Chương 1: Hai kẻ vô dụng
Khi một người đi tới một xứ xa xôi, anh ta phải sẵn sàng quên đi nhiều điều đã học, và tiếp nhận những phong tục gắn liền với sự sống còn ở vùng đất mới. Anh ta phải bỏ lại những lý tưởng cũ và những vị thần cũ, và nhiều khi phải đảo ngược chính những chuẩn mực vốn đã uốn nắn cách cư xử của mình từ trước tới nay. Với những ai có khả năng thích nghi biến hoá khôn lường, cái mới mẻ của sự thay đổi ấy thậm chí có thể là nguồn vui. Nhưng với những ai đã chai cứng trong những lối mòn mà họ được tạo ra, sức ép của môi trường đổi khác là không chịu nổi, và họ bứt rứt cả thể xác lẫn tinh thần dưới những ràng buộc mới mà họ không hiểu. Nỗi bứt rứt ấy thế nào cũng tác động qua lại, sinh ra đủ thứ điều xấu và dẫn tới đủ thứ bất hạnh. Người không tự đặt mình vào nếp mới được thì tốt hơn hết là trở về xứ sở của mình. Nếu chần chừ quá lâu, chắc chắn anh ta sẽ chết.
Người quay lưng với những tiện nghi của một nền văn minh lâu đời để đối mặt với tuổi trẻ hoang dã, với sự giản dị nguyên sơ của phương Bắc, có thể ước tính khả năng thành công của mình tỉ lệ nghịch với số lượng và độ bền chắc của những thói quen đã đóng khuôn vô phương cứu chữa. Nếu là người có tố chất, anh ta sẽ sớm nhận ra những thói quen vật chất là thứ ít quan trọng hơn. Đổi một thực đơn tinh tế lấy cái ăn thô ráp, đổi giày da cứng lấy giày da thú mềm không ra hình dạng, đổi giường nệm lông lấy chỗ nằm trên tuyết, rốt cuộc là chuyện rất dễ. Nhưng cái khó của anh ta sẽ tới khi phải học cách uốn nắn thái độ tâm trí mình cho đúng với mọi sự, nhất là với đồng loại. Thay cho những phép lịch sự của đời thường, anh ta phải có lòng vị tha, nhẫn nại và bao dung. Chỉ có như thế, và chỉ có như thế, anh ta mới có được viên ngọc quý giá ấy: tình bạn đường thật sự. Anh ta không được nói "cảm ơn", mà phải biết ơn mà không cần mở miệng, và chứng minh điều đó bằng cách đáp lại tương xứng. Nói gọn, anh ta phải thay lời nói bằng việc làm, thay câu chữ bằng tinh thần.
Khi khắp thế giới vang lên chuyện vàng ở Bắc Cực, và sức hút của phương Bắc siết lấy những sợi dây lòng con người, Các-tơ Uê-đơ-bi bỏ cái chân thư ký êm ấm, đưa một nửa số tiền dành dụm cho vợ, còn một nửa đem mua đồ nghề. Trong bản tính anh ta chẳng có chút lãng mạn nào. Ách nô lệ của nghề buôn bán đã nghiền nát hết cả. Anh ta chỉ đơn giản là chán cái cảnh quần quật không ngừng, và muốn liều những mạo hiểm lớn để mong những món lợi tương xứng. Giống như bao kẻ ngu ngốc khác, khinh thường những con đường mòn cũ mà những người khai phá phương Bắc đã dùng hai chục năm nay, anh ta vội vã tới Ét-môn-tơn vào mùa xuân năm ấy. Và ở đó, chẳng may cho phần hồn của anh ta, anh ta nhập vào một nhóm người.
Nhóm này chẳng có gì khác thường, trừ kế hoạch của nó. Ngay cả đích đến của nó, cũng như mọi nhóm khác, là Clôn-đai-cơ. Nhưng con đường mà nhóm vạch ra để tới đích ấy khiến người bản xứ dày dạn nhất, sinh ra và lớn lên giữa những thăng trầm của miền Tây Bắc, cũng phải nín thở. Ngay cả Giắc Ba-tít cũng ngạc nhiên, dù anh ta là con của một người đàn bà Chíp-pê-oa và một gã chở thuyền thuê bỏ đạo, cất tiếng khóc đầu đời trong một túp lều da hươu ở phía bắc vĩ tuyến sáu mươi lăm, và được dỗ nín bằng những ngụm mỡ sống mút ngon lành. Dù đã bán sức cho họ và đồng ý đi cùng tới tận vùng băng không bao giờ tan, mỗi khi được hỏi ý kiến, anh ta lại lắc đầu đầy điềm gở.
Ngôi sao xấu của Pớc-xi Cớt-phớt hẳn đang lên cao, vì anh ta cũng nhập vào đoàn người đi tìm vàng này. Anh ta là một người bình thường, có tài khoản ngân hàng sâu như học vấn của anh ta, mà nói thế là nhiều lắm rồi. Anh ta chẳng có lý do gì để dấn thân vào một cuộc phiêu lưu như thế, chẳng có lý do gì trên đời, ngoài việc anh ta mắc chứng uỷ mị phát triển quá mức bình thường. Anh ta nhầm nó với tinh thần lãng mạn và phiêu lưu thực sự. Bao người khác cũng đã nhầm như thế, và phạm một sai lầm chết người như thế.
Đợt băng tan đầu tiên của mùa xuân đã thấy cả nhóm đi theo dòng băng trôi trên sông Nai. Đó là một đoàn thuyền hùng hậu, vì đồ đạc nhiều, và họ còn có một toán người lai chở thuyền thuê tai tiếng đi cùng, kèm theo vợ con. Ngày này qua ngày khác, họ vật lộn với thuyền và xuồng, chống chọi với muỗi và những loài sâu bọ khác cùng họ, hoặc đổ mồ hôi chửi rủa ở những chặng phải khiêng thuyền qua cạn. Lao động khắc nghiệt như thế lột trần con người tới tận gốc rễ linh hồn, và trước khi hồ A-tha-ba-xca khuất xa ở phía nam, mọi thành viên trong nhóm đều đã giương lên màu cờ thật của mình.
Hai kẻ trốn việc và càu nhàu kinh niên là Các-tơ Uê-đơ-bi và Pớc-xi Cớt-phớt. Cả nhóm cộng lại cũng than đau than mỏi ít hơn mỗi người trong hai gã ấy. Chưa một lần họ tình nguyện làm một trong nghìn lẻ một việc vặt trong trại. Một xô nước cần xách, thêm một ôm củi cần chẻ, bát đĩa cần rửa và lau, một món đồ bỗng dưng cần tới phải lục tìm trong đống hành lý, là y như rằng hai mầm non mềm yếu của nền văn minh ấy phát hiện ra mình bị bong gân hay phồng rộp cần chữa ngay lập tức.
Họ là những người đầu tiên đi ngủ vào ban đêm, khi còn cả chục việc chưa làm. Là những người cuối cùng dậy vào buổi sáng, khi lẽ ra mọi thứ phải sẵn sàng lên đường trước khi bắt đầu nấu bữa sáng.
Họ là những người đầu tiên lao vào bữa ăn, những người cuối cùng góp tay nấu nướng. Đầu tiên chộp lấy một món ngon hiếm hoi, cuối cùng mới phát hiện ra mình đã gộp phần của người khác vào phần của mình. Nếu phải chèo, họ lén lướt mái chèo hờ trên mặt nước mỗi nhát, để đà thuyền đẩy mái chèo lên. Họ tưởng chẳng ai để ý. Nhưng bạn đồng hành chửi thầm và dần căm ghét họ, còn Giắc Ba-tít thì công khai chế nhạo và nguyền rủa họ từ sáng tới tối. Nhưng Giắc Ba-tít đâu phải là người lịch sự.
Tới hồ Nô Lệ Lớn, họ mua chó vịnh Hớt-xơn, và đoàn thuyền chìm sát mép mạn với gánh nặng thêm của cá khô và thịt khô nghiền trộn mỡ. Rồi xuồng và thuyền theo dòng nước xiết của sông Mác-ken-di, lao vào vùng Đất Hoang Lớn. Họ thử tìm vàng ở mọi nhánh suối trông có vẻ hứa hẹn, nhưng lớp đất có vàng khó nắm bắt cứ nhảy múa mãi về phương bắc. Tới hồ Gấu Lớn, bị nỗi sợ chung trước những Vùng Đất Chưa Biết đè bẹp, đám người chở thuyền thuê bắt đầu bỏ trốn. Và đồn Hy Vọng đã thấy những người cuối cùng, gan dạ nhất, cúi rạp người kéo dây, ngược con nước mà họ vừa phản bội trôi xuôi.
Chỉ còn Giắc Ba-tít ở lại. Chẳng phải anh ta đã thề sẽ đi tới tận vùng băng không bao giờ tan sao? Giờ họ thường xuyên phải tra cứu những tấm bản đồ dối trá, phần lớn vẽ theo lời đồn.
Và họ thấy cần phải gấp, vì mặt trời đã qua điểm chí phía bắc, và đang dẫn mùa đông trở về phương nam. Men theo bờ vịnh nơi sông Mác-ken-di đổ ra Bắc Băng Dương, họ vào cửa sông Pin Nhỏ. Rồi bắt đầu cuộc ngược dòng gian khổ, và hai Kẻ Vô Dụng càng khốn đốn hơn bao giờ hết. Dây kéo và sào chống, mái chèo và dây đai đội đầu, ghềnh thác và những chặng khiêng thuyền qua cạn, những cực hình ấy khiến một kẻ ghê tởm sâu sắc những cuộc mạo hiểm lớn, còn kẻ kia thì khắc ghi một bài học nóng bỏng về chất lãng mạn thật sự của phiêu lưu. Một hôm họ nổi loạn, và khi bị Giắc Ba-tít chửi rủa thậm tệ, họ đã quay lại cãi, như con giun xéo lắm cũng quằn. Nhưng gã lai đánh cho cả hai một trận, rồi đuổi họ đi làm, mình mẩy bầm dập và rớm máu. Đó là lần đầu tiên trong đời một trong hai người bị ăn đòn.
Bỏ lại thuyền xuồng ở thượng nguồn sông Pin Nhỏ, họ dành phần còn lại của mùa hè để khiêng đồ qua chặng dài vượt đường phân thuỷ sông Mác-ken-di sang sông Chuột Tây. Con sông nhỏ này đổ vào sông Nhím, và sông Nhím lại nhập vào sông Y-u-cơn, nơi con đường lớn của phương Bắc ấy quay đầu chảy ngược ở vòng Bắc Cực.
Nhưng họ đã thua trong cuộc chạy đua với mùa đông, và một hôm họ buộc bè vào lớp băng dày ở chỗ nước xoáy, rồi vội vã chuyển đồ lên bờ. Đêm ấy, con sông dồn băng rồi vỡ ra mấy lần. Sáng hôm sau nó đã ngủ yên hẳn.
— Ta không thể cách sông Y-u-cơn hơn sáu trăm cây số được, Xlô-pơ kết luận, đo đốt ngón tay cái theo tỉ lệ bản đồ.
Cuộc hội đồng, trong đó hai Kẻ Vô Dụng đã rên rỉ một cách rất chi là bất lợi cho mình, đang đi tới hồi kết.
— Trạm vịnh Hớt-xơn, lâu lắm rồi. Giờ không dùng nữa.
Cha của Giắc Ba-tít đã từng đi chặng đường này cho Công ty Lông thú ngày xưa, và tiện thể đánh dấu đường bằng hai ngón chân bị đông cứng.
— Trời đất quỷ thần ơi! một người khác trong nhóm kêu lên. Không có người da trắng nào à?
— Chẳng có lấy một người, Xlô-pơ khẳng định như châm ngôn. Nhưng ngược sông Y-u-cơn tới Đo-xơn thì chỉ còn tám trăm cây số nữa thôi. Tính từ đây thì gọi là một nghìn rưởi cây số đổ lại.
Uê-đơ-bi và Cớt-phớt đồng thanh rên rỉ.
— Mất bao lâu hả Ba-tít?
Gã lai tính một lát.
— Làm như điên, không ai gục, thì mười, hai mươi, bốn mươi, năm mươi ngày. Hai đứa bé này đi, gã chỉ hai Kẻ Vô Dụng, thì không biết được. Có khi tới lúc địa ngục đóng băng, có khi tới lúc đó cũng chưa.
Việc làm giày đi tuyết và giày da ngừng lại. Có ai đó gọi tên một thành viên vắng mặt, người ấy bước ra từ một căn nhà gỗ cổ xưa bên rìa đống lửa trại và nhập bọn. Căn nhà gỗ ấy là một trong vô số bí ẩn ẩn náu trong những chốn thẳm sâu mênh mông của phương Bắc. Dựng bao giờ, ai dựng, chẳng ai biết được.
Hai ngôi mộ ngoài trời, đá chất cao, có lẽ chứa bí mật của những kẻ lang thang thuở trước. Nhưng bàn tay nào đã chất những hòn đá ấy?
Thời khắc đã tới. Giắc Ba-tít ngừng tay đang chỉnh bộ yên cương, ghì con chó đang giãy giụa xuống tuyết. Người đầu bếp lặng lẽ phản đối vì phải chậm trễ, ném một nắm thịt muối vào nồi đậu đang sôi ùng ục, rồi đứng nghiêm. Xlô-pơ đứng dậy. Thân hình ông là một sự tương phản lố bịch với vóc dáng khoẻ mạnh của hai Kẻ Vô Dụng. Da vàng ệch và yếu ớt, chạy trốn khỏi một cái hố sốt rét ở Nam Mỹ, ông chưa từng dừng cuộc trốn chạy xuyên qua các vùng khí hậu, mà vẫn làm lụng ngang với đàn ông. Ông nặng chừng bốn mươi cân, tính cả con dao săn nặng trịch, và mái tóc hoa râm cho biết thời sung sức của ông đã qua. Những bắp thịt trẻ trung tươi mới của Uê-đơ-bi hay Cớt-phớt đều mạnh gấp mười sức ông, vậy mà ông có thể đi một ngày đường khiến họ gục xuống đất. Và suốt ngày hôm ấy ông đã quất roi tinh thần vào những người bạn khoẻ hơn mình để họ dám liều một nghìn rưởi cây số gian khổ khắc nghiệt nhất mà con người có thể hình dung. Ông là hiện thân của nỗi bồn chồn của giống nòi mình, và cái lì lợm Giéc-manh cổ xưa, pha thêm sự nhanh nhạy nắm bắt và hành động của người Mỹ, giữ thân xác trong vòng nô lệ của tinh thần.
— Ai đồng ý đi tiếp bằng chó ngay khi băng đông cứng thì nói "đồng ý".
— Đồng ý! tám giọng vang lên, những giọng nói sẽ trải dài một chuỗi lời nguyền rủa dọc hàng trăm dặm đau đớn.
— Ai phản đối?
— Không!
Lần đầu tiên hai Kẻ Vô Dụng đồng lòng mà không phải nhân nhượng chút quyền lợi riêng nào.
— Thế các người định làm gì nào? Uê-đơ-bi hùng hổ nói thêm.
— Theo đa số! Theo đa số! những người còn lại nhao nhao.
— Tôi biết cuộc thám hiểm có thể đổ bể nếu các anh không đi, Xlô-pơ ngọt ngào đáp. Nhưng tôi đoán, nếu cố gắng thật nhiều, chúng tôi cũng xoay xở được mà không có các anh. Các bạn bảo sao?
Ý kiến ấy được hoan hô vang dội.
— Nhưng mà này, Cớt-phớt rụt rè liều hỏi, thế một người như tôi thì làm gì?
— Anh không đi với chúng tôi à?
— Không...
— Thế thì cứ làm gì tuỳ thích. Chúng tôi chẳng có gì để nói.
— Tôi tính cậu có thể thu xếp với cái ông bạn chí cốt của cậu ấy, một gã miền Tây chậm chạp từ Đa-cô-ta gợi ý, đồng thời chỉ Uê-đơ-bi. Thể nào hắn cũng hỏi cậu định làm gì khi tới việc nấu ăn với kiếm củi đấy.
— Thế thì coi như đã thu xếp xong, Xlô-pơ kết luận. Mai ta lên đường, dù chỉ cắm trại cách đây năm dặm, để cho mọi thứ vào nề nếp và nhớ xem có quên gì không.
Những chiếc xe trượt rên rỉ lướt qua trên càng bọc thép, và lũ chó rạp mình kéo căng trong bộ yên cương mà chúng sinh ra để chết trong đó.
Giắc Ba-tít dừng lại bên Xlô-pơ để nhìn căn nhà gỗ lần cuối. Khói cuộn lên thảm thương từ ống khói lò. Hai Kẻ Vô Dụng đang đứng ở cửa nhìn theo.
Xlô-pơ đặt tay lên vai người kia.
— Giắc Ba-tít, anh đã bao giờ nghe chuyện lũ mèo Kin-ken-ni chưa?
Gã lai lắc đầu.
— À, ông bạn và đồng đội tốt của tôi ạ, lũ mèo Kin-ken-ni đánh nhau cho tới khi chẳng còn da, chẳng còn lông, chẳng còn cả tiếng kêu. Anh hiểu không? Cho tới khi chẳng còn gì cả. Tốt lắm. Giờ thì hai gã kia không thích làm việc. Chúng sẽ ở một mình trong căn nhà ấy suốt mùa đông, một mùa đông dài lắm, tối lắm. Mèo Kin-ken-ni, thế nào?
Phần người Pháp trong Ba-tít nhún vai, nhưng phần người Anh-điêng trong anh ta thì im lặng. Dù sao, đó là một cái nhún vai hùng hồn, chất chứa lời tiên tri.
Lúc đầu, mọi việc trong căn nhà gỗ nhỏ đều suôn sẻ. Những lời trêu chọc thô ráp của các bạn đồng hành đã khiến Uê-đơ-bi và Cớt-phớt ý thức được trách nhiệm chung vừa rơi xuống vai mình. Vả lại, rốt cuộc thì với hai người đàn ông khoẻ mạnh, công việc cũng chẳng nhiều. Và việc thoát khỏi bàn tay cầm roi tàn nhẫn, hay nói cách khác là gã lai hống hách, đã mang tới một phản ứng hân hoan. Lúc đầu, người này cố làm hơn người kia, và họ làm những việc vặt với một sự hăng hái đủ làm các bạn đồng hành phải tròn mắt, những người lúc ấy đang mài mòn thể xác và linh hồn trên Con Đường Dài.
Mọi lo âu đều bị xua tan. Khu rừng chen vai vây quanh họ ba phía là một bãi củi vô tận. Cách cửa nhà vài bước, sông Nhím đang ngủ, và một cái lỗ khoét qua tấm áo mùa đông của nó thành một mạch nước sủi tăm, trong như pha lê và lạnh buốt tới nhức. Nhưng chẳng bao lâu họ đâm ra bới lông tìm vết ngay cả điều ấy. Cái lỗ cứ đóng băng mãi, và bắt họ phải mất nhiều giờ khổ sở đục băng. Những người dựng căn nhà vô danh đã kéo dài các súc gỗ hai bên ra để đỡ một cái kho phía sau. Trong kho chứa phần lớn lương thực của cả nhóm.
Thức ăn có vô kể, đủ cho gấp ba số người phải sống nhờ vào nó. Nhưng phần lớn là thứ làm nên gân cốt bắp thịt, chứ chẳng làm sướng cái lưỡi.
Đúng là có nhiều đường, đủ cho hai người bình thường. Nhưng hai người này chẳng khác gì trẻ con. Họ sớm khám phá ra những ưu điểm của nước nóng hoà đường cho thật ngọt, và họ phung phí ngâm bánh kếp, nhúng vỏ bánh mì vào thứ xi-rô trắng đậm đặc ấy.
Rồi cà phê và trà, nhất là hoa quả khô, cũng hao hụt nhanh tới mức tai hại. Những lời to tiếng đầu tiên giữa họ là chuyện đường. Mà khi hai người đàn ông, hoàn toàn chỉ có nhau làm bạn, bắt đầu cãi nhau, thì đó là chuyện thật sự nghiêm trọng.
Uê-đơ-bi thích ba hoa ầm ĩ về chính trị, còn Cớt-phớt, vốn quen cắt cuống phiếu lãi rồi mặc cho đất nước muốn trôi đi đâu thì trôi, hoặc phớt lờ chuyện ấy, hoặc tung ra những câu châm ngôn gây sửng sốt. Nhưng gã thư ký quá chậm hiểu để thưởng thức lối gọt giũa tư tưởng sắc sảo, và cái sự phí đạn ấy làm Cớt-phớt bực mình.
Anh ta đã quen làm người ta loá mắt vì sự thông minh rực rỡ của mình, nên việc mất khán giả này là một nỗi khổ thực sự. Anh ta thấy mình bị xúc phạm, và bất giác bắt gã bạn đầu óc u mê phải chịu trách nhiệm.
Ngoài việc cùng tồn tại, họ chẳng có điểm chung nào, không chạm nhau ở bất cứ điểm nào.
Uê-đơ-bi là một gã thư ký cả đời chẳng biết gì ngoài việc làm thư ký. Cớt-phớt là thạc sĩ văn chương, có vẽ tranh sơn dầu tài tử, và đã viết không ít. Một kẻ thuộc tầng lớp dưới tự coi mình là quý ông, còn kẻ kia là quý ông và tự biết mình là quý ông. Từ đó có thể nhận xét rằng một người có thể là quý ông mà không có lấy chút bản năng đầu tiên của tình bạn đường thật sự. Gã thư ký trần tục bao nhiêu thì người kia tao nhã bấy nhiêu. Những cuộc phiêu lưu tình ái của gã, kể lể dài dòng và chủ yếu là bịa ra, tác động lên ông thạc sĩ văn chương quá nhạy cảm như từng luồng hơi cống bốc lên. Anh ta coi gã thư ký là một con thú bẩn thỉu, vô học, đáng nằm trong bùn với lợn, và nói thẳng ra như vậy. Đáp lại, anh ta được cho biết mình là một thằng ẻo lả nhạt như nước lã và là một kẻ đểu. Uê-đơ-bi có chết cũng không định nghĩa nổi chữ "đểu" là gì, nhưng nó làm tròn mục đích của nó, mà rốt cuộc thì đó có vẻ mới là điểm chính trong đời.
Uê-đơ-bi hát cứ ba nốt lại phô một nốt, những bài như "Tên trộm thành Bô-xtơn" hay "Chú bé hầu phòng đẹp trai", hát hàng giờ liền, trong khi Cớt-phớt khóc vì tức giận, cho tới khi chịu không nổi nữa phải chạy trốn ra ngoài trời lạnh. Nhưng chẳng có lối thoát nào. Cái giá rét dữ dội không thể chịu đựng lâu, và căn nhà gỗ nhỏ dồn họ, cả giường, bếp, bàn và mọi thứ, vào một khoảng rộng chừng ba mét nhân bốn mét. Chính sự có mặt của người này đã thành một sự xúc phạm riêng với người kia, và họ chìm vào những khoảng im lặng hằn học, ngày càng dài hơn, nặng nề hơn theo thời gian. Thỉnh thoảng một cái liếc mắt hay một cái bĩu môi vẫn lọt ra ngoài kiểm soát, dù họ cố hoàn toàn phớt lờ nhau trong những quãng câm lặng ấy.
Và trong lòng mỗi người nảy ra một nỗi thắc mắc lớn: làm sao Chúa lại có thể tạo ra kẻ kia.
Chẳng có mấy việc để làm, thời gian trở thành gánh nặng không chịu nổi. Điều ấy tự nhiên khiến họ càng lười hơn. Họ chìm vào một sự uể oải thể xác không lối thoát, khiến họ chống lại cả việc làm một việc vặt nhỏ nhất. Một buổi sáng, đến lượt Uê-đơ-bi nấu bữa sáng chung, gã lăn ra khỏi chăn, và giữa tiếng ngáy của bạn, gã thắp ngọn đèn mỡ rồi nhóm lửa. Ấm nồi đông cứng, và trong nhà chẳng có nước để rửa mặt. Nhưng gã chẳng bận tâm. Trong lúc chờ băng tan, gã thái thịt muối và lao vào cái việc làm bánh mì đáng ghét. Cớt-phớt nãy giờ vẫn lén nhìn qua đôi mắt hé mở.
Thế là có một trận to tiếng, trong đó hai người hăng hái chúc tụng nhau bằng những lời chửi rủa, rồi thoả thuận rằng từ nay ai nấu nấy ăn. Một tuần sau, Cớt-phớt bỏ việc rửa ráy buổi sáng, nhưng vẫn ung dung ăn bữa mình nấu. Uê-đơ-bi nhe răng cười. Từ đó, cái thói quen rửa mặt ngớ ngẩn biến khỏi đời họ.
Khi đống đường và những thứ xa xỉ nho nhỏ khác cạn dần, họ bắt đầu sợ mình không được chia đủ phần, và để khỏi bị cướp, họ ra sức ăn cho căng bụng. Những thứ xa xỉ hao hụt trong cuộc thi ăn tham ấy, và hai người đàn ông cũng hao mòn theo.
Không có rau tươi, không vận động, máu họ trở nên nghèo nàn, và một thứ ban đỏ tía ghê tởm lan khắp người họ. Thế mà họ vẫn không chịu để ý tới lời cảnh báo ấy.
Tiếp đó, cơ bắp và các khớp xương bắt đầu sưng lên, da thịt chuyển màu đen, còn miệng, lợi và môi thì nhuốm màu kem sữa đặc. Thay vì được nỗi khốn khổ kéo lại gần nhau, mỗi người lại hả hê trước những triệu chứng của người kia trong lúc bệnh hoại huyết tiến triển.
Họ mất hết sự quan tâm tới vẻ ngoài, và cả sự đứng đắn tối thiểu. Căn nhà gỗ thành chuồng lợn, giường chẳng bao giờ được dọn, cũng chẳng bao giờ được lót cành thông mới. Thế nhưng họ không thể nằm lì trong chăn như họ muốn, vì giá rét không khoan nhượng, và bếp lò ngốn nhiều củi. Tóc trên đầu và râu trên mặt họ mọc dài, bù xù, còn quần áo thì đến dân nhặt giẻ rách cũng ghê tởm. Nhưng họ chẳng quan tâm. Họ ốm, chẳng có ai nhìn thấy, vả lại cử động đau đớn lắm.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn