Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Những người thợ dưới lòng đất

của Andrew Lang

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 10.121 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Vào một đêm rét buốt, khoảng giữa lễ Giáng…
  2. 1:09Bác nông dân không đợi người ta mời tới…
  3. 1:55Thế nào, con trai lão Hăng Cao Lêu Nghêu,…
  4. 3:43Nếu có ai trong đám thợ để ý thấy…
  5. 4:38Hăng không đợi mời tới lần thứ hai, cúi…
  6. 5:26Chính vì thế mà tôi phải giữ của cải…
  7. 7:46Khoảng giữa Giáng sinh và năm mới, tôi thường…
  8. 9:41Ôi, Hăng thấy mình may mắn biết bao! Nhưng…

Vào một đêm rét buốt, khoảng giữa lễ Giáng sinh và năm mới, có một bác nông dân đi bộ sang làng bên. Làng ấy chẳng cách mấy dặm, nhưng tuyết rơi dày tới mức chẳng còn đường sá, tường rào hay bờ giậu nào để lần theo. Chẳng mấy chốc bác lạc đường hoàn toàn, mừng rỡ khi tìm được chỗ tránh gió sau một bụi bách xù rậm rạp. Bác quyết qua đêm ở đây, nghĩ rằng khi mặt trời lên thì sẽ lại thấy đường.

Bác co chân lại gọn gàng như con nhím, cuộn mình trong tấm áo da cừu, rồi ngủ thiếp đi. Bác ngủ được bao lâu thì chẳng ai biết, nhưng một lúc sau bác thấy có ai lay mình khe khẽ, và một người lạ thì thầm:

— Này bác, dậy đi! Bác mà nằm đây thêm nữa thì tuyết vùi mất, chẳng ai biết bác ra sao đâu.

Người đang ngủ từ từ ngóc đầu ra khỏi tấm áo lông, mở đôi mắt nặng trĩu. Gần đó có một người đàn ông cao gầy, tay cầm một cây thông non cao hơn cả người.

Người lạ bảo:

— Đi theo tôi. Cách đây một quãng, chúng tôi đã đốt một đống lửa to, bác nằm đó sẽ dễ chịu hơn nằm giữa đồng hoang này nhiều.

Bác nông dân không đợi người ta mời tới lần thứ hai, đứng dậy ngay, đi theo người lạ. Tuyết rơi dày quá, bác không nhìn thấy nổi ba bước trước mặt, cho tới khi người lạ vung cây gậy lên, thì những đống tuyết tự dạt sang hai bên. Chẳng mấy chốc họ tới một khu rừng, thấy ánh lửa ấm áp thân thiện.

Người lạ bỗng quay lại hỏi:

— Bác tên là gì?

— Tôi là Hăng, con trai lão Hăng Cao Lêu Nghêu.

Trước đống lửa có ba người đàn ông ngồi, áo quần trắng tinh như đang mùa hè. Quanh đó chừng ba chục bước chân, mùa đông đã bị đuổi đi đâu mất. Rêu khô ráo, cây cỏ xanh tươi, ong và bọ cánh cứng kêu vo vo khắp cỏ. Nhưng vượt lên trên những âm thanh ấy, Hăng vẫn nghe tiếng gió rít và tiếng cành cây gãy răng rắc dưới sức nặng của tuyết.

Người lạ cười:

— Thế nào, con trai lão Hăng Cao Lêu Nghêu, chỗ này chẳng dễ chịu hơn bụi bách xù của bác à?

Hăng đáp rằng bác cảm ơn người bạn đã đưa mình tới đây biết bao nhiêu cho đủ. Bác cởi áo da cừu ra, cuộn lại làm gối. Uống xong một cốc nước nóng làm ấm cả lòng, hai người nằm xuống đất. Người lạ nói chuyện một lúc với mấy người kia bằng một thứ tiếng Hăng không hiểu. Bác nghe được một lát rồi lại ngủ thiếp đi.

Khi bác tỉnh dậy, chẳng thấy rừng cũng chẳng thấy lửa đâu, bác không biết mình đang ở chỗ nào. Bác dụi mắt, cố nhớ lại những chuyện đêm qua, nghĩ chắc mình nằm mơ. Nhưng dù sao bác cũng không hiểu vì sao mình lại tới chỗ này.

Bỗng một tiếng động lớn vang lên bên tai, bác thấy mặt đất rung chuyển dưới chân. Hăng lắng nghe một lúc, rồi quyết đi về phía phát ra tiếng động, mong gặp được người nào đó. Cuối cùng bác tới cửa một cái hang đá, bên trong như có lửa cháy. Bác bước vào, thấy một lò rèn khổng lồ, trước lò có cả một đám đông đang kéo bễ, vung búa. Mỗi cái đe có bảy người thợ. Đi khắp thế gian cũng chẳng tìm đâu ra những anh thợ rèn buồn cười hơn thế! Đầu họ to hơn cả thân hình bé xíu, búa to gấp đôi người, vậy mà người khoẻ nhất trần gian cũng không vung chuỳ sắt mạnh hơn, không giáng búa hăng hơn họ.

Những bác thợ rèn tí hon mặc tạp dề da, phía trước che kín từ cổ xuống chân, sau lưng thì để trần. Trên một chiếc ghế cao kê sát tường là người đàn ông cầm gậy gỗ thông, đang chăm chú quan sát những anh thợ tí hon làm việc. Cạnh ông có một cái bình lớn, thỉnh thoảng thợ lại tới múc uống. Ông chủ không còn mặc bộ áo trắng như hôm trước, mà mặc áo chẽn màu đen, thắt một chiếc đai da có những cái khoá to tướng.

Thỉnh thoảng ông lại vung gậy ra hiệu cho thợ, vì giữa tiếng ồn như thế thì nói cũng vô ích.

Nếu có ai trong đám thợ để ý thấy có người lạ, thì họ cũng chẳng bận tâm, cứ làm tiếp việc của mình. Sau mấy giờ làm việc vất vả là tới giờ nghỉ, họ quăng hết búa xuống đất, kéo nhau ra khỏi hang.

Ông chủ bước xuống khỏi ghế, bảo Hăng:

— Tôi thấy bác vào đấy, nhưng việc đang gấp, tôi không dừng lại nói chuyện được. Hôm nay bác là khách của tôi, tôi sẽ cho bác xem tôi sống thế nào. Bác chờ đây một lát, để tôi thay bộ quần áo bẩn này đã.

Nói rồi ông mở một cánh cửa trong hang, bảo Hăng vào trước.

Ôi, bao nhiêu châu báu của cải hiện ra trước đôi mắt sững sờ của Hăng! Những thỏi vàng thỏi bạc chất đống trên sàn, sáng loá tới mức không nhìn thẳng được! Hăng nghĩ đếm chơi cho vui, và đã đếm tới thỏi thứ năm trăm bảy mươi thì chủ nhà quay lại, cười bảo:

— Đừng đếm làm gì, lâu lắm. Bác chọn lấy mấy thỏi trong đống ấy, tôi muốn tặng bác.

Hăng không đợi mời tới lần thứ hai, cúi xuống nhặt một thỏi vàng. Nhưng dù dồn hết sức, hai tay bác cũng không xê dịch nổi nó, nói gì tới nhấc lên khỏi mặt đất.

Chủ nhà cười:

— Ối dào, bác yếu như con bọ chét ấy. Thôi bác đành chịu khó nhìn cho sướng mắt vậy!

Rồi ông bảo Hăng theo mình qua những căn phòng khác, cho tới khi họ vào một gian rộng hơn cả nhà thờ, cũng đầy vàng bạc như những gian kia. Hăng lấy làm lạ khi thấy kho của cải mênh mông ấy, đủ mua được tất cả các vương quốc trên đời, vậy mà lại nằm chôn dưới đất, chẳng giúp được ai, bác nghĩ thế.

Bác hỏi người dẫn đường:

— Sao ông lại gom những của cải này về đây, nơi chẳng làm lợi cho ai? Nếu chúng rơi vào tay loài người, ai cũng giàu có, chẳng ai phải làm lụng hay chịu đói nữa.

— Chính vì thế mà tôi phải giữ của cải này tránh xa họ. Cả thế gian sẽ sa vào lười nhác nếu con người không bị buộc phải làm ăn kiếm miếng bánh hằng ngày. Chỉ có làm lụng và lo toan, con người mới mong nên được trò trống gì.

Hăng tròn mắt nghe những lời ấy, rồi cuối cùng bác nài ông chủ cho biết số vàng bạc nằm mục ở đây thì có ích gì cho ai, mà sao người chủ của nó lại không ngừng tìm cách làm kho báu đầy thêm, trong khi các gian kho đã tràn ứ.

Người dẫn đường đáp:

— Tôi không thật sự là người, dù tôi có hình dáng bên ngoài như người. Tôi là một trong những sinh linh được giao trông nom thế gian. Việc của tôi và đám thợ của tôi là luyện vàng bạc dưới lòng đất. Mỗi năm có một phần nhỏ trong số ấy tìm được đường lên thế giới bên trên, nhưng chỉ vừa đủ để giúp người ta làm ăn buôn bán thôi. Chẳng ai giàu có mà không vất vả. Chúng tôi phải đào vàng lên trước, rồi trộn những hạt vàng vào đất, vào sét, vào cát. Rồi sau bao công tìm kiếm khó nhọc, người có vận may hoặc có lòng kiên nhẫn sẽ tìm thấy nó trong tình trạng ấy. Nhưng anh bạn ơi, sắp tới giờ ăn rồi. Nếu bác muốn ở lại đây ngắm vàng cho sướng mắt thì cứ ở, chừng nào tôi gọi hẵng ra.

Lúc ông đi vắng, Hăng lang thang hết gian kho này sang gian kho khác, thỉnh thoảng thử bẻ một mẩu vàng nhỏ, nhưng chẳng bao giờ bẻ được. Một lúc sau chủ nhà quay lại, nhưng đổi khác tới mức Hăng không tin nổi đó đúng là ông. Áo lụa của ông màu lửa rực rỡ nhất, viền tua vàng và ren lộng lẫy. Ông thắt một chiếc đai vàng ngang lưng, trên đầu đội vương miện vàng, đá quý lấp lánh quanh người như sao trên trời đêm đông. Thay cho cây gậy gỗ, ông cầm một cây trượng vàng chạm trổ tinh xảo.

Chủ nhân của kho báu khoá các cửa lại, bỏ chìa vào túi, rồi dẫn Hăng sang một gian khác, nơi bữa ăn đã dọn sẵn. Bàn ghế đều bằng bạc, còn bát đĩa thì bằng vàng khối. Họ vừa ngồi xuống thì một tá người hầu tí hon xuất hiện phục vụ. Họ làm khéo léo và nhanh nhẹn tới mức Hăng khó tin là họ không có cánh. Vì họ chẳng cao tới mặt bàn, nên thường phải nhảy tót lên tận mặt bàn mới với được các món ăn. Mọi thứ đều mới lạ với Hăng. Tuy hơi bối rối, bác vẫn rất thích thú, nhất là khi người đội vương miện vàng bắt đầu kể cho bác nghe biết bao điều bác chưa từng nghe.

— Khoảng giữa Giáng sinh và năm mới, tôi thường dạo chơi khắp mặt đất, xem con người làm gì, tìm hiểu đôi chút về họ. Nhưng theo những gì tôi thấy và nghe, tôi chẳng khen được họ. Phần đông họ lúc nào cũng cãi cọ, kêu ca lỗi lầm của nhau, còn lỗi của mình thì chẳng ai nghĩ tới.

Hăng định cãi lại rằng thế là không đúng, nhưng bác không cãi được, đành ngồi im, chẳng còn nghe mấy những gì người bạn đang nói. Rồi bác ngủ thiếp đi trên ghế, chẳng biết chuyện gì xảy ra nữa.

Trong giấc ngủ, bác mơ những giấc mơ kỳ lạ, trong đó những thỏi vàng cứ lơ lửng trước mắt. Bác thấy mình khoẻ hơn hẳn mọi lúc còn thức, nhấc hai thỏi vàng lên lưng dễ như không. Bác làm thế nhiều lần tới mức cuối cùng như kiệt sức, ngã lăn xuống đất gần như hết hơi. Rồi bác nghe tiếng nói cười vui vẻ, tiếng hát của những người thợ rèn đang kéo bễ, thậm chí như thấy cả những tia lửa loé lên trước mắt.

Bác vươn vai, từ từ tỉnh dậy. Và kìa, bác đang ở giữa khu rừng xanh, thay cho ánh lửa của thế giới dưới lòng đất là ánh nắng mặt trời đổ tràn lên người. Bác ngồi dậy, ngạc nhiên không hiểu sao mình thấy lạ lùng đến thế.

Cuối cùng trí nhớ quay về. Bác nhớ lại mọi điều kỳ diệu mình đã thấy, cố mãi mà không sao khớp chúng với những chuyện xảy ra hằng ngày. Nghĩ tới gần phát điên, bác đành cố tin rằng vào một đêm giữa Giáng sinh và năm mới, bác đã gặp một người lạ trong rừng, ngủ cả đêm với người ấy bên một đống lửa lớn. Hôm sau hai người cùng ăn trưa, uống nhiều hơn mức nên uống, tóm lại là bác đã chè chén suốt hai ngày với một người đàn ông khác. Nhưng giữa mùa hè rực rỡ thế này, bác khó mà tin nổi lời tự giải thích của chính mình, và cảm thấy hẳn mình đã bị một phù thuỷ nào đó đem ra làm trò chơi.

Gần bác, giữa nắng chói chang, còn dấu vết một đống lửa đã tàn. Lại gần, bác thấy thứ mình tưởng là tro hoá ra là bụi bạc mịn, còn những thanh củi cháy dở thì bằng vàng.

Ôi, Hăng thấy mình may mắn biết bao! Nhưng lấy đâu ra bao tải để mang kho báu về nhà trước khi người khác thấy? Có khó mới ló cái khôn. Hăng cởi chiếc áo lông ra, cẩn thận vốc hết đống tro bạc vào đó, chẳng sót chút nào, đặt mấy thanh vàng lên trên, rồi lấy dây lưng buộc thành một cái bọc, để chẳng thứ gì rơi ra. Thật ra cái bọc không nặng lắm, nhưng bác cứ tưởng tượng nó nặng lắm, và bác đi chầm chậm cho tới khi tìm được một chỗ cất giấu an toàn.

Thế là bỗng chốc Hăng trở nên giàu có, đủ giàu để mua được một khu đất của riêng mình. Nhưng vốn là người thận trọng, rốt cuộc bác quyết rằng tốt nhất nên rời khỏi vùng quen cũ, tìm một chốn ở tận một miền xa, nơi chẳng ai biết gì về mình. Bác chẳng mất bao lâu đã tìm được chỗ ưng ý, trả tiền xong vẫn còn dư dả nhiều. Yên bề nhà cửa rồi, bác cưới một cô gái xinh xắn ở gần đó, sinh được mấy đứa con. Lúc sắp mất, bác kể cho các con nghe chuyện vị chúa tể của thế giới dưới lòng đất, và ông đã làm cho bác giàu có như thế nào.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1866
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện dân gian E-xtô-ni-a, F. R. Kreutzwald sưu tầm, theo bản Đức Ehstnische Märchen, 1869; dịch từ bản tiếng Anh The Underground Workers, Andrew Lang, The Violet Fairy Book, 1901
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →