Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Buổi chiều bên nhà thờ làng

Nỗi sợ · Chương 1/2 · của Anton Chekhov

⏱ 16 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 15.967 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Đmi-tri Pê-trô-vích Xi-lin tốt nghiệp đại học và làm…
  2. 2:38Một ngày chủ nhật tháng Bảy, tôi và Đmi-tri…
  3. 5:39Sao ông Đmi-tri Pê-trô-vích lại nghĩ ra việc đến…
  4. 7:15Thế anh hiểu được cuộc sống à? Anh nói…
  5. 10:41Anh thử hiểu cái người này xem! Anh nghĩ…
  6. 11:22Phải, anh bạn ơi, giá anh biết tôi sợ…
  7. 14:32Hắn nói, mắt chớp lia lịa, đầu nghiêng sang…
  8. 15:33Còn tôi thì thấy ngượng ngùng và buồn bã,…

Chương 1: Buổi chiều bên nhà thờ làng

Đmi-tri Pê-trô-vích Xi-lin tốt nghiệp đại học và làm việc ở Pê-téc-bua, nhưng đến năm ba mươi tuổi thì bỏ việc về làm nông nghiệp. Cơ ngơi của anh làm ăn không đến nỗi tồi, nhưng dù sao tôi vẫn thấy anh không đúng chỗ của mình, và giá anh lại lên Pê-téc-bua thì hay hơn. Khi anh, rám nắng, xám xịt bụi đường, mệt rã rời vì công việc, ra đón tôi ở cổng hay ở bậc thềm, rồi trong bữa tối cứ vật lộn với cơn buồn ngủ, và vợ anh phải dắt anh đi ngủ như dắt một đứa trẻ, hoặc khi anh, thắng được cơn buồn ngủ, bắt đầu trình bày những ý nghĩ tốt đẹp của mình bằng cái giọng dịu dàng, chân tình, như van nài, thì tôi không thấy ở anh một ông chủ trại hay một nhà nông học, mà chỉ thấy một con người kiệt sức. Và tôi thấy rõ anh chẳng cần cơ ngơi nào cả, mà chỉ cần một ngày trôi qua, là tạ ơn Chúa rồi.

Tôi thích đến chơi nhà anh, và có khi ở lại trang trại của anh hai, ba ngày. Tôi thích ngôi nhà của anh, cả công viên, cả vườn cây ăn quả rộng, cả dòng sông nhỏ, và cả cái triết lý của anh, hơi uể oải và rườm rà, nhưng rõ ràng. Có lẽ tôi cũng thích chính con người anh, dù tôi không dám nói chắc, vì đến giờ tôi vẫn chưa gỡ rối được những tình cảm của mình hồi ấy. Đó là một người thông minh, tốt bụng, không nhàm chán và thành thật. Nhưng tôi nhớ rất rõ rằng khi anh thổ lộ với tôi những bí mật thầm kín nhất và gọi quan hệ giữa chúng tôi là tình bạn, thì điều ấy làm tôi bồn chồn khó chịu, và tôi thấy ngượng ngùng. Trong tình bạn anh dành cho tôi có một cái gì đó bất tiện, nặng nề, và tôi sẵn lòng thích một quan hệ bạn bè bình thường hơn.

Số là tôi rất ưa vợ anh, Ma-ri-a Xéc-gây-ép-na. Tôi không yêu chị, nhưng tôi thích khuôn mặt, đôi mắt, giọng nói, dáng đi của chị. Lâu không gặp chị, tôi thấy nhớ, và hồi ấy trí tưởng tượng của tôi chẳng vẽ ra ai một cách hăm hở bằng người đàn bà trẻ trung, xinh đẹp và thanh lịch ấy. Đối với chị, tôi chẳng có ý định gì rõ rệt và cũng chẳng mơ ước gì, nhưng chẳng hiểu sao, lần nào chỉ còn hai chúng tôi với nhau, tôi lại nhớ ra rằng chồng chị coi tôi là bạn, và tôi thấy ngượng. Khi chị chơi dương cầm những bản nhạc tôi thích, hay kể cho tôi nghe điều gì thú vị, tôi nghe một cách thích thú, nhưng đồng thời chẳng hiểu sao những ý nghĩ cứ chui vào đầu tôi: rằng chị yêu chồng, rằng anh ấy là bạn tôi, rằng chính chị cũng coi tôi là bạn của anh ấy. Thế là tâm trạng tôi xấu đi, và tôi trở nên uể oải, vụng về, buồn tẻ. Chị nhận thấy sự thay đổi ấy, và thường nói:

— Anh buồn vì không có bạn anh đấy. Phải cho người ra đồng gọi anh ấy về thôi.

Và khi Đmi-tri Pê-trô-vích về, chị nói:

— Đấy, bạn anh về rồi. Vui lên đi.

Cứ thế chừng một năm rưỡi.

Một ngày chủ nhật tháng Bảy, tôi và Đmi-tri Pê-trô-vích, vì chẳng có gì làm, đi xe đến làng lớn Clu-si-nô để mua ít đồ nhắm cho bữa tối. Trong lúc chúng tôi đi hết cửa hàng này sang cửa hàng khác, mặt trời đã lặn và buổi chiều đến, cái buổi chiều mà có lẽ suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên. Mua được thứ phó mát trông như xà phòng và một khúc xúc xích cứng như đá, sặc mùi hắc ín, chúng tôi vào quán rượu hỏi xem có bia không. Bác xà ích của chúng tôi đánh xe đến lò rèn đóng móng ngựa, và chúng tôi dặn sẽ đợi bác ấy gần nhà thờ. Chúng tôi đi, nói chuyện, cười cợt những thứ mình vừa mua, và sau lưng chúng tôi, lặng lẽ và với vẻ bí ẩn như một tay mật thám, là một người mang một biệt danh khá lạ trong huyện chúng tôi: Bốn Mươi Thánh Tử Đạo. Cái gã Bốn Mươi Thánh Tử Đạo này chẳng ai khác chính là Gáp-ri-la Xê-vê-rốp, hay gọi đơn giản là Gáp-riu-sca, người từng làm hầu phòng cho tôi một thời gian ngắn và bị tôi đuổi vì rượu chè. Hắn cũng từng làm cho Đmi-tri Pê-trô-vích, và cũng bị anh đuổi vì đúng cái tội ấy. Đó là một bợm rượu khủng khiếp, mà nói chung cả số phận hắn cũng say khướt và bê tha như chính hắn. Bố hắn là một cha đạo, mẹ hắn là người quý tộc, vậy theo dòng dõi thì hắn thuộc tầng lớp có đặc quyền. Nhưng tôi có nhìn kỹ đến đâu vào khuôn mặt sạm rượu, lễ phép, lúc nào cũng nhễ nhại mồ hôi của hắn, vào bộ râu đỏ đã lốm đốm bạc, vào cái áo vét rách rưới thảm hại và chiếc sơ mi đỏ bỏ ngoài quần, thì cũng chẳng sao tìm ra được dù chỉ một dấu vết của cái mà ở xứ ta người ta gọi là đặc quyền. Hắn tự xưng là người có học, và kể rằng đã học ở trường dòng, nhưng không học hết vì bị đuổi do hút thuốc lá. Sau đó hắn hát trong đội hợp xướng của đức giám mục, rồi sống hai năm trong tu viện, từ đó hắn cũng bị đuổi, nhưng không phải vì hút thuốc, mà vì "yếu đuối". Hắn đi bộ khắp hai tỉnh, chẳng hiểu sao cứ nộp đơn cho các toà giám mục và các cơ quan công quyền, bốn lần bị đưa ra toà. Cuối cùng, mắc kẹt lại ở huyện chúng tôi, hắn làm hầu phòng, làm người giữ rừng, làm người coi chó săn, làm người gác nhà thờ, lấy một mụ goá làm nghề nấu bếp chẳng ra gì, rồi chìm hẳn vào cuộc sống đầy tớ, và quen với cái nhơ nhớp, cãi cọ của nó đến nỗi chính hắn cũng nói về dòng dõi đặc quyền của mình với chút ngờ vực, như nói về một truyền thuyết nào đó. Vào thời gian tôi đang kể đây, hắn lang thang không có việc làm, tự xưng là thầy thuốc thú y và thợ săn, còn vợ hắn thì mất tích đâu chẳng ai biết.

Từ quán rượu, chúng tôi đến nhà thờ, ngồi trên bậc thềm chờ bác xà ích. Bốn Mươi Thánh Tử Đạo đứng cách xa một chút, đưa tay lên miệng để khi cần thì lễ phép ho vào đó. Trời đã tối. Hơi ẩm buổi chiều toả nồng, và trăng sắp mọc. Trên bầu trời trong vắt đầy sao chỉ có hai đám mây, ngay trên đầu chúng tôi, một đám lớn, một đám nhỏ hơn. Chúng cô đơn, như mẹ với con, nối nhau chạy về phía ráng chiều đang tàn.

Đmi-tri Pê-trô-vích nói:

— Hôm nay đẹp trời quá.

Bốn Mươi Thánh Tử Đạo đồng tình, lễ phép ho vào tay:

— Đẹp vô cùng ạ…

Rồi hắn hỏi bằng giọng ngọt xớt, rõ ràng muốn bắt chuyện:

— Sao ông Đmi-tri Pê-trô-vích lại nghĩ ra việc đến đây ạ?

Đmi-tri Pê-trô-vích không đáp gì. Bốn Mươi Thánh Tử Đạo thở dài sườn sượt, và nói khẽ, không nhìn chúng tôi:

— Tôi khổ chỉ vì một nguyên nhân duy nhất, mà vì nó tôi sẽ phải trả lời trước Chúa toàn năng. Dĩ nhiên tôi là kẻ hư hỏng, chẳng được tích sự gì, nhưng xin các ông tin cho lương tâm tôi: không có mẩu bánh mì, còn khổ hơn con chó… Xin ông tha lỗi cho, ông Đmi-tri Pê-trô-vích!

Xi-lin không nghe, mà chống hai nắm tay đỡ đầu, nghĩ ngợi điều gì. Nhà thờ đứng ở cuối phố, trên bờ cao, và qua song rào chúng tôi thấy dòng sông, những đồng cỏ ngập nước bên kia sông, và ánh lửa đỏ rực của một đống lửa, quanh đó có những bóng người và ngựa đen sẫm đang chuyển động. Xa hơn đống lửa còn có những đốm lửa nhỏ: đó là một xóm nhỏ… Ở đó người ta đang hát.

Trên sông và đây đó trên đồng cỏ, sương mù đang bốc lên. Những dải sương cao, hẹp, đặc và trắng như sữa, lang thang trên mặt sông, che lấp bóng sao phản chiếu và vướng vào những cây liễu. Mỗi phút chúng lại đổi hình đổi dạng, và trông như có dải đang ôm lấy nhau, có dải đang cúi chào, có dải giơ lên trời những cánh tay với ống tay áo rộng như áo thầy tu, như đang cầu nguyện… Có lẽ chúng đã gợi cho Đmi-tri Pê-trô-vích nghĩ đến những bóng ma và người chết, vì anh quay mặt về phía tôi, mỉm cười buồn bã mà hỏi:

— Anh bạn thân mến, anh nói cho tôi biết, tại sao khi muốn kể một điều gì khủng khiếp, bí ẩn và hoang đường, chúng ta lại không lấy chất liệu từ cuộc sống, mà nhất định phải lấy từ thế giới của những bóng ma và những cái bóng bên kia nấm mồ?

— Cái gì không hiểu được thì đáng sợ.

— Thế anh hiểu được cuộc sống à? Anh nói đi: chẳng lẽ anh hiểu cuộc sống hơn thế giới bên kia?

Đmi-tri Pê-trô-vích ngồi sát hẳn vào tôi, đến nỗi tôi cảm thấy hơi thở của anh trên má mình. Trong bóng hoàng hôn, khuôn mặt gầy gò, tái nhợt của anh càng tái hơn, còn bộ râu sẫm màu thì đen hơn bồ hóng. Mắt anh buồn bã, thành thật, và hơi hoảng sợ, như thể anh đang định kể cho tôi nghe một điều gì khủng khiếp. Anh nhìn vào mắt tôi, và nói tiếp bằng cái giọng van nài quen thuộc:

— Cuộc sống của chúng ta và thế giới bên kia đều khó hiểu và đáng sợ như nhau. Ai sợ ma thì cũng phải sợ tôi, sợ những đốm lửa kia, sợ bầu trời, vì tất cả những thứ ấy, nếu nghĩ cho kỹ, cũng khó hiểu và hoang đường chẳng kém gì những kẻ từ cõi chết trở về. Hoàng tử Ham-lét không tự sát vì ông sợ những ảo ảnh có thể đến trong giấc ngủ ngàn thu của mình. Tôi thích đoạn độc thoại nổi tiếng ấy của ông, nhưng thú thật, nó chưa bao giờ chạm đến tâm hồn tôi. Tôi thú nhận với anh, như với một người bạn, rằng đôi khi trong những phút buồn chán, tôi hình dung ra giờ chết của mình. Trí tưởng tượng của tôi nghĩ ra hàng nghìn ảo ảnh u ám nhất, và tôi tự đẩy mình đến một sự cuồng nhiệt đau đớn, đến cơn ác mộng, nhưng tôi xin cam đoan với anh, điều ấy tôi không thấy đáng sợ hơn hiện thực. Khỏi phải nói, những ảo ảnh thì đáng sợ, nhưng cuộc sống cũng đáng sợ. Anh bạn ơi, tôi không hiểu cuộc sống và tôi sợ nó. Tôi không biết, có lẽ tôi là một kẻ bệnh hoạn, lệch lạc. Người bình thường, khoẻ mạnh tưởng rằng mình hiểu mọi điều mình nghe thấy và nhìn thấy, còn tôi thì đã đánh mất cái "tưởng rằng" ấy, và ngày này qua ngày khác tôi tự đầu độc mình bằng nỗi sợ. Có một thứ bệnh gọi là chứng sợ khoảng không, thì tôi cũng mắc chứng sợ cuộc sống. Khi tôi nằm trên cỏ và nhìn hồi lâu một con bọ nhỏ mới sinh ra hôm qua và chẳng hiểu gì cả, tôi có cảm giác cuộc đời nó chỉ toàn là kinh hoàng, và ở nó, tôi thấy chính mình.

Tôi hỏi:

— Thế chính xác thì anh sợ cái gì?

— Tôi sợ tất cả. Bản chất tôi không phải người sâu sắc, và ít quan tâm đến những vấn đề như thế giới bên kia, số phận nhân loại, nói chung là ít khi bay bổng lên chín tầng mây. Tôi sợ chủ yếu là cái thường nhật, cái mà chẳng ai trong chúng ta trốn được. Tôi không phân biệt được trong hành động của mình đâu là thật đâu là giả, và chúng làm tôi bất an. Tôi nhận thức được rằng hoàn cảnh sống và sự giáo dục đã nhốt tôi vào một vòng dối trá chật hẹp, rằng cả cuộc đời tôi chẳng qua chỉ là nỗi lo thường ngày làm sao lừa dối mình, lừa dối người khác mà không nhận ra điều đó, và tôi sợ khi nghĩ rằng cho đến chết tôi cũng không thoát ra khỏi sự dối trá ấy. Hôm nay tôi làm một việc gì đó, đến mai tôi đã không hiểu tại sao mình làm thế. Tôi vào làm việc ở Pê-téc-bua, và tôi sợ. Tôi về đây làm nông nghiệp, và cũng sợ… Tôi thấy chúng ta biết quá ít, và vì thế ngày nào cũng sai lầm, bất công, vu khống, ăn hiếp đời người khác, phí hết sức lực vào những thứ vớ vẩn mà chúng ta chẳng cần, lại còn cản trở chúng ta sống. Và điều ấy làm tôi sợ, vì tôi không hiểu tất cả những thứ ấy để làm gì và ai cần đến chúng. Anh bạn ơi, tôi không hiểu con người và tôi sợ họ. Tôi sợ khi nhìn những người nông dân, tôi không biết họ đau khổ vì những mục đích cao cả nào, và họ sống để làm gì. Nếu cuộc sống là sự hưởng thụ, thì họ là những người thừa, không cần thiết. Còn nếu mục đích và ý nghĩa của cuộc sống là ở cảnh túng thiếu và sự dốt nát không lối thoát, vô vọng, thì tôi không hiểu ai cần đến tòa án dị giáo ấy và cần để làm gì. Tôi không hiểu ai, không hiểu điều gì cả.

Đmi-tri Pê-trô-vích chỉ vào Bốn Mươi Thánh Tử Đạo:

— Anh thử hiểu cái người này xem! Anh nghĩ kỹ xem!

Nhận thấy cả hai chúng tôi đang nhìn mình, Bốn Mươi Thánh Tử Đạo lễ phép ho vào nắm tay, nói:

— Với những ông chủ tốt, tôi bao giờ cũng là đầy tớ trung thành, nhưng nguyên nhân chính là rượu. Giờ đây nếu các ông thương lấy kẻ khốn khổ này mà cho tôi một chỗ làm, thì tôi xin hôn tượng thánh mà thề. Lời tôi nói chắc như đinh đóng cột!

Người gác nhà thờ đi ngang qua, ngơ ngác nhìn chúng tôi, rồi bắt đầu giật sợi dây. Quả chuông chậm rãi, ngân dài, xé tan sự tĩnh lặng của buổi chiều, điểm mười giờ.

Đmi-tri Pê-trô-vích nói:

— Thế mà đã mười giờ rồi! Đến lúc chúng ta phải về rồi.

Anh thở dài:

— Phải, anh bạn ơi, giá anh biết tôi sợ những ý nghĩ thường nhật, đời thường của mình đến thế nào, những ý nghĩ tưởng chẳng có gì đáng sợ. Để khỏi nghĩ, tôi giải khuây bằng công việc và cố làm cho mình mệt nhoài để đêm ngủ say. Con cái, vợ, với người khác đó là chuyện bình thường, nhưng với tôi thì nặng nề biết bao, anh bạn ạ!

Anh lấy hai tay vò mặt, đằng hắng rồi bật cười.

Anh nói:

— Giá tôi kể được cho anh nghe tôi đã đóng vai một thằng ngốc thế nào trong đời! Ai cũng bảo tôi: anh có một người vợ dễ thương, những đứa con xinh xắn, và chính anh là một người chồng, người cha tuyệt vời. Người ta tưởng tôi rất hạnh phúc, và ghen tị với tôi. Thôi thì đã đến nước này, tôi nói riêng với anh: cuộc sống gia đình hạnh phúc của tôi chỉ là một sự hiểu lầm đáng buồn, và tôi sợ nó.

Khuôn mặt tái nhợt của anh trở nên xấu xí vì nụ cười gượng gạo. Anh ôm lấy eo tôi, nói tiếp, giọng khe khẽ:

— Anh là người bạn chân thành của tôi, tôi tin anh và kính trọng anh sâu sắc. Trời ban cho chúng ta tình bạn để ta có thể giãi bày và thoát khỏi những bí mật đè nặng lên mình. Vậy anh cho phép tôi được dùng đến tình bạn của anh mà nói hết với anh sự thật. Cuộc sống gia đình của tôi, cái mà anh thấy tuyệt vời như thế, là nỗi bất hạnh lớn nhất và nỗi sợ lớn nhất của tôi. Tôi lấy vợ một cách kỳ quặc và ngu ngốc. Phải nói với anh rằng trước khi cưới, tôi yêu Ma-sa điên cuồng, và theo đuổi cô ấy suốt hai năm. Tôi cầu hôn năm lần, và cô ấy đều từ chối, vì cô ấy hoàn toàn dửng dưng với tôi. Lần thứ sáu, khi tôi, ngây ngất vì yêu, quỳ bò dưới chân cô ấy mà xin cưới, như xin bố thí, thì cô ấy đồng ý… Cô ấy nói với tôi thế này: "Em không yêu anh, nhưng em sẽ chung thuỷ với anh"… Tôi đã hân hoan nhận cái điều kiện ấy. Hồi ấy tôi hiểu nó nghĩa là gì, nhưng bây giờ, thề có Chúa, tôi không hiểu. "Em không yêu anh, nhưng em sẽ chung thuỷ với anh", thế nghĩa là gì? Đó là sương mù, là bóng tối… Bây giờ tôi vẫn yêu cô ấy mãnh liệt như ngày đầu cưới, còn cô ấy, tôi có cảm giác, vẫn dửng dưng như trước, và có lẽ còn vui mỗi khi tôi đi vắng. Tôi không biết chắc cô ấy có yêu tôi hay không, tôi không biết, không biết, nhưng chúng tôi sống chung một mái nhà, xưng anh em với nhau, ngủ chung giường, có con với nhau, của cải chung… Thế thì nghĩa là gì? Để làm gì? Anh có hiểu gì không, anh bạn? Một cực hình tàn nhẫn! Vì tôi chẳng hiểu gì về quan hệ giữa chúng tôi, nên tôi căm ghét khi thì cô ấy, khi thì chính mình, khi thì cả hai, mọi thứ trong đầu tôi rối tung lên, tôi tự hành hạ mình và trở nên đần độn, mà như để trêu ngươi, cô ấy mỗi ngày một đẹp ra, cô ấy trở nên tuyệt diệu… Theo tôi, mái tóc cô ấy thật tuyệt vời, còn nụ cười của cô ấy thì không người đàn bà nào có được. Tôi yêu, và biết rằng mình yêu một cách vô vọng. Một tình yêu vô vọng với người đàn bà mà mình đã có với nhau hai đứa con! Chẳng lẽ điều ấy dễ hiểu mà không đáng sợ? Chẳng lẽ nó không đáng sợ hơn những bóng ma?

Anh đang ở trong một tâm trạng mà có lẽ anh còn nói rất lâu nữa, nhưng may thay, có tiếng bác xà ích. Ngựa của chúng tôi đã đến. Chúng tôi lên xe, và Bốn Mươi Thánh Tử Đạo bỏ mũ ra, đỡ cả hai chúng tôi lên xe với vẻ mặt như đã chờ dịp này từ lâu để được chạm vào thân thể quý giá của chúng tôi.

Hắn nói, mắt chớp lia lịa, đầu nghiêng sang một bên:

— Ông Đmi-tri Pê-trô-vích, cho phép tôi đến nhà ông. Xin ông làm phúc! Tôi chết đói mất!

Xi-lin nói:

— Thôi được. Cứ đến đi, ở ba ngày đã, rồi sau hẵng hay.

Bốn Mươi Thánh Tử Đạo mừng rỡ:

— Xin tuân lệnh! Ngay hôm nay tôi sẽ đến ạ.

Về nhà phải đi sáu dặm. Đmi-tri Pê-trô-vích hài lòng vì rốt cuộc đã giãi bày được với bạn, suốt dọc đường cứ ôm eo tôi, và không còn cay đắng hay sợ hãi gì nữa, mà vui vẻ nói với tôi rằng nếu gia đình anh êm ấm, thì anh đã trở về Pê-téc-bua và làm khoa học ở đó. Anh bảo cái trào lưu đã lùa bao nhiêu thanh niên có tài về nông thôn là một trào lưu đáng buồn. Lúa mạch đen và lúa mì ở nước Nga ta thì nhiều, nhưng người có văn hoá thì chẳng có. Phải để cho lớp trẻ có tài, khoẻ mạnh làm khoa học, nghệ thuật và chính trị. Làm khác đi là thiếu tính toán. Anh triết lý một cách thích thú và tỏ ý tiếc rằng sáng sớm mai sẽ phải chia tay tôi, vì anh phải đi dự một phiên đấu giá gỗ.

Còn tôi thì thấy ngượng ngùng và buồn bã, và tôi có cảm giác mình đang lừa dối một con người. Đồng thời tôi lại thấy dễ chịu. Tôi nhìn vầng trăng khổng lồ đỏ ối đang mọc lên, và hình dung ra một người đàn bà tóc vàng cao ráo, thon thả, mặt trắng xanh, lúc nào cũng ăn mặc đẹp, thoang thoảng một thứ nước hoa đặc biệt giống mùi xạ hương. Và chẳng hiểu sao tôi thấy vui khi nghĩ rằng chị không yêu chồng.

— Hết chương 1 —

Mục lục Nỗi sợ

  1. 1Buổi chiều bên nhà thờ làng16 phút
  2. 2Đêm trăng và chiếc mũ bỏ quênĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Страх, 1892
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →