Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Những con ngựa trắng như thiên nga

Ngôi nhà nghỉ mát mới · Chương 1/2 · của Anton Chekhov

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 12.025 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Cách làng Ô-bru-tsa-nô-va ba dặm, người ta đang xây…
  2. 3:43Cũng đòi làm điền chủ! Xây được cái nhà,…
  3. 6:14Cha con nhà Lư-tsơ-cốp bắt được trên đồng cỏ…
  4. 7:14Chúng ta vẫn sống được mà chẳng có cầu.…
  5. 9:00Ông nói:
  6. 11:40Nghỉ một lúc, vừa gãi sườn gãi khuỷu tay,…
  7. 12:28Có tiếng Lư-tsơ-cốp con:
  8. 13:03Lại về say khướt cho mà xem, đồ chó…

Chương 1: Những con ngựa trắng như thiên nga

Cách làng Ô-bru-tsa-nô-va ba dặm, người ta đang xây một cây cầu khổng lồ. Từ ngôi làng nằm cao trên bờ dốc, có thể trông thấy bộ khung chằng chịt như mắt lưới của nó. Những hôm sương mù, hay những ngày đông lặng gió, khi những thanh xà sắt mảnh mai và cả giàn giáo xung quanh phủ đầy sương giá, nó hiện ra như một bức tranh đẹp, thậm chí như trong truyện thần tiên. Thỉnh thoảng, kỹ sư Cu-tsê-rốp, người xây cây cầu, ngồi xe đua nhẹ hay xe ngựa đi qua làng. Đó là một người đàn ông béo, vai rộng, râu rậm, đội chiếc mũ lưỡi trai mềm, nhàu nát. Đôi khi vào ngày lễ, bọn thợ lang thang làm việc ở cầu kéo đến. Chúng xin ăn, trêu chọc đàn bà, có khi còn lấy trộm thứ gì đó. Nhưng chuyện ấy hiếm. Thường thì ngày tháng trôi qua lặng lẽ, yên ả, như thể chẳng có công trình nào cả, và chỉ buổi tối, khi những đống lửa sáng lên gần cây cầu, gió mới đưa lại yếu ớt tiếng hát của bọn thợ lang thang. Ban ngày đôi khi cũng nghe thấy một âm thanh kim loại buồn bã: boong… boong… boong…

Một hôm, vợ kỹ sư Cu-tsê-rốp đến thăm chồng. Bà thích hai bờ sông và cảnh đẹp lộng lẫy của thung lũng xanh với những xóm làng, nhà thờ, đàn gia súc, và bà bắt đầu xin chồng mua một mảnh đất nhỏ, xây ở đây một ngôi nhà nghỉ mát. Người chồng nghe theo. Họ mua hai mươi đê-xi-a-tin đất, và trên bờ cao, ở khoảng đất trống nơi trước kia đàn bò làng Ô-bru-tsa-nô-va vẫn lang thang, họ xây một ngôi nhà hai tầng đẹp đẽ có hiên, có ban công, có tháp và có chóp nhọn mà chủ nhật nào cũng phấp phới một lá cờ. Họ xây xong chỉ trong ba tháng, rồi suốt mùa đông trồng những cây lớn. Và khi mùa xuân đến, mọi thứ xung quanh xanh tươi, thì ở trang trại mới đã có những lối đi rợp cây, ông làm vườn và hai người thợ đeo tạp dề trắng lúi húi quanh nhà, một đài phun nước nhỏ phun lên, và quả cầu gương sáng rực đến nhức mắt. Và trang trại ấy đã có tên: Ngôi nhà nghỉ mát mới.

Một buổi sáng quang đãng, ấm áp cuối tháng Năm, người ta dắt hai con ngựa đến nhờ bác thợ rèn làng Ô-bru-tsa-nô-va là Rô-đi-ôn Pê-trốp đóng lại móng. Ngựa từ Ngôi nhà nghỉ mát mới. Hai con ngựa trắng như tuyết, thon thả, béo tốt, và giống nhau đến kinh ngạc.

Rô-đi-ôn nhìn chúng với vẻ thành kính, nói:

— Đúng là hai con thiên nga!

Vợ bác là Xtê-pa-ni-đa, con và cháu bác ra đường xem. Dần dần một đám đông tụ lại. Cha con nhà Lư-tsơ-cốp cũng đến, cả hai đều không có râu từ lúc mới sinh, mặt sưng húp, đầu trần. Cô-dốp cũng đến, một ông già cao gầy, râu dài và hẹp, chống một cây gậy đầu cong. Lão cứ nháy nháy đôi mắt láu cá và mỉm cười chế giễu, như thể lão biết điều gì đó.

Lão nói:

— Chỉ được cái trắng, chứ có gì đâu? Cho ngựa nhà tôi ăn yến mạch, cũng mượt mà y như thế. Phải đem chúng nó thắng vào cày mà quất roi cho…

Bác xà ích chỉ nhìn lão khinh bỉ, chẳng nói lời nào. Rồi trong lúc người ta nhóm lửa trong lò rèn, bác xà ích vừa hút thuốc vừa kể chuyện. Nông dân biết được từ anh ta nhiều điều: chủ của anh ta giàu có. Bà chủ Ê-lê-na I-va-nốp-na, trước khi lấy chồng, sống nghèo ở Mát-xcơ-va, làm cô giáo dạy trẻ nhà giàu. Bà tốt bụng, hay thương người và thích giúp đỡ người nghèo. Anh ta kể, ở trang trại mới, người ta sẽ không cày, không gieo gì, mà chỉ sống cho sung sướng, chỉ sống để được hít thở không khí trong lành. Khi anh ta kể xong và dắt ngựa về, một đám trẻ con đi theo, chó sủa ầm ĩ, và Cô-dốp nhìn theo mà nháy mắt chế giễu.

Lão nói:

— Cũng đòi làm điền chủ! Xây được cái nhà, nuôi được mấy con ngựa, chứ chắc là chính họ chẳng có gì mà ăn. Cũng đòi làm điền chủ!

Chẳng hiểu sao Cô-dốp căm ghét ngay lập tức cả trang trại mới, cả những con ngựa trắng, cả anh xà ích đẹp trai béo tốt. Lão là người cô độc, goá vợ. Lão sống buồn tẻ, vì một thứ bệnh mà lão khi thì gọi là chứng thoát vị, khi thì gọi là giun sán, không cho lão làm việc. Lão sống nhờ tiền con trai gửi về, anh này làm ở một hiệu bánh kẹo ở Khác-cốp, và từ sáng sớm đến tối, lão nhàn rỗi lang thang dọc bờ sông hay quanh làng. Chẳng hạn thấy một người nông dân chở khúc gỗ hay đang câu cá, là lão nói: "Gỗ này lấy từ cây chết khô, mục ruỗng rồi", hoặc: "Trời thế này thì cá chẳng cắn câu đâu". Lúc hạn hán, lão bảo sẽ không có mưa cho đến tận mùa rét. Còn khi trời mưa, lão bảo giờ thì ngoài đồng sẽ thối hết, thế là hỏng cả rồi. Và lúc nói, lão cứ nháy mắt, như thể lão biết điều gì đó.

Ở trang trại, buổi tối người ta đốt pháo hoa và pháo thăng thiên, và một chiếc thuyền buồm treo những đèn lồng đỏ lướt qua trước làng Ô-bru-tsa-nô-va. Một buổi sáng, bà vợ ông kỹ sư, Ê-lê-na I-va-nốp-na, cùng cô con gái nhỏ, ngồi chiếc xe bánh vàng thắng hai con ngựa lùn màu nâu sẫm, đến làng. Cả hai mẹ con đều đội mũ rơm vành rộng, vành uốn xuống che tai.

Đó đúng là mùa chở phân. Bác thợ rèn Rô-đi-ôn, một ông già cao gầy, đầu trần, chân đất, vác chiếc chĩa trên vai, đứng cạnh chiếc xe bò lấm láp, xấu xí của mình, sững sờ nhìn những con ngựa lùn. Nhìn mặt bác thì biết trước đây bác chưa từng thấy những con ngựa bé tí như thế.

Xung quanh có tiếng thì thầm:

— Bà Cu-tsê-ri-kha đến! Nhìn kìa, bà Cu-tsê-ri-kha đến!

Ê-lê-na I-va-nốp-na đưa mắt nhìn những túp lều, như đang chọn lựa, rồi dừng xe ngay trước túp lều nghèo nhất, nơi các ô cửa sổ đầy những cái đầu trẻ con, tóc vàng, tóc đen, tóc đỏ. Xtê-pa-ni-đa, vợ Rô-đi-ôn, một bà già béo, chạy ra khỏi lều, khăn tuột khỏi mái đầu bạc. Bà nhìn chiếc xe ngược nắng, mặt vừa cười vừa nhăn lại như người mù.

Ê-lê-na I-va-nốp-na đưa cho bà ba rúp, nói:

— Đây là cho các cháu.

Xtê-pa-ni-đa bỗng bật khóc và cúi rạp xuống đất. Rô-đi-ôn cũng phục xuống, phô ra cái đầu hói rộng màu nâu, và lúc ấy suýt nữa thì chiếc chĩa móc vào sườn vợ. Ê-lê-na I-va-nốp-na bối rối và quay xe về.

Cha con nhà Lư-tsơ-cốp bắt được trên đồng cỏ nhà mình hai con ngựa kéo, một con ngựa lùn và một con bê đực giống An-gâu mõm bè bè, rồi cùng với Vô-lốt-ca tóc đỏ, con trai bác thợ rèn Rô-đi-ôn, lùa chúng về làng. Họ gọi trưởng làng, gom người làm chứng, rồi đi xem chỗ lúa cỏ bị phá.

Cô-dốp nháy mắt nói:

— Được lắm, cứ để đấy! Cứ để đấy-y! Giờ thì để cho mấy ông kỹ sư quay như chong chóng nhé. Tưởng không có toà án à? Được lắm! Cho người đi gọi viên cảnh sát, lập biên bản!..

Vô-lốt-ca nhắc lại:

— Lập biên bản!

Lư-tsơ-cốp con hét, mỗi lúc một to hơn, và vì thế, dường như khuôn mặt không râu của anh ta càng sưng phồng lên:

— Tôi không muốn để chuyện này qua đi như thế! Học đâu cái mốt ấy! Cho chúng nó được thể, thì chúng phá hết đồng cỏ! Không có đủ quyền mà làm nhục dân! Bây giờ hết nông nô rồi!

Vô-lốt-ca nhắc lại:

— Bây giờ hết nông nô rồi!

Lư-tsơ-cốp bố nói giọng u ám:

— Chúng ta vẫn sống được mà chẳng có cầu. Có ai xin đâu, cần cầu làm gì? Chúng tôi không muốn!

— Hỡi anh em, hỡi những người con chính đạo! Không thể để chuyện này như thế được!

Cô-dốp nháy mắt:

— Được lắm, cứ để đấy-y! Giờ thì để cho họ quay như chong chóng! Cũng đòi làm điền chủ!

Họ quay về làng, và suốt dọc đường Lư-tsơ-cốp con cứ đấm ngực thình thịch mà hét, Vô-lốt-ca cũng hét, nhắc lại lời anh ta. Còn ở làng, trong khi ấy, quanh con bê đực giống tốt và mấy con ngựa đã tụ lại cả một đám đông. Con bê bối rối, cúi đầu nhìn trộm, nhưng bỗng dí mõm xuống đất mà chạy, hai chân sau đá hất lên. Cô-dốp hoảng sợ vung gậy xua nó, và mọi người cười ồ. Rồi người ta nhốt gia súc lại và chờ.

Buổi tối, ông kỹ sư gửi đến năm rúp tiền bồi thường, và cả hai con ngựa, con ngựa lùn và con bê, chẳng được ăn, chẳng được uống, cúi đầu trở về nhà như những kẻ có tội, như bị dẫn đi hành hình.

Nhận được năm rúp, cha con nhà Lư-tsơ-cốp, trưởng làng và Vô-lốt-ca chèo thuyền qua sông, sang làng Kri-a-cô-vô bên kia, nơi có quán rượu, và chè chén ở đó rất lâu. Nghe thấy họ hát, và nghe thấy Lư-tsơ-cốp con hét. Ở làng, các bà thao thức suốt đêm và lo lắng. Rô-đi-ôn cũng không ngủ.

Bác trở mình hết bên này sang bên kia, thở dài mà nói:

— Việc chẳng hay rồi. Ông chủ mà nổi giận thì rồi kiện cáo nhau… Làm ông chủ phật lòng rồi… ôi, làm phật lòng rồi, chẳng hay…

Một hôm, nông dân, trong đó có Rô-đi-ôn, vào khu rừng của làng để chia cỏ, và khi trở về thì gặp ông kỹ sư. Ông mặc áo sơ mi vải đỏ, đi ủng cao cổ. Theo sau ông là một con chó săn, thè cái lưỡi dài.

Ông nói:

— Chào các bác!

Những người nông dân dừng lại, bỏ mũ ra.

Ông nói tiếp:

— Tôi định nói chuyện với các bác từ lâu rồi. Chuyện là thế này. Từ đầu xuân đến giờ, ngày nào đàn gia súc của các bác cũng vào vườn và vào rừng nhà tôi. Mọi thứ bị giẫm nát, lợn sục tung đồng cỏ, phá hoại vườn rau, còn trong rừng thì cây non chết sạch. Chẳng làm sao được với bọn chăn gia súc của các bác. Mình nhờ, thì chúng hỗn láo. Ngày nào tôi cũng bị phá, mà tôi có làm gì đâu, tôi không phạt các bác, không kiện cáo gì, thế mà các bác lại lùa ngựa và con bê của tôi đi, lấy năm rúp. Như thế có hay không? Láng giềng mà đối xử với nhau thế à?

Giọng ông dịu dàng, thuyết phục, ánh mắt không hề nghiêm khắc:

— Người tử tế mà lại cư xử như thế sao? Một tuần trước, có ai đó trong các bác chặt hai cây sồi non trong rừng nhà tôi. Các bác đào đứt con đường đi Ê-rết-nhê-vô, giờ tôi phải đi vòng ba dặm. Tại sao các bác cứ gây hại cho tôi từng bước như thế? Tôi đã làm gì xấu với các bác, vì Chúa, các bác nói đi? Tôi với vợ tôi hết sức cố gắng sống hoà thuận với các bác, chúng tôi giúp đỡ nông dân hết mức có thể. Vợ tôi là một người phụ nữ tốt bụng, có tấm lòng, bà ấy không từ chối giúp ai bao giờ, mơ ước của bà ấy là được giúp ích cho các bác và con cái các bác. Thế mà các bác lấy oán báo ân. Các bác không công bằng đâu. Các bác hãy nghĩ lại điều đó. Tôi khẩn khoản xin các bác, hãy nghĩ lại. Chúng tôi đối xử với các bác ra con người, thì các bác cũng hãy đáp lại chúng tôi bằng đúng đồng tiền ấy.

Ông quay lưng bỏ đi. Những người nông dân đứng thêm một lúc, đội mũ lên rồi đi. Rô-đi-ôn, người hiểu những gì người ta nói không đúng như phải hiểu mà bao giờ cũng theo một kiểu riêng của mình, thở dài nói:

— Phải trả tiền. Các bác hãy trả, ông ấy bảo, bằng đồng tiền…

Họ lặng lẽ về đến làng. Về nhà, Rô-đi-ôn cầu nguyện, cởi giày, rồi ngồi xuống ghế dài cạnh vợ. Bác và Xtê-pa-ni-đa, hễ ở nhà là bao giờ cũng ngồi cạnh nhau, ra đường bao giờ cũng đi cạnh nhau, ăn, uống, ngủ bao giờ cũng cùng nhau, và càng già càng yêu nhau hơn. Trong túp lều của họ chật chội, nóng nực, đâu cũng có trẻ con, dưới sàn, trên bậu cửa sổ, trên bệ lò… Xtê-pa-ni-đa, dù đã có tuổi, vẫn còn sinh nở, và giờ đây, nhìn đám trẻ con lúc nhúc, khó mà phân biệt đứa nào là con Rô-đi-ôn, đứa nào là con Vô-lốt-ca. Vợ Vô-lốt-ca là Lu-kê-ri-a, một người đàn bà trẻ xấu xí, mắt lồi, mũi như mỏ chim, đang nhào bột trong thùng. Còn Vô-lốt-ca thì ngồi trên bệ lò, buông thõng hai chân.

Nghỉ một lúc, vừa gãi sườn gãi khuỷu tay, Rô-đi-ôn bắt đầu:

— Trên đường gần ruộng kiều mạch nhà Ni-ki-ta, cái ấy… ông kỹ sư với con chó nhỏ… Phải trả tiền, ông ấy bảo… Bằng đồng tiền, ông ấy bảo… Đồng tiền hay không đồng tiền, thì mỗi nhà cũng nên góp lấy mười xu. Chúng ta làm phật lòng ông chủ quá. Tôi thấy thương…

Vô-lốt-ca nói, chẳng nhìn ai:

— Chúng ta vẫn sống được mà chẳng có cầu. Chúng tôi không muốn.

— Nói gì thế! Cầu là của nhà nước.

— Chúng tôi không muốn.

— Có ai hỏi mày đâu. Mày nói gì thế!

Vô-lốt-ca nhại lại:

— "Có ai hỏi đâu"… Chúng ta có đi đâu mà cần cầu? Cần thì đi thuyền qua sông cũng được.

Có ai đó ngoài sân gõ cửa sổ mạnh đến nỗi tưởng như cả túp lều rung lên.

Có tiếng Lư-tsơ-cốp con:

— Vô-lốt-ca có nhà không? Vô-lốt-ca, ra đây, đi nào!

Vô-lốt-ca nhảy khỏi bệ lò, bắt đầu tìm chiếc mũ lưỡi trai.

Rô-đi-ôn rụt rè nói:

— Đừng đi, Vô-lô-đia. Đừng đi với chúng nó, con ạ. Con nhà mình khờ khạo như đứa trẻ con, còn chúng nó thì chẳng dạy con điều gì tốt đâu. Đừng đi!

Xtê-pa-ni-đa chớp chớp mắt, sắp khóc, cũng xin:

— Đừng đi con! Chắc lại rủ vào quán rượu đấy.

Vô-lốt-ca nhại:

— "Vào quán rượu"…

Lu-kê-ri-a nhìn anh ta hằn học, nói:

— Lại về say khướt cho mà xem, đồ chó má bạo chúa! Đi đi, đi đi, cho rượu nó thiêu cháy mày đi, đồ quỷ cụt đuôi!

Vô-lốt-ca quát:

— Mày im đi!

Lu-kê-ri-a gào lên, lấy bàn tay dính đầy bột lau mặt:

— Người ta gả tôi cho một thằng ngốc, huỷ hoại đời tôi, đứa mồ côi bất hạnh, đồ bợm rượu tóc đỏ… Tôi chẳng muốn nhìn thấy mặt mày!

Vô-lốt-ca tát vào tai chị ta một cái rồi đi ra.

— Hết chương 1 —

Mục lục Ngôi nhà nghỉ mát mới

  1. 1Những con ngựa trắng như thiên nga13 phút
  2. 2Con quạ mới và cây cầuĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1899
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Новая дача, 1899
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →