Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Một người Noóc-măng-đi

của Guy de Maupassant

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 11.577 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Tặng Pôn A-léc-xi.
  2. 3:08Lời khẩn cầu ấy kết thúc như sau:
  3. 4:55Cái dụng cụ ấy không có thật, nhưng những…
  4. 5:40Những dịp ấy, vợ lão, bà Mê-li, một kỳ…
  5. 7:30"Tôi ấy à, thưa ông, tôi chẳng có phòng…
  6. 9:12Lão Ma-chi-ơ bèn nổi giận:
  7. 10:21Bà Mê-li bèn vọng ra lời giải thích:
  8. 11:16Rồi khi đã xong, lão nói thêm: "Bây giờ…

Tặng Pôn A-léc-xi.

Chúng tôi vừa ra khỏi Ru-ăng, và cho xe chạy nước kiệu lớn theo con đường đi Giuy-mi-ê-giơ. Chiếc xe nhẹ lướt qua những đồng cỏ. Rồi con ngựa chuyển sang đi bước một để leo dốc Căng-tơ-lơ.

Đó là một trong những chân trời tráng lệ nhất trên đời. Sau lưng chúng tôi là Ru-ăng, thành phố của những nhà thờ, những tháp chuông kiểu Gô-tích chạm trổ như những món đồ ngà nhỏ xinh. Trước mặt là Xanh Xê-ve, khu ngoại ô của những công xưởng, dựng nghìn ống khói bốc khói lên nền trời rộng, đối diện với nghìn ngọn tháp thánh thiêng của thành cổ.

Đây là ngọn tháp nhọn của nhà thờ lớn, đỉnh cao nhất trong mọi công trình của con người. Còn đằng kia là ống khói lò hơi của nhà máy Phu-đơ-rơ, đối thủ của nó, cũng cao gần ngang ngửa, và cao hơn kim tự tháp lớn nhất của Ai Cập tới một mét.

Trước mặt chúng tôi, sông Xen uốn lượn trải dài, lấm tấm những hòn đảo. Bên phải là những vách đá trắng trên đỉnh có rừng phủ, bên trái là những đồng cỏ mênh mông, giới hạn bởi một cánh rừng khác, xa tít, xa tít ngoài kia.

Rải rác đây đó, những con tàu lớn neo dọc bờ con sông rộng. Ba chiếc tàu hơi nước khổng lồ nối đuôi nhau xuôi về Ha-vrơ. Và một chuỗi tàu, gồm một chiếc ba cột buồm, hai chiếc thuyền buồm nhẹ và một chiếc hai cột buồm, đang ngược về Ru-ăng, được kéo bởi một chiếc tàu lai nhỏ phun ra một đám khói đen.

Ông bạn đồng hành của tôi, người sinh ra ở vùng này, chẳng buồn nhìn cảnh vật đáng kinh ngạc ấy. Nhưng anh cứ mỉm cười mãi, như đang cười thầm trong bụng. Bỗng anh phá lên: "À, rồi anh sẽ được xem một thứ buồn cười lắm: cái nhà nguyện của lão Ma-chi-ơ. Món ấy thì đúng là của ngon đấy, anh bạn ạ."

Tôi ngạc nhiên nhìn anh. Anh nói tiếp:

"Tôi sẽ cho anh ngửi một hương vị Noóc-măng-đi mà anh sẽ nhớ mãi trong mũi. Lão Ma-chi-ơ là người Noóc-măng-đi đặc sệt nhất cả tỉnh, và nhà nguyện của lão là một trong những kỳ quan của thế giới, không hơn không kém. Nhưng trước hết tôi phải giải thích cho anh mấy lời đã.

Lão Ma-chi-ơ, mà người ta còn gọi là lão Bợm Rượu, là một cựu thượng sĩ quay về làng quê. Lão kết hợp, theo một tỉ lệ tuyệt vời để thành một tổng thể hoàn hảo, cái tài nói phét của người lính già với cái ranh mãnh láu cá của dân Noóc-măng-đi. Về làng, nhờ được nhiều người nâng đỡ và nhờ những ngón khéo léo khó tin, lão trở thành người trông nom một nhà nguyện linh ứng, một nhà nguyện được Đức Mẹ che chở, mà khách tới thường là những cô gái lỡ dại mang bầu. Lão đặt tên cho bức tượng thần diệu của mình là Đức Bà Bụng To, và đối xử với Người bằng một kiểu thân mật giễu cợt, nhưng không phải không có lòng kính trọng. Lão còn tự soạn và cho in một bài kinh riêng dâng Đức Mẹ hiền của lão. Bài kinh ấy là một kiệt tác của sự mỉa mai vô tình, của đầu óc Noóc-măng-đi, nơi cái giễu cợt trộn lẫn với nỗi sợ thánh thần, nỗi sợ mê tín trước quyền lực bí ẩn của một cái gì đó. Lão chẳng tin vị thánh bảo trợ của mình lắm. Tuy vậy lão cũng tin một chút, cho chắc ăn, và lão chiều chuộng Người, cho khéo.

Đây là đoạn mở đầu của bài kinh kỳ lạ ấy:

Lạy Đức Bà Ma-ri-a nhân hậu của chúng con, Đấng bảo trợ tự nhiên của những người mẹ không chồng ở xứ này và khắp mặt đất, xin che chở cho kẻ tôi tớ của Bà đã lỡ lầm trong một phút quên mình.

Lời khẩn cầu ấy kết thúc như sau:

Xin Bà nhất là đừng quên con trước mặt Đức Thánh Phu Quân của Bà, và xin cầu bầu cùng Đức Chúa Cha, để Người ban cho con một người chồng tốt giống như chồng của Bà.

Bài kinh ấy bị các vị giáo sĩ trong vùng cấm, nhưng lão vẫn bán lén, và người ta đồn rằng nó rất linh nghiệm với những cô gái thành kính đọc nó.

Tóm lại, lão nói về Đức Mẹ hiền như gã hầu phòng của một ông hoàng đáng sợ nói về chủ mình, gã biết hết mọi bí mật nhỏ riêng tư. Lão biết về Người cả một đống chuyện vui, mà lão chỉ kể thì thầm, giữa bạn bè, sau khi đã uống.

Nhưng rồi anh sẽ tự mắt thấy.

Vì những khoản thu từ Đức Bà Bảo Trợ có vẻ chưa đủ với lão, lão mở thêm bên cạnh Đức Mẹ chính một cửa hàng nho nhỏ buôn các vị thánh. Lão có tất cả, hoặc gần như tất cả. Vì nhà nguyện không đủ chỗ, lão chất họ trong kho củi, và khi nào có con chiên tới hỏi thì lão lôi ra. Lão tự tay đẽo những bức tượng gỗ nhỏ ấy, trông buồn cười không thể tưởng, rồi sơn tất cả một màu xanh lá đậm, vào một năm người ta quét vôi lại nhà lão. Anh biết đấy, các thánh chữa được bệnh, nhưng mỗi vị một chuyên môn, và không được lẫn lộn hay nhầm lẫn. Các ngài ghen nhau như phường hát.

Để khỏi nhầm, các bà cụ tới hỏi ý kiến lão Ma-chi-ơ:

'Đau tai thì thánh nào giỏi nhất hả ông?'

'À, có thánh Ô-xim là giỏi. Thánh Păm-phin cũng không tồi.'

Chưa hết đâu.

Vì có thừa thời gian, lão Ma-chi-ơ uống rượu. Nhưng lão uống như một nghệ sĩ, như một người có đức tin, đến nỗi tối nào lão cũng ngà ngà đều đặn. Lão say, nhưng lão biết mình say. Lão biết rõ đến mức ngày nào lão cũng ghi chép độ say chính xác của mình. Đó là công việc chính của lão. Nhà nguyện chỉ đứng hàng thứ hai.

Và lão đã phát minh ra, anh nghe cho kỹ và bám cho chắc nhé, lão đã phát minh ra cái thước đo say.

Cái dụng cụ ấy không có thật, nhưng những quan sát của lão Ma-chi-ơ thì chính xác chẳng kém gì của một nhà toán học.

Anh sẽ nghe lão nói luôn miệng:

'Từ hôm thứ hai, tôi đã qua bốn mươi lăm phân.'

Hoặc là:

'Tôi ở khoảng năm mươi hai tới năm mươi tám.'

Hoặc là:

'Tôi phải được sáu mươi sáu tới bảy mươi.'

Hoặc là:

'Trời đất, tôi cứ tưởng mình mới quanh năm chục, thế mà hoá ra đã lên bảy mươi lăm!'

Chẳng bao giờ lão nhầm.

Lão quả quyết chưa bao giờ chạm tới một mét. Nhưng vì lão thừa nhận rằng hễ quá chín mươi phân là những quan sát của lão không còn chính xác nữa, nên người ta không thể tin hẳn lời lão được.

Khi lão Ma-chi-ơ thừa nhận đã quá chín mươi, thì anh cứ yên trí, lão đã say bí tỉ.

Những dịp ấy, vợ lão, bà Mê-li, một kỳ quan nữa, nổi cơn tam bành. Bà đứng ở cửa chờ lão về, rồi gào lên: 'Mày về đấy hả, đồ bẩn thỉu, đồ con lợn, đồ bợm rượu khốn nạn!'

Lúc ấy lão Ma-chi-ơ, hết cười, đứng sừng sững trước mặt bà, nói bằng giọng nghiêm khắc: 'Im đi, Mê-li, bây giờ không phải lúc nói chuyện. Để mai.'

Nếu bà cứ tiếp tục la hét, lão tiến lại gần, giọng run run: 'Đừng có gào nữa. Tôi đang ở mức chín mươi. Tôi hết đo được rồi. Tôi sắp đánh người đấy, liệu hồn!'

Thế là bà Mê-li rút lui.

Hôm sau, nếu bà muốn nhắc lại chuyện ấy, lão cười vào mũi bà mà đáp: 'Thôi nào, thôi nào! Nói thế đủ rồi. Qua rồi. Chừng nào tôi chưa chạm tới một mét thì chẳng sao cả. Nhưng nếu tôi quá một mét, tôi cho phép bà trị tội tôi, tôi xin hứa!'"

Chúng tôi đã lên tới đỉnh dốc. Con đường đi sâu vào cánh rừng Ru-ma tuyệt đẹp.

Mùa thu, mùa thu kỳ diệu, trộn sắc vàng và sắc đỏ tía của nó vào những mảng xanh cuối cùng còn tươi, như thể những giọt nắng tan chảy từ trên trời nhỏ xuống giữa lòng rừng rậm.

Xe đi qua Đuy-cle. Rồi, thay vì đi tiếp về Giuy-mi-ê-giơ, ông bạn tôi rẽ trái, theo một con đường tắt, đi sâu vào rừng cây thấp.

Chẳng mấy chốc, từ đỉnh một ngọn dốc lớn, chúng tôi lại nhìn thấy thung lũng sông Xen tráng lệ, và dòng sông quanh co trải dài dưới chân.

Bên phải, một toà nhà nhỏ xíu lợp đá đen, trên có một cái tháp chuông cao chừng cây dù che nắng, tựa lưng vào một ngôi nhà xinh xắn cửa chớp xanh, phủ kín kim ngân và hoa hồng.

Một giọng ồ ồ kêu lên: "Bạn bè tới đây rồi!" Và lão Ma-chi-ơ xuất hiện ở ngưỡng cửa. Đó là một người đàn ông sáu mươi tuổi, gầy, để chòm râu dê và bộ ria mép dài bạc trắng.

Ông bạn tôi bắt tay lão, giới thiệu tôi, và lão Ma-chi-ơ đưa chúng tôi vào một gian bếp mát mẻ, cũng là phòng khách của lão. Lão nói:

"Tôi ấy à, thưa ông, tôi chẳng có phòng ốc gì sang trọng. Tôi thích không ở xa nồi niêu. Xoong chảo ấy mà, ông thấy đấy, chúng cũng là bạn."

Rồi lão quay sang bạn tôi:

"Sao ông lại tới vào ngày thứ năm? Ông biết thừa thứ năm là ngày Đức Bà Bảo Trợ của tôi tiếp khách mà. Chiều nay tôi không đi đâu được."

Rồi lão chạy ra cửa, rống lên một tiếng khủng khiếp: "Mê-li-i-i!", chắc làm cho thuỷ thủ trên những con tàu đang xuôi hay ngược dòng sông, tận dưới đáy thung lũng sâu ngoài kia, cũng phải ngẩng đầu lên.

Bà Mê-li không trả lời.

Lão Ma-chi-ơ bèn nháy mắt ranh mãnh.

"Bà ấy đang giận tôi đấy, các ông thấy chưa, vì hôm qua tôi lên tới mức chín mươi."

Ông bạn tôi bật cười: "Lên tới chín mươi cơ à, ông Ma-chi-ơ! Ông làm thế nào thế?"

Lão Ma-chi-ơ đáp:

"Để tôi kể các ông nghe. Năm ngoái tôi chỉ kiếm được có hai mươi thúng táo mơ. Bây giờ chẳng còn giống táo ấy nữa, mà làm rượu táo thì chỉ có nó thôi. Thế là tôi làm được một thùng, hôm qua tôi mới khui. Rượu ấy mà, đúng là rượu tiên, rồi các ông nếm sẽ biết. Hôm qua có thằng Pô-lít ở đây. Hai chúng tôi làm một ngụm, rồi lại một ngụm nữa, uống mãi chẳng thấy no, có khi uống tới sáng mai cũng được. Thế rồi uống mãi uống mãi, tôi thấy bụng mình man mát. Tôi bảo Pô-lít: 'Hay làm một ly rượu mạnh cho ấm người!' Nó đồng ý. Nhưng cái rượu mạnh ấy làm cho người ta nóng như lửa đốt, thành ra lại phải quay về rượu táo. Thế là từ mát sang nóng, từ nóng sang mát, tôi nhận ra mình đã ở mức chín mươi. Còn thằng Pô-lít thì cũng chẳng còn cách một mét là bao."

Cửa mở. Bà Mê-li xuất hiện, và chưa kịp chào chúng tôi, bà đã nói ngay:

"Đồ con lợn, cả hai đứa mày đều đủ một mét rồi."

Lão Ma-chi-ơ bèn nổi giận:

"Đừng nói thế, Mê-li, đừng nói thế. Tôi chưa bao giờ tới một mét."

Người ta dọn cho chúng tôi một bữa trưa tuyệt ngon, trước cửa, dưới hai cây đoạn, bên cạnh nhà nguyện nhỏ của Đức Bà Bụng To, trước mặt là cả một vùng cảnh trí mênh mông. Và lão Ma-chi-ơ kể cho chúng tôi nghe, bằng một giọng giễu cợt trộn lẫn những niềm tin ngây ngô không ngờ tới, những chuyện phép lạ khó tin nổi.

Chúng tôi đã uống khá nhiều thứ rượu táo tuyệt diệu ấy, cay cay mà ngọt, mát lạnh mà làm say, thứ rượu lão thích hơn mọi thứ nước trên đời. Chúng tôi đang ngồi cưỡi ngược trên ghế hút tẩu thì có hai bà cụ tới.

Họ già, khô đét, còng lưng. Chào hỏi xong, họ xin rước thánh Blăng. Lão Ma-chi-ơ nháy mắt với chúng tôi rồi đáp:

"Tôi lấy cho các bà ngay."

Rồi lão biến vào trong kho củi.

Lão ở trong đó tới năm phút. Rồi lão quay ra, mặt thất sắc, hai tay giơ lên trời:

"Tôi chẳng biết ông ấy ở đâu nữa, tôi tìm không thấy. Thế mà tôi chắc chắn là có ông ấy cơ mà."

Rồi lão khum tay làm loa, lại rống lên: "Mê-li-i-i!" Từ cuối sân, vợ lão đáp:

"Cái gì?"

"Thánh Blăng đâu rồi? Tôi tìm trong kho củi không thấy."

Bà Mê-li bèn vọng ra lời giải thích:

"Có phải cái ông mà tuần trước ông lấy để bịt cái lỗ chuồng thỏ không?"

Lão Ma-chi-ơ giật mình:

"Trời đánh thánh vật ơi, có khi thế thật!"

Rồi lão bảo hai bà cụ: "Các bà đi theo tôi."

Họ đi theo. Chúng tôi cũng đi theo, cố nén cười tới phát ốm.

Quả thật, thánh Blăng bị cắm xuống đất như một cái cọc thường, lấm lem bùn và rác rưởi, đang làm góc cho chuồng thỏ.

Vừa trông thấy ngài, hai bà cụ quỳ sụp xuống, làm dấu thánh giá, rồi lầm rầm đọc kinh. Nhưng lão Ma-chi-ơ vội lao tới:

"Khoan đã, các bà quỳ vào bãi phân rồi kìa. Để tôi lấy cho các bà bó rơm."

Lão đi lấy rơm, lót cho họ làm ghế quỳ. Rồi nhìn vị thánh lấm bùn của mình, chắc sợ cửa hàng mất uy tín, lão nói thêm:

"Để tôi lau cho ông ấy một tí."

Lão xách một xô nước, cầm bàn chải, rồi ra sức kỳ cọ ông già bằng gỗ, trong khi hai bà cụ vẫn tiếp tục cầu nguyện.

Rồi khi đã xong, lão nói thêm: "Bây giờ thì chẳng sao nữa rồi." Và lão dẫn chúng tôi về uống một ngụm.

Đang đưa cốc lên miệng, lão dừng lại, và nói với vẻ hơi ngượng ngùng:

"Dù sao thì, lúc tôi đem thánh Blăng ra chỗ lũ thỏ, tôi tưởng ông ấy chẳng còn kiếm ra tiền được nữa. Hai năm nay chẳng ai hỏi tới ông ấy. Nhưng các thánh ấy mà, các ông thấy đấy, chẳng bao giờ lỗi thời."

Lão uống, rồi nói tiếp:

"Nào, uống thêm một ngụm nữa. Với bạn bè thì chẳng được phép dưới năm mươi phân. Mà chúng ta còn chưa tới ba mươi tám."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1882
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Un Normand, in trên báo Gil Blas năm 1882, tập Contes de la bécasse, Havard 1894
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →