Giữa một sa mạc cát ở đâu đó bên châu Á, khách bộ hành được mát mắt khi trông thấy một ngọn núi cao phủ kín cây cối xanh tươi. Giữa những tán cây, những thác nước tung bọt lấp lánh dưới ánh mặt trời. Trong bầu không khí trong trẻo, lặng gió ấy, người ta còn nghe được cả tiếng chim hót, ngửi được cả hương hoa. Núi rõ ràng có người ở, vì đây đó thấp thoáng những chiếc lều trắng. Vậy mà chẳng ông vua, ông hoàng nào đi qua trên đường tới Ba-bi-lon hay Ban-béc dám xông vào rừng núi ấy, mà nếu có ai vào thì cũng chẳng bao giờ trở ra. Tiếng dữ của ngọn núi đáng sợ tới mức các ông bố lúc lâm chung đều khẩn cầu con trai đừng bao giờ tìm cách khám phá bí mật của nó. Ấy vậy mà, dù tiếng dữ là thế, năm nào cũng có một số chàng trai tuyên bố sẽ tới thăm ngọn núi, và như đã nói, chẳng bao giờ người ta thấy họ trở về.
Ngày xưa có một ông vua hùng mạnh cai trị một xứ sở ở bên kia sa mạc. Lúc sắp mất, ông cũng dặn dò bảy người con trai như mọi ông bố vẫn dặn. Thế nhưng ông vừa nhắm mắt, người con cả lên nối ngôi đã tuyên bố sẽ đi săn trên ngọn núi bị yểm bùa. Các cụ già lắc đầu, ra sức khuyên chàng từ bỏ cái ý định điên rồ ấy, nhưng vô ích. Chàng đi, và không trở về. Đến hạn, người em kế lên ngôi thay.
Rồi năm người kế tiếp cũng y như thế. Tới khi người em út lên ngôi, chàng cũng loan báo sẽ đi săn trên núi, thì cả kinh thành kêu khóc vang trời.
— Bệ hạ chết rồi thì ai trị vì chúng con? Bệ hạ đi thì chắc chắn sẽ chết. Xin bệ hạ ở lại với chúng con, chúng con sẽ làm cho bệ hạ được sung sướng.
Một thời gian, chàng nghe lời họ van xin, và đất nước dưới sự cai trị của chàng mỗi ngày một giàu mạnh, thịnh vượng. Nhưng được vài năm, cơn bồn chồn lại xâm chiếm chàng, và lần này chàng chẳng chịu nghe ai. Chàng nhất quyết phải đi săn trong khu rừng ấy. Chàng gọi bạn bè và những người hầu cận lại, rồi một buổi sáng, cả đoàn lên đường băng qua sa mạc.
Đang đi qua một thung lũng đá, bỗng một con hươu nhảy vọt ra trước mặt họ rồi phóng đi. Nhà vua lập tức đuổi theo, đoàn tuỳ tùng theo sau. Nhưng con vật chạy nhanh quá, họ đuổi mãi không kịp, và cuối cùng nó biến mất vào sâu trong rừng.
Bấy giờ chàng trai mới ghìm cương lần đầu tiên, nhìn quanh. Chàng đã bỏ xa những người bạn đồng hành, và ngoái lại, chàng thấy họ đang bước vào mấy chiếc lều rải rác giữa rặng cây. Còn chàng, cái mát lành của rừng cây hấp dẫn chàng hơn mọi món ăn ngon, nên chàng cứ thả bộ hàng giờ, thích đâu đi đó.
Một lúc sau, trời bắt đầu tối, chàng nghĩ đã tới lúc cả đoàn lên đường về cung. Chàng thở dài rời khu rừng, đi xuống chỗ mấy chiếc lều. Nhưng chàng kinh hoàng biết bao khi thấy người của mình nằm la liệt, kẻ đã chết, kẻ đang hấp hối. Chẳng ai còn nói được, mà cũng chẳng cần nói. Rõ như ban ngày, rượu họ uống có chứa thuốc độc chết người.
Chàng buồn bã nhìn họ:
— Các bạn đáng thương của ta, ta tới quá muộn để cứu các bạn. Nhưng ít ra ta cũng báo thù được cho các bạn! Kẻ giăng bẫy thế nào cũng quay lại xem bẫy đã sập chưa. Ta sẽ nấp ở đâu đó để tìm ra chúng là ai!
Gần chỗ chàng đứng có một cây óc chó lớn. Chàng trèo lên đó. Đêm xuống, chẳng có gì phá tan sự tĩnh lặng nơi ấy. Nhưng khi trời vừa hửng sáng, có tiếng vó ngựa phi tới.
Vạch cành lá ra nhìn, chàng thấy một kỵ sĩ trẻ cưỡi ngựa trắng đang tới. Tới chỗ mấy chiếc lều, người kỵ sĩ xuống ngựa, xem xét kỹ từng cái xác nằm quanh đó. Rồi người ấy lôi từng xác một tới một khe núi gần đó, quăng xuống hồ nước dưới đáy. Trong lúc ấy, đám người hầu theo sau dắt đi những con ngựa của những người xấu số. Bọn tuỳ tùng được lệnh thả con hươu dùng làm mồi nhử ra, và bày lại thức ăn, rượu lên bàn trong lều như cũ.
Thu xếp xong xuôi, người kỵ sĩ thong thả dạo bước trong rừng. Nhưng người ấy ngạc nhiên lắm khi bắt gặp một con ngựa đẹp giấu sâu trong bụi rậm.
"Người chết nào cũng có một con ngựa," người ấy tự nhủ. "Vậy con này của ai?"
Một giọng nói từ cây óc chó gần đó đáp:
— Của ta! Ngươi là ai mà dụ người ta vào tay mình rồi đầu độc họ? Nhưng từ nay ngươi đừng hòng làm thế nữa. Hãy về nhà ngươi, dù nó ở đâu, và ta sẽ đấu với ngươi trước cửa nhà ấy!
Người kỵ sĩ giận tới mức đứng sững không nói nên lời. Rồi gắng lắm mới đáp được:
— Ta nhận lời thách. Lên ngựa mà theo ta. Ta là Du-vi-xi-a.
Nói rồi người ấy nhảy lên ngựa, đi khuất nhanh tới mức nhà vua chỉ kịp thấy hình như có ánh sáng toả ra từ người và từ con ngựa, còn mái tóc dưới chiếc mũ trụ thì như vàng chảy.
Rõ ràng người kỵ sĩ là đàn bà. Nhưng nàng là ai? Có phải nàng là nữ hoàng của mọi nữ hoàng? Hay là đầu lĩnh một băng cướp? Nàng chẳng phải ai trong số ấy, chỉ là một thiếu nữ xinh đẹp.
Mải nghĩ, chàng đứng lặng dưới gốc óc chó rất lâu sau khi người và ngựa đã khuất. Rồi chàng giật mình sực tỉnh, nhớ ra mình phải tìm đường tới nhà kẻ thù, dù chẳng biết nó ở đâu. Chàng đi theo con đường người kỵ sĩ đã tới, đi hàng giờ liền, tới chỗ có ba túp lều nằm cạnh nhau. Trong mỗi túp lều có một bà tiên già sống với các con trai.
Lúc ấy nhà vua đáng thương đã mệt và đói tới mức gần như không nói được. Nhưng uống ít sữa, nghỉ một lát, chàng đã trả lời được những câu hỏi họ háo hức hỏi chàng.
— Tôi đi tìm Du-vi-xi-a. Nàng đã giết các anh tôi và bao nhiêu thần dân của tôi, tôi quyết báo thù cho họ.
Chàng mới nói với người trong một nhà, nhưng từ cả ba nhà đều vọng ra tiếng xì xào đáp lại:
— Tiếc quá, giá mà chúng tôi biết! Hôm nay nàng đi qua cửa nhà chúng tôi những hai lần, chúng tôi đã có thể bắt giữ nàng.
Nhưng lời họ nói thì can đảm mà lòng họ chẳng can đảm chút nào, vì chỉ nghĩ tới Du-vi-xi-a thôi họ đã run rẩy.
Họ cùng chìa tay ra:
— Hãy quên Du-vi-xi-a đi, ở lại với chúng tôi. Anh sẽ là anh cả, chúng tôi sẽ là em út của anh.
Nhưng nhà vua không chịu. Chàng lấy trong túi ra một chiếc kéo, một con dao cạo và một chiếc gương, đưa cho mỗi bà tiên già một thứ:
— Tôi không thể từ bỏ việc báo thù, nhưng tôi nhận tình bạn của các người, nên tôi để lại ba vật làm tin này. Nếu thấy máu hiện lên trên mặt một trong ba vật, hãy biết rằng tính mạng tôi đang lâm nguy, và vì tình anh em đã thề, xin hãy tới cứu tôi.
— Chúng tôi sẽ tới.
Họ đáp. Nhà vua lên ngựa, đi theo con đường họ chỉ.
Dưới ánh trăng, chẳng bao lâu chàng thấy một toà cung điện lộng lẫy. Nhưng chàng phi ngựa quanh nó hai vòng mà chẳng tìm thấy cửa vào đâu. Chàng đang nghĩ xem nên làm gì thì nghe tiếng ngáy to như sấm, dường như vọng lên từ ngay dưới chân mình. Nhìn xuống, chàng thấy một ông già nằm dưới đáy một cái hố sâu ngay sát chân tường, bên cạnh là một chiếc đèn lồng.
"Có lẽ ông ta khuyên được mình điều gì," nhà vua nghĩ. Chàng vất vả trèo xuống hố, đặt tay lên vai người đang ngủ.
Ông già giật mình tỉnh dậy:
— Ngươi là chim hay rắn mà vào được đây?
Nhà vua đáp rằng chàng chỉ là người trần, đang đi tìm Du-vi-xi-a.
Ông già nghiến răng:
— Du-vi-xi-a? Cái tai hoạ của thế gian ấy ư? Trong hàng nghìn người nó đã giết, chỉ có mình ta thoát chết. Nhưng sao nó tha cho ta để rồi bắt ta chịu cảnh sống mà như chết thế này, thì ta không đoán nổi.
— Nếu ông giúp được thì xin giúp tôi.
Nhà vua nói, rồi kể chuyện mình. Ông già chăm chú lắng nghe.
— Vậy hãy nghe kỹ lời ta khuyên. Ngươi nên biết rằng sáng nào, lúc mặt trời mọc, Du-vi-xi-a cũng mặc chiếc áo ngắn kết ngọc trai, leo lên bậc thang tháp canh bằng pha lê. Từ đó nó nhìn được khắp đất đai của nó, thấy được bất cứ người hay quỷ nào lọt vào. Chỉ cần thấy một kẻ, nó sẽ thét lên những tiếng kinh hồn, ai nghe thấy cũng chết khiếp. Nhưng ngươi hãy nấp trong một cái hang gần chân tháp, cắm một cây gậy chạc trước cửa hang. Khi nó thét đến tiếng thứ ba, ngươi hãy mạnh dạn bước ra, ngước nhìn lên tháp. Cứ đi, đừng sợ gì cả, vì lúc ấy ngươi đã phá được phép của nó rồi.
Nhà vua làm đúng từng lời ông già dặn. Và khi chàng bước ra khỏi hang, mắt hai người gặp nhau.
Du-vi-xi-a nói:
— Chàng đã thắng ta, chàng xứng đáng làm chồng ta, vì chàng là người đàn ông đầu tiên không chết khi nghe tiếng ta.
Nàng thả mái tóc vàng xuống, kéo nhà vua lên tận đỉnh tháp như kéo bằng dây thừng. Rồi nàng dẫn chàng vào sảnh đường, giới thiệu chàng với cả nhà mình.
Khi hai người ngồi bên nhau trên một bờ rêu bên dòng suối, Du-vi-xi-a mỉm cười thì thầm:
— Chàng muốn xin em gì, cứ xin, em sẽ cho.
Nhà vua xin nàng thả ông già mà chàng mang ơn cứu mạng, cho ông về nước.
Hôm cưới, Du-vi-xi-a nói:
— Em thôi săn bắn, thôi cưỡi ngựa đi khắp đất đai rồi. Từ nay việc lo cái ăn cho cả nhà là việc của chàng.
Nàng quay sang các thị nữ, bảo dắt con ngựa lửa tới.
— Hỡi con ngựa lửa của ta, đây là chủ của mi. Mi hãy hầu chàng như đã hầu ta.
Nàng hôn nó vào giữa hai mắt, rồi đặt dây cương vào tay chồng.
Con ngựa nhìn chàng trai một lúc, rồi cúi đầu xuống. Nhà vua vỗ về cổ nó, vuốt ve đuôi nó, cho tới khi người và ngựa thấy như bạn cũ của nhau. Rồi chàng lên ngựa đi làm việc Du-vi-xi-a dặn. Nhưng trước khi chàng đi, nàng đưa cho chàng một chiếc hộp nhỏ kết ngọc trai, trong đựng một sợi tóc của nàng. Chàng nhét nó vào ngực áo.
Chàng đi một lúc lâu mà chẳng thấy con thú nào để mang về làm bữa tối. Bỗng một con hươu đực đẹp đẽ vọt lên gần như ngay dưới chân ngựa, chàng lập tức đuổi theo. Người và thú lao đi vùn vụt, nhưng con hươu cứ ngoặt bên này rẽ bên kia, khiến nhà vua không có dịp nào bắn. Tới một con sông rộng, con vật nhảy xuống bơi sang bờ bên kia. Nhà vua lắp tên vào nỏ, nhắm bắn. Chàng bắn trúng con hươu, nhưng nó vẫn cố bơi được sang bờ bên kia. Trong lúc hăng say, chàng không hề để ý chiếc hộp ngọc trai đã rơi xuống nước.
Dòng sông tuy sâu nhưng cũng chảy xiết. Chiếc hộp bị cuốn đi hàng dặm, hàng dặm, hàng dặm, cho tới khi dạt vào bờ ở một xứ khác hẳn. Ở đó, một người gánh nước trong cung nhặt được, mang tới trình nhà vua. Chiếc hộp làm khéo lạ lùng, ngọc trai lại hiếm quý tới mức nhà vua không nỡ trả lại. Ngài trả cho người gánh nước một khoản tiền hậu hĩnh rồi cho về. Rồi ngài gọi quan thị vệ tới, truyền trong ba ngày phải tìm ra lai lịch chiếc hộp, không thì mất đầu.
Câu đố làm bao nhiêu pháp sư, học giả phải bó tay, nhưng lời giải lại do một bà già đưa ra. Mụ tới cung, bảo quan thị vệ rằng chỉ cần hai vốc vàng, mụ sẽ nói rõ bí mật.
Dĩ nhiên quan thị vệ vui vẻ đưa mụ đúng thứ mụ đòi. Đổi lại, mụ cho ông biết chiếc hộp và sợi tóc là của Du-vi-xi-a.
— Bà già, đưa được nàng tới đây thì bà sẽ có vàng chất cao bằng người.
Bà già đáp rằng mụ sẽ thử xem.
Mụ về túp lều giữa rừng, đứng ở cửa huýt sáo khe khẽ. Chẳng mấy chốc, lá khô trên mặt đất bắt đầu lay động, sột soạt, và từ dưới đám lá bò ra cả một đàn rắn dài dằng dặc. Chúng trườn tới chân mụ phù thuỷ. Mụ cúi xuống xoa đầu chúng, cho mỗi con uống ít sữa trong một chiếc bát đất đỏ. Khi chúng uống xong, mụ lại huýt sáo, bảo hai ba con quấn quanh cánh tay và cổ mình, biến một con thành cây gậy, một con thành chiếc roi. Rồi mụ cầm một cành cây ra bờ sông, biến nó thành chiếc bè, ngồi lên thoải mái, đẩy bè ra giữa dòng.
Suốt ngày hôm ấy mụ trôi, suốt đêm hôm sau cũng trôi. Tới chiều tối hôm sau nữa, lúc mặt trời sắp lặn, mụ thấy mình đã tới sát khu vườn của Du-vi-xi-a, đúng lúc nhà vua cưỡi ngựa lửa đi săn về.
Chàng ngạc nhiên hỏi, vì bà già đi bè trên sông chẳng phải chuyện thường gặp ở xứ ấy:
— Bà là ai? Bà là ai, và tới đây làm gì?
Mụ đáp:
— Con ơi, ta là một người hành hương nghèo. Lỡ mất đoàn lữ hành, ta lang thang nhịn đói bao nhiêu ngày giữa sa mạc, cuối cùng tới được bờ sông. Ở đó ta thấy chiếc bè nhỏ này, bèn phó mặc thân mình cho nó, chẳng biết sống hay chết. Nhưng con đã gặp ta thì ta xin con cho ta miếng bánh, và cho ta nằm qua đêm nay cạnh con chó canh cửa nhà con!
Câu chuyện thảm thương làm chàng trai động lòng. Chàng hứa sẽ mang thức ăn tới cho mụ, và cho mụ ngủ qua đêm trong cung.
— Nhưng bà lên ngồi sau lưng tôi đi, bà đã đi xa rồi, mà về tới cung còn xa lắm.
Vừa nói chàng vừa cúi xuống đỡ mụ, nhưng con ngựa né sang một bên.
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng thế. Mụ phù thuỷ đoán ra lý do, còn nhà vua thì không.
— Ta sợ ngã lắm. Nhưng con đã có lòng tốt thương xót ta, thì con đi chầm chậm, ta tuy què nhưng chắc cũng theo kịp.
Tới cửa, chàng bảo mụ phù thuỷ nghỉ ngơi, chàng sẽ mang tới cho mụ mọi thứ cần thiết. Nhưng Du-vi-xi-a, vợ chàng, tái mặt khi nghe chàng đưa ai về. Nàng khẩn khoản xin chàng cho bà già ăn rồi đuổi đi, vì mụ sẽ gây tai hoạ cho họ.
Nhà vua cười nỗi lo của nàng, nói nhẹ tênh:
— Ô hay, nghe nàng nói người ta tưởng bà ấy là phù thuỷ không bằng! Mà dù có là phù thuỷ đi nữa, thì bà ấy làm hại gì được chúng ta?
Chàng gọi các thị nữ, bảo họ mang thức ăn cho mụ, và cho mụ ngủ trong phòng của họ.
Mụ già rất xảo quyệt. Mụ kể đủ thứ chuyện lạ lùng khiến các thị nữ thức tới nửa đêm. Sáng hôm sau, đang trang điểm cho chủ, một cô bỗng bật cười, rồi các cô khác cũng cười theo.
Du-vi-xi-a hỏi:
— Các em làm sao thế?
Cô thị nữ thưa rằng cô đang nghĩ tới một câu chuyện ngộ nghĩnh bà khách mới tới kể đêm qua.
— Ôi, thưa lệnh bà! Có thể bà ấy là phù thuỷ thật như người ta nói, nhưng em chắc chắn bà ấy chẳng bao giờ làm phép hại đến một con ruồi! Còn những câu chuyện của bà ấy thì sẽ giúp lệnh bà qua bao giờ buồn tẻ những lúc ngài đi vắng!
Thế là vào một giờ xấu, Du-vi-xi-a bằng lòng cho đưa mụ già tới gặp mình. Từ lúc ấy, hai người gần như không lúc nào rời nhau.
Một hôm, mụ phù thuỷ bắt đầu nói về nhà vua trẻ, quả quyết rằng đi khắp các xứ, mụ chưa thấy ai như chàng.
— Chàng thật khôn ngoan, đoán ra được bí mật của bà để chiếm được trái tim bà. Thế hẳn là chàng cũng đã kể bí mật của chàng cho bà nghe để đáp lại chứ?
Du-vi-xi-a đáp:
— Không. Em nghĩ chàng chẳng có bí mật nào cả.
Mụ già khinh khỉnh kêu lên:
— Không có bí mật nào ư? Vớ vẩn! Đàn ông nào cũng có một bí mật, và bao giờ cũng kể cho người đàn bà mình yêu nghe. Nếu chàng chưa kể cho bà, ấy là chàng không yêu bà!
Những lời ấy làm Du-vi-xi-a bối rối vô cùng, dù nàng không chịu thú thật với mụ phù thuỷ. Nhưng lần sau chỉ còn hai vợ chồng với nhau, nàng bắt đầu nũng nịu, gặng chàng nói cho nàng biết sức mạnh của chàng nằm ở đâu. Một lúc lâu chàng chỉ vuốt ve cho qua chuyện. Nhưng khi nàng nhất định không chịu thôi, chàng đáp:
— Chính thanh gươm cho ta sức mạnh, và ngày đêm nó luôn nằm bên ta. Ta đã nói với nàng rồi, giờ nàng hãy thề trên chiếc nhẫn này, ta sẽ đổi cho nàng lấy chiếc nhẫn của nàng, rằng nàng sẽ không tiết lộ điều ấy cho ai.
Du-vi-xi-a thề. Rồi nàng lập tức vội vàng đi kể tin quan trọng ấy cho mụ già.
Bốn đêm sau, khi cả thế gian đã ngủ, mụ phù thuỷ rón rén lẻn vào phòng nhà vua, lấy thanh gươm bên người chàng đang ngủ. Rồi mụ mở cửa sổ, bay ra sân thượng, thả thanh gươm xuống sông.
Sáng hôm sau, ai cũng ngạc nhiên vì nhà vua không dậy sớm đi săn như mọi bận. Những người hầu áp tai vào lỗ khoá, nghe tiếng thở nặng nhọc, nhưng chẳng ai dám vào, cho tới khi Du-vi-xi-a xô cửa bước vào. Trước mắt họ là cảnh tượng gì thế này! Nhà vua nằm đó, gần như đã chết, miệng sùi bọt, mắt đã nhắm nghiền. Họ khóc, họ gọi chàng, nhưng chẳng có tiếng trả lời.
Bỗng những người đứng phía sau thét lên. Mụ phù thuỷ sải bước vào, rắn quấn quanh cổ, quanh tay, quanh tóc. Mụ ra hiệu một cái, lũ rắn rít lên, lao vào đám thị nữ, cắm những chiếc nanh độc vào da thịt họ. Rồi mụ quay sang Du-vi-xi-a:
— Ta cho mi chọn: đi theo ta, hay để lũ rắn giết nốt cả mi?
Cô gái kinh hãi trừng trừng nhìn mụ, không thốt nổi một lời. Mụ túm lấy tay nàng, lôi tới chỗ chiếc bè giấu giữa đám lau sậy. Lên bè rồi, mụ cầm chèo, hai người trôi xuôi dòng cho tới xứ láng giềng. Ở đó Du-vi-xi-a bị bán cho nhà vua lấy một bao vàng.
Từ khi chàng trai ghé vào ba túp lều trên đường qua rừng, chẳng sáng nào con trai của ba bà tiên không đem chiếc kéo, con dao cạo và chiếc gương nhà vua trẻ để lại ra xem. Từ trước tới nay, mặt của cả ba vật đều sáng loáng, chẳng gợn chút gì. Nhưng sáng hôm ấy, khi họ lấy ra xem như mọi khi, thì trên dao cạo và kéo có những giọt máu, còn chiếc gương nhỏ thì mờ đục.
Họ kinh hãi thì thầm với nhau:
— Hẳn có chuyện khủng khiếp gì đã xảy ra với anh của chúng ta. Phải tới cứu anh ngay kẻo muộn.
Họ xỏ đôi dép thần, lên đường tới cung điện.
Đám người hầu háo hức đón họ, sẵn sàng kể hết những gì mình biết, nhưng họ chẳng biết được bao nhiêu, chỉ biết thanh gươm đã biến mất, chẳng ai rõ đi đâu. Những người mới tới bỏ cả ngày tìm kiếm mà không thấy. Đêm xuống, họ mệt và đói lắm. Nhưng kiếm đâu ra thức ăn? Hôm ấy nhà vua không đi săn, chẳng có gì cho họ ăn cả. Mấy anh em đang tuyệt vọng thì một tia trăng bỗng soi sáng dòng sông dưới chân tường thành.
— Ngốc thật! Dĩ nhiên là có cá để bắt chứ!
Họ chạy xuống bờ, chẳng mấy chốc đã câu được mấy con cá ngon, nướng ăn ngay tại chỗ. Ăn xong thấy khoẻ người, họ bắt đầu nhìn quanh.
Xa hơn, giữa dòng sông, có tiếng quẫy nước lạ lùng. Lát sau, thân hình một con cá khổng lồ nổi lên, uốn mình vặn vẹo như đang đau đớn. Mắt mấy anh em đều dán vào chỗ ấy, thì con cá vọt lên không, và một tia sáng loé lên giữa đêm.
— Thanh gươm!
Họ hét lên, nhảy xuống sông, giật mạnh một cái, rút được thanh gươm ra, trong khi con cá nằm phơi trên mặt nước, kiệt sức vì giãy giụa. Bơi vào bờ với thanh gươm, họ cẩn thận lấy áo lau khô, rồi mang vào cung, đặt lên gối nhà vua. Lập tức gương mặt trắng như sáp có lại sắc hồng, đôi má hóp đầy đặn trở lại. Nhà vua ngồi dậy, mở mắt hỏi:
— Du-vi-xi-a đâu?
Mấy anh em đáp:
— Điều ấy thì chúng em không biết. Nhưng anh đã được cứu, thì anh sẽ sớm tìm ra.
Rồi họ kể cho chàng nghe mọi chuyện đã xảy ra từ khi Du-vi-xi-a để lộ bí mật của chàng cho mụ phù thuỷ.
Chàng chỉ nói:
— Cho ta tới chỗ con ngựa của ta.
Nhưng vừa bước vào tàu ngựa, chàng suýt khóc khi thấy con ngựa yêu quý của mình cũng thảm hại gần như chủ nó lúc nãy. Cửa kẽo kẹt mở, nó uể oải quay đầu lại. Nhưng thấy nhà vua, nó đứng dậy, dụi đầu vào người chàng.
— Ôi, con ngựa tội nghiệp của ta! Mi khôn hơn ta biết bao! Giá ta biết làm như mi thì ta đâu có mất Du-vi-xi-a. Nhưng ta và mi sẽ cùng đi tìm nàng.
Rất lâu, nhà vua và con ngựa đi dọc theo dòng sông, nhưng chẳng nơi nào chàng dò được tin tức gì về Du-vi-xi-a. Cuối cùng, một buổi tối, hai thầy trò dừng chân nghỉ bên một túp lều không xa một thành phố lớn. Nhà vua đang nằm duỗi dài trên cỏ, lơ đãng nhìn con ngựa gặm cỏ non, thì một bà già bước ra, mang theo một bát gỗ đựng sữa tươi mời chàng.
Chàng uống ngấu nghiến, vì đang khát lắm. Rồi đặt bát xuống, chàng bắt chuyện với bà già. Bà mừng lắm vì có người chịu nghe mình nói.
— Cậu may mắn lắm mới đi qua đây đúng lúc này. Năm ngày nữa nhà vua mở tiệc cưới. Chà, nhưng cô dâu thì chẳng ưng, mắt xanh tóc vàng là thế! Cô ấy để sẵn bên mình một chén thuốc độc, tuyên bố thà uống cạn còn hơn làm vợ ông ta. Vậy mà ông ta cũng đẹp trai đấy chứ, là một tấm chồng xứng đáng với cô ấy, còn hơn những gì cô ấy dám mong, vì cô ấy từ đâu tới chẳng ai biết, lại được mua từ tay một mụ phù thuỷ...
Nhà vua giật nảy mình. Rốt cuộc chàng đã tìm thấy nàng sao? Tim chàng đập dữ dội như muốn nghẹt thở, chàng hổn hển hỏi:
— Có phải nàng tên là Du-vi-xi-a không?
— Phải, cô ấy bảo thế, có điều mụ phù thuỷ... Nhưng cậu làm sao thế?
Bà già ngừng bặt, vì chàng trai đã đứng phắt dậy, nắm chặt lấy cổ tay bà.
— Bà nghe tôi. Bà có giữ kín được một bí mật không?
— Được chứ, nếu được trả công.
— Ồ, bà sẽ được trả công, đừng lo, muốn bao nhiêu cũng có! Đây là một vốc vàng. Bà làm theo lời tôi thì sẽ được thêm chừng ấy nữa.
Bà già gật đầu.
— Vậy bà đi mua một bộ áo như các bà các cô trong cung vẫn mặc, tìm cách vào được cung, tới gặp Du-vi-xi-a. Tới đó, bà cho nàng xem chiếc nhẫn này. Rồi nàng sẽ bảo bà phải làm gì.
Thế là bà già lên đường. Bà mặc một chiếc áo lụa vàng, quấn khăn che kín đầu, rồi mạnh dạn theo chân mấy người lái buôn được nhà vua gọi tới dâng quà cho Du-vi-xi-a, bước lên bậc thềm cung điện.
Thoạt đầu cô dâu chẳng muốn nói gì với ai trong bọn họ. Nhưng vừa thấy chiếc nhẫn, nàng bỗng hiền như con cừu non. Nàng cảm ơn các lái buôn đã mất công, cho họ lui ra, chỉ giữ lại một mình vị khách.
Cửa vừa đóng chặt, Du-vi-xi-a hỏi:
— Bà ơi, người chủ chiếc nhẫn này đang ở đâu?
— Ở trong túp lều của tôi, đang chờ lệnh của cô.
— Bà bảo chàng ở yên đó ba ngày. Còn bây giờ bà tới gặp vua nước này, bảo rằng bà đã khuyên được tôi biết điều. Thế là ông ta sẽ để tôi yên, thôi canh chừng tôi. Ngày thứ ba kể từ hôm nay, tôi sẽ đi dạo trong khu vườn gần bờ sông, và người khách của bà sẽ gặp tôi ở đó. Chuyện còn lại là việc của riêng tôi.
Sáng ngày thứ ba, tia nắng đầu tiên vừa ló, cả cung điện đã rộn ràng, vì tối hôm ấy nhà vua sẽ cưới Du-vi-xi-a. Người ta dựng những chiếc lều bằng dạ đỏ thắm, kết những vòng hoa trắng thơm ngát, bày tiệc trong lều. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, một đoàn rước được lập ra để đi đón cô dâu. Nàng đã dạo trong vườn ngự từ lúc trời vừa sáng. Dân chúng đứng chật hai bên đường xem nàng đi qua. Thấp thoáng thấy chiếc áo bằng the vàng của nàng khi nàng đi từ bụi hoa này sang bụi hoa khác. Rồi bỗng đám đông chao đảo, giạt ra, vì như có một tia sét từ trên trời giáng xuống đúng chỗ Du-vi-xi-a đứng. Chà, nhưng đó chẳng phải tia sét, chỉ là con ngựa lửa! Và khi dân chúng nhìn lại, nó đã phóng đi xa, trên lưng chở hai người.
Từ đó, Du-vi-xi-a và chồng đều học được cách giữ hạnh phúc khi đã có nó trong tay. Đó là bài học mà biết bao người đàn ông, đàn bà suốt đời không học được. Mà đó lại là bài học chẳng ai dạy được cho ai, chàng trai cô gái nào cũng phải tự mình học lấy.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích