng mới nở. Nhưng tóc nàng dài và dày tới mức nhiều khi nặng không chịu nổi. Một hôm nàng cắt một lọn tóc óng ánh, gói vào một chiếc lá to, rồi thả xuống dòng sông chảy ngay dưới cửa sổ.
Tình cờ hôm ấy hoàng tử đi săn, xuống bờ sông uống nước. Bỗng có một chiếc lá gói trôi về phía chàng, toả ra mùi hoa hồng thơm ngát. Tò mò, hoàng tử lội một bước xuống nước, chụp lấy chiếc lá đang trôi qua. Chàng mở ra, thấy bên trong một lọn tóc óng như tơ vàng, phảng phất một mùi hương thanh tao tuyệt diệu.
Chiều hôm ấy về tới cung, hoàng tử buồn bã, lặng lẽ tới mức vua cha lo con gặp chuyện chẳng lành, hỏi có chuyện gì. Chàng trai lấy trong ngực áo ra lọn tóc vừa nhặt được dưới sông, giơ lên trước ánh sáng:
— Cha xem này, có bao giờ có mái tóc nào như thế này không? Nếu con không được cưới người con gái có lọn tóc này thì con sẽ chết!
Nhà vua lập tức sai sứ giả đi khắp đất nước tìm người con gái có mái tóc như tơ vàng. Cuối cùng ngài biết được đó là con gái người bán nước hoa. Việc sứ giả đi tìm ai chẳng mấy chốc đã đồn khắp nơi, và Đô-ra-ni cũng nghe như mọi người. Một hôm nàng bảo cha:
— Nếu đó là tóc của con, và nhà vua đòi con phải lấy con trai ngài, thì con phải lấy thôi. Nhưng cha nhớ thưa với ngài rằng nếu sau đám cưới con ở trong cung suốt ngày, thì đêm nào con cũng phải về ngủ ở nhà cũ.
Ông bố nghe con nói mà sửng sốt, nhưng không đáp gì, vì ông biết con gái khôn ngoan hơn mình. Dĩ nhiên lọn tóc ấy là của Đô-ra-ni, và các sứ giả chẳng mấy chốc đã về tâu với nhà vua. Nhà vua cho gọi người bán nước hoa tới, bảo rằng ngài muốn ông gả con gái cho hoàng tử. Ông bố cúi đầu sát đất ba lần, thưa:
— Bệ hạ là chủ của chúng con, bệ hạ dạy gì chúng con cũng xin làm. Con gái con chỉ xin một điều: nếu sau đám cưới nó ở trong cung suốt ngày, thì xin cho nó tối nào cũng được về nhà cha.
Nhà vua thấy lời xin ấy thật kỳ quặc. Nhưng ngài tự nhủ rốt cuộc đó là việc của con trai ngài, vả lại đi đi về về mãi thế nào cô gái cũng chán. Vì thế ngài chẳng làm khó gì. Mọi việc được thu xếp nhanh chóng, và đám cưới được cử hành vô cùng tưng bừng.
Thoạt đầu, cái điều kiện kèm theo cuộc hôn nhân với nàng Đô-ra-ni xinh đẹp chẳng làm hoàng tử bận tâm mấy, vì chàng nghĩ ít ra mình cũng được ngắm cô dâu suốt ngày. Nhưng chàng sững sờ khi thấy nàng chẳng làm gì cả, chỉ ngồi suốt ngày trên một chiếc ghế đẩu, gục đầu xuống đầu gối, và chàng dỗ thế nào nàng cũng không nói lấy một lời. Tối nào nàng cũng ngồi kiệu về nhà cha, sáng nào cũng được đưa trở lại ngay khi trời vừa hửng. Vậy mà chẳng bao giờ một tiếng nào thoát ra khỏi môi nàng, nàng cũng chẳng tỏ dấu hiệu gì là đã thấy, đã nghe, hay đã để tâm tới chồng mình.
Một buổi tối, hoàng tử buồn bã, rối bời, lang thang trong một khu vườn cổ kính xinh đẹp gần cung điện. Người làm vườn là một ông lão rất già, từng hầu hạ cả cụ cố của hoàng tử. Thấy hoàng tử, ông lão tới cúi chào, nói:
— Con ơi, con ơi, sao trông con buồn thế? Có chuyện gì sao?
Hoàng tử đáp:
— Ông bạn già ơi, ta buồn vì ta cưới được người vợ đẹp như sao trời, mà nàng chẳng chịu nói với ta một lời, ta chẳng biết phải làm sao. Đêm nào nàng cũng bỏ ta về nhà cha, ngày nào nàng cũng ngồi trong nhà ta như hoá đá, ta làm gì nói gì nàng cũng chẳng thốt lên một tiếng.
Ông lão đứng nghĩ một lúc, rồi khập khiễng về căn nhà nhỏ của mình. Lát sau ông quay lại, mang theo năm sáu gói nhỏ, đặt vào tay hoàng tử:
— Ngày mai, khi vợ con rời cung, con hãy rắc bột trong một gói này lên người. Con vẫn nhìn thấy rõ mọi thứ, nhưng chẳng ai nhìn thấy con. Ta chỉ giúp được con có thế. Cầu cho mọi sự tốt lành!
Hoàng tử cảm ơn ông lão, cẩn thận cất mấy gói bột vào trong khăn quấn đầu.
Tối hôm sau, khi Đô-ra-ni ngồi kiệu về nhà cha, hoàng tử lấy ra một gói bột thần, rắc lên khắp người, rồi vội vã đi theo nàng. Chẳng mấy chốc chàng thấy đúng như ông lão hứa, không ai nhìn thấy chàng, dù chàng vẫn cảm thấy mình như thường và thấy được mọi chuyện. Chàng nhanh chóng đuổi kịp chiếc kiệu, đi bên cạnh tới tận nhà người bán nước hoa. Kiệu được đặt xuống. Khi cô dâu che mạng kín mít bước ra, đi vào nhà, chàng cũng theo vào mà chẳng ai hay.
Tới cánh cửa thứ nhất, Đô-ra-ni bỏ một lớp mạng. Rồi nàng đi qua một cánh cửa khác ở cuối hành lang, bỏ thêm một lớp mạng. Tiếp đó nàng lên cầu thang, tới cửa khu dành cho phụ nữ, bỏ lớp mạng thứ ba. Xong nàng về phòng riêng. Trong phòng đặt sẵn hai chậu lớn, một chậu nước hoa hồng, một chậu nước lã. Nàng tắm rửa trong hai chậu ấy, rồi gọi mang đồ ăn lên. Một người hầu mang tới cho nàng một bát sữa đông, nàng ăn vội, rồi khoác một chiếc áo ánh bạc, quấn quanh người những chuỗi ngọc trai, đội lên tóc một vòng hoa hồng. Trang điểm xong, nàng ngồi lên một chiếc ghế bốn chân có mái che và rèm lụa. Nàng kéo rèm lại quanh mình, rồi cất tiếng:
— Ghế ơi, bay tới cung điện của thần In-đra.
Lập tức chiếc ghế bay vút lên không. Hoàng tử vô hình, nãy giờ kinh ngạc theo dõi mọi chuyện, chộp lấy một chân ghế khi nó bay đi, và thấy mình đang được mang qua bầu trời nhanh như gió.
Chẳng mấy chốc họ tới nhà nàng tiên mà, như đã kể, là bạn thân của Đô-ra-ni. Nàng tiên đứng chờ sẵn trên ngưỡng cửa, cũng trang điểm lộng lẫy chẳng kém Đô-ra-ni. Chiếc ghế dừng lại trước cửa, nàng tiên kinh ngạc kêu lên:
— Ơ kìa, sao hôm nay ghế bay xiêu vẹo thế? Không biết vì sao nhỉ? Tớ ngờ là cậu đã nói chuyện với chồng, nên ghế mới không bay thẳng được.
Nhưng Đô-ra-ni quả quyết rằng nàng chưa nói với chồng lấy một lời, và nàng chẳng hiểu sao chiếc ghế lại bay như bị đè nặng một bên. Nàng tiên vẫn có vẻ ngờ vực, nhưng không nói gì thêm, ngồi xuống bên Đô-ra-ni. Hoàng tử vẫn bám chặt một chân ghế. Rồi chiếc ghế bay tiếp qua bầu trời, tới cung điện của thần In-đra.
Suốt đêm, hai nàng hát và múa trước mặt thần In-đra, trong khi một cây đàn thần tự gảy lên những khúc nhạc mê hồn. Hoàng tử ngồi xem mà say đắm. Ngay trước rạng đông, thần In-đra ra hiệu dừng lại. Hai nàng lại ngồi lên ghế, hoàng tử lại bám vào chân ghế, và chiếc ghế bay về mặt đất, đưa Đô-ra-ni và chồng nàng về tới cửa hiệu người bán nước hoa an toàn.
Tới đó, hoàng tử một mình đi vội qua chiếc kiệu của Đô-ra-ni với mấy người phu kiệu đang ngái ngủ, về thẳng cung. Vừa bước qua ngưỡng cửa phòng mình, chàng lại hiện hình. Rồi chàng nằm xuống trường kỷ chờ Đô-ra-ni tới.
Vừa tới, nàng ngồi xuống, lặng im như mọi bận, gục đầu xuống đầu gối. Một lúc lâu chẳng nghe tiếng động nào. Rồi hoàng tử lên tiếng:
— Đêm qua ta nằm mơ một giấc mơ lạ lắm. Giấc mơ ấy toàn về nàng, nên ta sẽ kể cho nàng nghe, dù nàng chẳng để tâm gì.
Cô gái quả thật chẳng để ý gì tới lời chàng. Dù vậy chàng vẫn kể lại hết mọi chuyện đã xảy ra đêm trước, chẳng bỏ sót một chi tiết nào chàng đã thấy hay đã nghe. Tới lúc chàng khen tiếng hát của nàng, giọng chàng hơi run, Đô-ra-ni ngước lên nhìn chàng. Nàng không nói gì, nhưng trong lòng nàng đầy kinh ngạc. "Giấc mơ gì lạ thế!" nàng nghĩ. "Có phải là mơ không? Làm sao trong mơ chàng biết hết những gì mình đã làm, đã nói?" Dù vậy nàng vẫn im lặng. Nàng chỉ nhìn hoàng tử đúng một lần ấy, rồi lại ngồi suốt ngày như trước, gục đầu xuống đầu gối.
Đêm tới, hoàng tử lại tàng hình đi theo nàng. Mọi chuyện lại diễn ra y như lần trước, chỉ có điều Đô-ra-ni hát hay hơn bao giờ hết. Sáng ra, hoàng tử lại kể cho Đô-ra-ni nghe hết những gì nàng đã làm, giả vờ là mình nằm mơ thấy. Chàng vừa kể xong, Đô-ra-ni nhìn chàng chăm chăm:
— Có thật là chàng mơ thấy thế, hay chàng đã ở đó thật?
— Ta đã ở đó.
— Nhưng sao chàng lại đi theo em?
— Vì ta yêu nàng, và được ở bên nàng là hạnh phúc.
Lần này, mi mắt Đô-ra-ni khẽ rung. Nhưng nàng không nói gì thêm, và im lặng suốt phần còn lại của ngày. Tuy vậy, buổi tối, đúng lúc sắp bước lên kiệu, nàng bảo hoàng tử:
— Nếu chàng yêu em, hãy chứng tỏ điều ấy bằng cách đêm nay đừng theo em.
Hoàng tử làm như nàng muốn, ở nhà.
Tối hôm ấy, chiếc ghế thần bay chao đảo tới mức hai nàng ngồi không vững. Cuối cùng nàng tiên kêu lên:
— Chỉ có một lý do khiến nó giật cục thế này thôi! Cậu đã nói chuyện với chồng!
Đô-ra-ni đáp:
— Phải, tớ đã nói. Ôi, phải, tớ đã nói!
Nhưng nàng chẳng nói thêm gì nữa.
Đêm ấy Đô-ra-ni hát tuyệt diệu tới mức khi khúc hát vừa dứt, thần In-đra đứng dậy, thề rằng nàng muốn xin gì ngài cũng cho. Thoạt đầu nàng im lặng. Nhưng thần cứ gặng hỏi, nàng mới đáp:
— Xin ngài cho con cây đàn thần.
Nghe vậy, thần In-đra giận mình đã hứa liều, vì cây đàn ấy ngài quý hơn hết thảy mọi thứ ngài có. Nhưng đã hứa thì phải giữ lời, ngài miễn cưỡng trao đàn cho nàng, phán:
— Từ nay ngươi đừng bao giờ tới đây nữa. Một khi đã xin chừng ấy, sau này làm sao ngươi bằng lòng với những món quà nhỏ hơn?
Đô-ra-ni lặng lẽ cúi đầu nhận cây đàn, rồi cùng nàng tiên bước ra cổng lớn, nơi chiếc ghế đang chờ. Chiếc ghế chao đảo hơn bao giờ hết, bay về mặt đất.
Sáng hôm ấy về tới cung, Đô-ra-ni hỏi hoàng tử đêm qua chàng có mơ nữa không. Chàng cười sung sướng, vì lần này nàng tự ý nói với chàng. Chàng đáp:
— Không. Nhưng giờ ta mới bắt đầu mơ, không phải mơ về những gì đã xảy ra, mà về những gì sẽ có thể xảy ra.
Ngày hôm ấy Đô-ra-ni ngồi rất yên lặng, nhưng chàng hỏi gì nàng cũng đáp. Khi chiều buông, tới giờ nàng phải về, nàng vẫn ngồi nguyên. Bấy giờ hoàng tử lại gần, khẽ hỏi:
— Nàng không về nhà sao, Đô-ra-ni?
Nghe vậy, nàng đứng dậy, khóc nức nở ngả vào vòng tay chàng, thì thầm dịu dàng:
— Không bao giờ nữa, chàng ơi, không bao giờ em rời xa chàng nữa!
Thế là hoàng tử đã chinh phục được người vợ xinh đẹp. Từ đó, tuy cả hai chẳng còn dính dáng gì tới tiên và phép tiên nữa, mỗi ngày họ lại hiểu thêm về phép màu của Tình yêu. Thứ phép màu ấy người ta vẫn còn học được, dẫu phép tiên đã bay đi mất từ lâu.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích