Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ngọn nến

của Lev Tolstoy

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 15.854 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:03Các ngươi đã nghe lời rằng: Mắt đền mắt,…
  2. 3:24Tối hôm ấy nông dân lại họp nhau, và…
  3. 7:25Thưa ông Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts, đã cho ra cày rồi…
  4. 9:09Gã nổi cáu, dí cái tẩu còn lửa vào…
  5. 10:30Họ kêu ca lắm, ông Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts ạ, kêu…
  6. 11:19Thì chúng nó nói gì?
  7. 12:06Lạ lùng lắm ạ. Tôi đang đi tới chỗ…
  8. 13:39Tao tiêu rồi. Nó thắng tao rồi.

Các ngươi đã nghe lời rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Ta bảo các ngươi: Đừng chống cự kẻ ác.

Phúc Âm theo thánh Mát-thêu, chương năm.

Chuyện này xảy ra hồi còn chế độ chủ nô. Chủ nô thì đủ hạng. Có người còn nhớ tới giờ chết, nhớ tới Chúa, biết thương người. Lại có kẻ là đồ chó má, xin đừng nhắc tới. Nhưng không có hạng chủ nào tệ hơn những kẻ vốn xuất thân nô lệ, như câu tục ngữ, từ bùn đất mà ngoi lên làm ông lớn. Sống dưới tay hạng ấy là khổ nhất.

Có một điền trang của một ông chủ, trong đó mọc ra một gã quản lý như thế. Nông dân ở đây phải làm xâu cho chủ. Đất đai nhiều mà đất lại tốt, nước có, đồng cỏ có, rừng có, cái gì cũng đủ cho mọi người, cả chủ lẫn nông dân. Nhưng ông chủ lại đặt làm quản lý một gia nô của mình đưa từ một điền trang khác sang.

Gã quản lý nắm lấy quyền hành, cưỡi lên cổ nông dân. Bản thân gã có gia đình, có vợ, hai đứa con gái đều đã gả chồng, gã cũng đã kiếm được khối tiền. Đáng lẽ gã cứ thế mà sống yên ổn, không phạm tội gì, nhưng gã tham lam, rồi sa lầy vào tội lỗi. Mọi chuyện bắt đầu từ chỗ gã bắt nông dân làm xâu quá số ngày quy định. Gã lập ra một lò gạch, bắt tất cả mọi người, cả đàn ông lẫn đàn bà, làm tới kiệt sức, còn gạch thì gã đem bán. Nông dân kéo nhau lên Mát-xcơ-va kêu với ông chủ, nhưng chẳng được việc gì. Ông chủ đuổi họ về tay không, cũng chẳng bớt quyền của gã quản lý. Gã quản lý biết chuyện nông dân đi kêu, bèn trả thù. Đời nông dân càng khổ hơn trước. Trong đám nông dân lại có những kẻ bất lương, đi mách lẻo với gã quản lý về chính anh em mình, rồi người nọ hại người kia. Cả làng rối như canh hẹ, còn gã quản lý thì càng hung dữ.

Mọi chuyện mỗi ngày một tệ, tới mức cả làng sợ gã như sợ thú dữ. Gã cưỡi ngựa đi qua làng là mọi người tránh như tránh sói, chạy trốn đâu được thì trốn, miễn đừng để gã trông thấy. Gã quản lý thấy thế, lại càng cáu vì người ta sợ mình. Gã hành hạ dân làng bằng roi vọt, bằng việc nặng, nông dân phải chịu bao nhiêu khổ sở dưới tay gã.

Xưa nay cũng từng có chuyện những kẻ ác như thế bị người ta giết. Nông dân bắt đầu xì xào cả về gã này. Họp nhau ở chỗ khuất nào đó, người nào bạo gan thì nói:

— Còn phải chịu thằng ác ôn này đến bao giờ nữa? Đằng nào cũng chết, giết thằng như thế chẳng có tội gì.

Một lần, trước lễ Phục Sinh, nông dân tụ tập trong rừng. Gã quản lý sai họ vào dọn rừng của chủ. Tới giờ ăn trưa, họ ngồi lại với nhau bàn tán.

— Giờ biết sống làm sao? Nó sẽ diệt mình tận gốc. Nó hành mình bằng việc, ngày đêm chẳng ai được nghỉ, cả mình lẫn đàn bà. Hơi trái ý nó một chút là nó bắt bẻ, đánh đòn. Bác Xê-mi-ôn chết vì bị nó đánh. Bác A-ni-xim bị nó cùm tới chết. Còn chờ gì nữa? Chiều nay nó tới đây, lại giở trò như mọi khi, chỉ việc lôi nó xuống ngựa, cho một nhát rìu là xong chuyện. Chôn nó ở đâu đó như chôn con chó, thế là phi tang. Chỉ có điều phải giao hẹn trước, mọi người phải đứng chung một lòng, không được ai khai ai.

Người nói câu ấy là Va-xi-li Mi-na-ép. Anh căm gã quản lý hơn ai hết. Tuần nào gã cũng đánh anh, lại còn cướp vợ anh, bắt về làm đầu bếp cho gã.

Nông dân bàn bạc như thế, thì chiều tối gã quản lý tới. Gã cưỡi ngựa tới, liền gây chuyện ngay, bảo chặt không đúng. Gã tìm thấy trong đống cây một cây đoạn non.

— Tao không cho chặt cây đoạn. Đứa nào chặt? Khai ra, không thì tao đánh cả lũ.

Gã truy xem cây đoạn nằm trong hàng của ai. Người ta chỉ vào Xi-đo. Gã quản lý đánh Xi-đo tới vỡ mặt, máu me đầm đìa. Gã lại quất cả Va-xi-li mấy roi, bắt lỗi đống củi của anh nhỏ quá. Rồi gã cưỡi ngựa về nhà.

Tối hôm ấy nông dân lại họp nhau, và Va-xi-li lên tiếng:

— Chao ôi, cái lũ người. Không phải người mà là chim sẻ. "Đứng chung, đứng chung", thế mà tới lúc có chuyện thì đứa nào cũng chui tọt vào mái hiên. Chim sẻ cũng từng họp nhau chống diều hâu như thế: "Không được ai khai ai, không được ai khai ai, đứng chung, đứng chung." Thế mà diều hâu vừa sà xuống là cả lũ chui hết vào bụi tầm ma. Thế là diều hâu chọn lấy đứa nó muốn, quắp đi. Lũ sẻ lại nhảy ra, chiêm chiếp, chiêm chiếp, đếm đi đếm lại thấy thiếu một đứa. "Đứa nào không có đây? Thằng Van-ca à. Ôi, đáng đời nó, nó đáng bị thế." Các người cũng thế đấy. Đã bảo không khai ai thì phải không khai ai chứ. Lúc nó xông vào Xi-đo, đáng lẽ các người phải xúm lại mà kết liễu nó đi. Đằng này thì: "Không khai ai, không khai ai, đứng chung, đứng chung", thế mà nó vừa sà xuống là cả lũ chui vào bụi.

Những câu chuyện như thế mỗi lúc một nhiều, và nông dân đã gần như quyết định trừ khử gã quản lý. Trong tuần Thánh, gã quản lý cho người đi báo khắp làng rằng sang ngày lễ Phục Sinh, mọi người phải chuẩn bị đi làm xâu, cày đất gieo yến mạch. Nông dân thấy thế là quá nhục. Trong tuần Thánh, họ lại kéo nhau ra sau nhà Va-xi-li mà bàn.

— Nó đã quên Chúa, lại định làm những việc như thế, thì phải giết nó thật thôi. Đằng nào cũng chết.

Pi-ốt Mi-khê-ép cũng tới. Pi-ốt Mi-khê-ép là một người hiền lành, xưa nay không dự vào những cuộc bàn bạc của nông dân. Bác tới, nghe họ nói một hồi, rồi bảo:

— Anh em ơi, các anh em đang toan làm một tội lớn đấy. Giết hại một linh hồn là chuyện lớn lắm. Làm hại linh hồn người khác thì dễ, nhưng còn linh hồn của chính mình thì sao? Hắn làm điều ác thì điều ác chờ hắn. Anh em ạ, phải nhẫn nhịn thôi.

Va-xi-li nổi giận vì những lời ấy.

— Bác cứ nói đi nói lại mãi một câu, giết người là có tội. Tất nhiên là có tội, nhưng giết người nào kia chứ? Giết người tốt thì có tội, còn giết con chó như thế thì Chúa cũng bảo phải làm. Chó dại thì phải giết đi, vì thương người. Không giết nó thì tội còn lớn hơn. Nó sẽ làm hại biết bao nhiêu người. Còn mình dẫu có bị khổ thì cũng là khổ vì người khác. Người ta sẽ cảm ơn mình. Cứ để mặc nó thì nó làm hại tất cả. Bác nói chuyện vớ vẩn rồi, bác Mi-khê-ích ạ. Thế đến ngày lễ của Chúa mà cả làng phải đi làm, chẳng lẽ tội lại nhỏ hơn hay sao? Chính bác cũng sẽ chẳng đi đâu.

Bác Mi-khê-ích nói:

— Sao lại không đi? Người ta sai thì tôi đi cày. Cày chứ có phải cày cho mình đâu. Rồi Chúa sẽ biết đó là tội của ai, chỉ cần mình đừng quên Chúa là được. Anh em ạ, tôi không nói lời của tôi đâu. Giá như mình được dạy lấy ác mà trừ ác, thì Chúa đã ban cho mình luật như thế rồi. Đằng này Chúa lại dạy mình khác kia. Anh định trừ cái ác, nhưng cái ác ấy sẽ chui sang anh. Giết người thì chẳng khó gì, nhưng máu sẽ bám vào linh hồn. Giết một người là làm vấy máu linh hồn mình. Anh tưởng anh giết một kẻ xấu, anh tưởng anh trừ được cái xấu, nào ngờ nhìn lại thì anh đã nuôi trong mình một cái xấu còn dữ hơn. Mình chịu nhún trước tai hoạ, thì tai hoạ cũng sẽ chịu nhún trước mình.

Thế là nông dân không đi tới được một quyết định chung, mỗi người nghĩ một phách. Người thì nghĩ theo lời Va-xi-li, người thì đồng ý với lời Pi-ốt, rằng đừng gây tội, cứ nhẫn nhịn.

Nông dân ăn lễ ngày đầu, là ngày chủ nhật. Chiều tối hôm ấy, ông trưởng làng cùng viên thư ký từ nhà chủ đi tới, báo rằng ông Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts, tức gã quản lý, ra lệnh sáng mai bắt nông dân đi làm, tất cả phải ra cày đất gieo yến mạch. Ông trưởng làng cùng viên thư ký đi khắp làng, báo cho từng nhà sáng mai phải ra đồng cày, người thì cày bên kia sông, người thì cày mé đường cái. Nông dân khóc lóc, nhưng không dám cãi lệnh. Sáng hôm sau, họ đánh cày ra đồng. Trong nhà thờ, chuông đang gióng giả gọi lễ sớm, khắp nơi người ta đang ăn mừng ngày lễ, còn nông dân ở đây thì đi cày.

Gã quản lý Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts dậy muộn, đi một vòng xem xét công việc trong nhà. Người nhà gã, bà vợ và cô con gái goá chồng về chơi nhân dịp lễ, đã chải chuốt, mặc quần áo đẹp. Người làm đóng xe cho họ đi lễ nhà thờ, rồi lại đánh xe về. Chị người làm bắc ấm xa-mô-va, Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts cũng vào, cả nhà ngồi uống trà. Uống trà xong, gã châm tẩu, gọi ông trưởng làng tới.

— Thế nào, đã cho bọn nông dân ra cày chưa?

— Thưa ông Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts, đã cho ra cày rồi ạ.

— Thế đi hết cả chưa?

— Đi hết cả rồi ạ, chính tay tôi xếp chỗ cho từng người.

— Xếp chỗ thì xếp rồi, nhưng chúng nó có cày không? Mày đi xem đi, bảo chúng nó là sau bữa trưa tao sẽ ra. Hai cái cày phải xong một mẫu, mà phải cày cho tử tế. Tao mà thấy chỗ nào cày sót thì tao chẳng kể gì ngày lễ đâu.

— Vâng ạ.

Ông trưởng làng toan đi thì gã quản lý gọi giật lại. Gã gọi lại, nhưng lại ngập ngừng, như muốn nói điều gì mà không biết nói thế nào. Ngập ngừng một hồi, gã mới bảo:

— À này, mày nghe thêm xem lũ kẻ cướp ấy nói gì về tao. Đứa nào chửi, chửi những gì, mày kể hết cho tao nghe. Tao biết thừa lũ kẻ cướp ấy, chúng nó chẳng ưa làm lụng gì, chỉ muốn nằm khểnh, lười chảy thây. Ăn với chơi lễ thì chúng nó thích lắm, chứ chẳng nghĩ gì tới chuyện bỏ lỡ mùa cày là muộn mất vụ. Thế nên mày cứ nghe ngóng xem đứa nào nói gì, kể lại hết cho tao. Tao cần biết chuyện đó. Đi đi, nhớ kể hết cho tao, không được giấu điều gì.

Ông trưởng làng quay ra, lên ngựa, đi ra đồng tìm nông dân.

Bà vợ gã quản lý nghe thấy chồng nói chuyện với ông trưởng làng, liền đến xin chồng. Bà vợ gã là một người đàn bà hiền lành, có tấm lòng tốt. Lúc nào có thể là bà lại xoa dịu chồng, đứng ra bênh vực nông dân. Bà tới bên chồng, khẩn khoản:

— Mình ơi, Mi-sen-ca ơi, nhân ngày lễ trọng của Chúa, mình đừng phạm tội, vì Chúa Ki-tô, mình cho bà con về đi.

Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts không nghe lời vợ, chỉ cười nhạo:

— Lâu ngày không bị roi quất vào người hay sao mà dạo này bà bạo mồm thế, dám xen vào việc không phải của mình?

— Mi-sen-ca, mình ơi, tôi vừa nằm mơ thấy điềm không lành về mình. Mình nghe tôi đi, cho bà con về đi.

— Thế đấy, tôi đã bảo mà. Chắc bà ăn lắm mỡ quá, tưởng roi quất không thấm nữa chứ gì. Liệu hồn đấy.

Gã nổi cáu, dí cái tẩu còn lửa vào răng vợ, đuổi bà đi, rồi bảo dọn cơm trưa.

Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts ăn thịt đông, ăn bánh nướng, ăn xúp bắp cải nấu thịt lợn, ăn lợn sữa quay, ăn mì sữa, uống rượu anh đào, rồi tráng miệng bằng bánh ngọt. Xong, gã gọi chị đầu bếp vào, bắt ngồi hát, còn gã thì cầm cây đàn ghi-ta đệm theo.

Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts ngồi đó, lòng phơi phới, ợ lên từng chập, tay gảy đàn, đùa cợt với chị đầu bếp. Ông trưởng làng bước vào, cúi chào, rồi bẩm lại những gì đã thấy ngoài đồng.

— Thế nào, chúng nó có cày không? Có cày xong phần việc không?

— Đã cày được quá nửa rồi ạ.

— Có chỗ nào cày sót không?

— Tôi không thấy chỗ nào ạ. Họ cày tốt lắm, họ sợ.

— Thế đất có tơi không?

— Đất tơi lắm ạ, xốp như hạt anh túc.

Gã quản lý lặng đi một lát.

— Thế chúng nó nói gì về tao? Có chửi không?

Ông trưởng làng ấp úng, nhưng Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts bắt phải nói thật hết.

— Nói hết đi, mày có nói lời của mày đâu, mày nói lời của chúng nó cơ mà. Mày nói thật thì tao thưởng, còn mày bao che cho chúng nó thì đừng trách, tao cho mày ăn roi. Này, Ca-chiu-sa, rót cho nó một cốc vốt-ca lấy can đảm.

Chị đầu bếp đi rót, đưa cho ông trưởng làng. Ông trưởng làng chúc mừng ngày lễ, uống cạn, chùi miệng rồi bắt đầu nói. Ông nghĩ bụng: "Đằng nào thì chúng nó không khen hắn cũng chẳng phải lỗi tại mình. Hắn đã bảo thì mình cứ nói thật." Ông trưởng làng bạo dạn lên, nói:

— Họ kêu ca lắm, ông Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts ạ, kêu ca lắm.

— Chúng nó nói gì? Kể đi.

— Họ cứ nói một câu: hắn không tin Chúa.

Gã quản lý phá lên cười.

— Đứa nào nói thế?

— Tất cả đều nói thế ạ. Họ bảo, hắn đã đầu hàng quỷ dữ rồi.

Gã quản lý cười.

— Thế thì hay đấy. Nhưng mày kể riêng từng đứa một xem, đứa nào nói gì. Thằng Vát-ca nói gì?

Ông trưởng làng không muốn khai người làng mình, nhưng ông với Va-xi-li vốn thù nhau đã lâu.

— Va-xi-li chửi nhiều hơn ai hết.

— Nó nói gì? Kể ra.

— Nói ra thì sợ lắm ạ. Nó bảo, thế nào hắn cũng chết mà không kịp sám hối.

— Ái chà, thằng ấy giỏi đấy. Thế sao nó cứ ngồi há miệng ra đấy mà không giết tao đi? Chắc là chưa có dịp. Được, thằng Vát-ca, rồi tao với mày sẽ tính sổ. Thế còn thằng chó Tit-ca, chắc nó cũng nói chứ?

— Ai cũng nói xấu cả ạ.

— Thì chúng nó nói gì?

— Nhắc lại thì kinh tởm lắm ạ.

— Kinh tởm cái gì? Mày cứ nói, đừng sợ.

— Thì họ bảo, mong cho bụng hắn bục ra, ruột gan hắn lòi ra ngoài.

Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts thích chí, cười sằng sặc.

— Để xem ruột đứa nào lòi ra trước. Đứa nào nói thế? Thằng Tit-ca hả?

— Chẳng ai nói được câu nào tử tế, ai cũng chửi, ai cũng doạ.

— Thế còn thằng Pê-trút-ca Mi-khê-ép? Nó nói gì? Chắc cái thằng khốn ấy cũng chửi chứ gì?

— Không ạ, ông Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts ạ, bác Pi-ốt không chửi.

— Thế nó làm gì?

— Trong tất cả nông dân, chỉ có mình bác ấy là không nói gì cả. Bác ấy là một người lạ lắm. Tôi phải sửng sốt vì bác ấy đấy, ông Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts ạ.

— Sao thế?

— Thì cái việc bác ấy làm ấy ạ. Cả làng cũng phải sửng sốt.

— Thì nó làm cái gì?

— Lạ lùng lắm ạ. Tôi đang đi tới chỗ bác ấy. Bác ấy đang cày mảnh đất dốc nhà Tuốc-kin trên đồi. Tôi vừa tới gần thì nghe có người đang hát, giọng mảnh mảnh, cao cao, hay lắm. Còn trên cái cày, giữa hai càng, có cái gì sáng sáng.

— Rồi sao?

— Sáng như một đốm lửa. Tôi lại gần hơn thì thấy một cây nến sáp loại năm xu gắn vào thanh ngang của cày, đang cháy, mà gió thổi không tắt. Còn bác ấy thì mặc áo sơ mi mới, vừa đi cày vừa hát bài thánh ca Phục Sinh. Tới đầu luống, bác ấy quay cày, giũ đất, mà cây nến vẫn không tắt. Ngay trước mặt tôi, bác ấy giũ đất, đổi bên lưỡi cày, quay cày lại, mà cây nến vẫn cháy, không tắt.

— Thế nó có nói gì không?

— Bác ấy chẳng nói gì cả. Chỉ là thấy tôi thì bác chào mừng ngày Chúa sống lại, rồi lại hát tiếp.

— Thế mày có nói gì với nó không?

— Tôi không nói. Nhưng có mấy người nông dân đi tới, chế giễu bác ấy, bảo rằng bác Mi-khê-ích cả đời cũng không chuộc nổi cái tội đi cày vào ngày lễ Phục Sinh.

— Thế nó trả lời sao?

— Bác ấy chỉ nói: "Bình an dưới thế cho người thiện tâm." Rồi bác lại cầm cày, giục ngựa đi, lại hát bằng cái giọng mảnh mảnh, còn cây nến vẫn cháy, không tắt.

Gã quản lý thôi cười. Gã đặt cây đàn xuống, cúi gằm mặt, ngồi nghĩ.

Gã ngồi một lúc lâu, rồi đuổi chị đầu bếp và ông trưởng làng ra, đi vào sau tấm màn, nằm vật xuống giường, thở dài, rồi rên rỉ, như tiếng xe chở lúa nặng cót két lăn trên đường. Bà vợ đến bên, gợi chuyện, gã không đáp. Gã chỉ nói:

— Nó thắng tao rồi. Giờ thì tới lượt tao rồi.

Bà vợ khuyên:

— Thì mình ra đồng, cho bà con về. Biết đâu rồi lại chẳng sao. Bao nhiêu chuyện ghê gớm mình làm mà không sợ, sao bây giờ lại hoảng thế?

— Tao tiêu rồi. Nó thắng tao rồi.

Bà vợ quát lên:

— Cứ nói mãi một câu, thắng rồi, thắng rồi. Mình ra đồng, cho bà con về, thế là ổn cả. Mình đi đi, để tôi bảo người thắng yên ngựa.

Người ta dắt ngựa tới, và bà vợ thuyết phục được chồng ra đồng cho nông dân về.

Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts lên ngựa, đi ra đồng. Tới cổng làng, một người đàn bà mở cổng cho gã, gã đi vào trong làng. Dân làng vừa trông thấy gã quản lý là trốn biệt, người chạy vào sân, người nấp sau góc nhà, người lủi ra vườn rau.

Gã quản lý cưỡi ngựa đi qua hết làng, tới cái cổng đi ra phía bên kia. Cổng đóng, mà ngồi trên lưng ngựa thì gã không tự mở được. Gã gọi mãi, gọi mãi, bảo người ta ra mở cổng, nhưng chẳng có ai thưa. Gã đành tự xuống ngựa, mở cổng, rồi đứng ngay giữa hai cánh cổng mà leo lên ngựa lại. Gã xỏ chân vào bàn đạp, nhổm người lên, định vắt mình qua yên, thì con ngựa bỗng hoảng vì một con lợn, nhảy dạt về phía hàng rào cọc. Gã lại là người to béo, không trèo kịp lên yên, bị hất ngã sấp bụng xuống hàng rào. Cả hàng rào chỉ có đúng một cái cọc vót nhọn đầu, lại cao hơn những cái khác. Gã ngã đúng bụng vào cái cọc ấy. Cọc đâm toạc bụng gã, gã rơi xuống đất.

Nông dân cày xong trở về. Mấy con ngựa khịt mũi, không chịu đi qua cổng. Nông dân nhìn ra thì thấy Mi-kha-in Xê-mi-ô-nưts nằm ngửa dưới đất, hai tay dang ra, mắt trợn trừng, ruột gan lòi cả ra đất, máu đọng thành vũng, đất không thấm hết.

Nông dân sợ hãi, dắt ngựa vòng lối sau mà đi. Chỉ có bác Pi-ốt Mi-khê-ích xuống ngựa, lại gần gã quản lý, thấy gã đã chết, bèn vuốt mắt cho gã. Rồi bác đóng xe, cùng con trai khiêng xác gã đặt lên thùng xe, chở về nhà ông chủ.

Ông chủ biết hết mọi chuyện, sợ mang tội, bèn cho nông dân thôi làm xâu, chỉ nộp tô.

Và nông dân hiểu ra rằng sức mạnh của Chúa không ở trong tội ác, mà ở trong điều thiện.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLev Tolstoy (1828 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1886
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Свечка, 1886
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →