Chương 1: Đứa con gái của ông Uỷ viên
Nếu có dịp ghé Tổng cục Địa chính, anh hãy bước vào phòng vẽ bản đồ và xin xem tấm bản đồ hạt Xa-la-đô. Một ông người Đức chậm rãi, có khi chính là ông già Cam-phơ, sẽ mang nó ra cho anh. Tấm bản đồ vuông vức, mỗi chiều hơn một mét, vẽ trên vải can dày. Chữ và số trên đó rõ ràng, sắc nét, đẹp vô cùng. Dòng tiêu đề viết bằng thứ chữ Đức hoa mỹ không sao đọc nổi, trang trí bằng những hình vẽ cổ điển kiểu Đức, rất có thể là một nữ thần mùa màng tựa vào chữ cái đầu, tay cầm chiếc sừng phép tuôn ra nho và xúc xích. Anh phải bảo ông ta rằng đây không phải tấm bản đồ anh muốn xem, và nhờ ông vui lòng mang ra tấm bản đồ chính thức có trước nó. Ông ta sẽ nói: "À, ra thế!", rồi mang ra một tấm bản đồ chỉ bằng nửa tấm kia, mờ mịt, cũ kỹ, rách nát và bạc màu.
Nếu nhìn kỹ gần góc tây bắc, anh sẽ thấy đường nét đã mòn của dòng sông Chi-ki-tô. Và nếu mắt anh tinh, có lẽ anh sẽ nhận ra nhân chứng lặng thầm của câu chuyện này.
Ông Uỷ viên phụ trách Tổng cục Địa chính là người theo lối cũ. Sự lịch thiệp cổ kính của ông quá trịnh trọng so với thời buổi ấy. Ông mặc đồ đen hảo hạng, vạt áo khoác dài gợi dáng áo choàng của người La Mã. Cổ áo ông may liền vào thân áo. Cà vạt ông là một dải hẹp đen như đồ tang, thắt cùng một kiểu nút với dây giày. Mái tóc bạc của ông để hơi dài phía sau gáy, nhưng lúc nào cũng chải mượt, gọn gàng. Mặt ông cạo nhẵn, như mặt các chính khách thời xưa. Phần lớn mọi người cho đó là một gương mặt nghiêm khắc. Nhưng khi gỡ bỏ vẻ công vụ, vài người đã được thấy một gương mặt hoàn toàn khác. Nó đặc biệt dịu dàng, hiền hậu trong mắt những người ở bên ông suốt trận ốm cuối cùng của đứa con duy nhất.
Ông Uỷ viên goá vợ đã nhiều năm. Ngoài công việc ở sở, cả cuộc đời ông dành trọn cho bé Gioóc-gi-a, tới mức người ta nhắc tới điều đó như một chuyện cảm động và đáng phục. Ông là người kín đáo, đường bệ tới mức gần như khắc khổ. Nhưng đứa trẻ đã len xuống bên dưới tất cả những thứ ấy, nằm yên ngay trên trái tim ông, khiến bé gần như chẳng thấy thiếu tình mẹ đã bị cướp mất. Hai bố con gắn bó với nhau lạ lùng, vì bé có nhiều nét giống ông, chín chắn và nghiêm trang hơn tuổi.
Một hôm, khi đang nằm với cơn sốt đỏ rực trên má, bé bỗng nói:
— Bố ơi, con ước gì con làm được một điều tốt cho thật nhiều trẻ con!
— Con muốn làm gì nào, con yêu? — Ông Uỷ viên hỏi. — Mở tiệc cho chúng à?
— Ôi, con không nói những bạn ấy. Con nói những bạn nghèo không có nhà, không được thương yêu chăm sóc như con. Con bảo bố này, bố ơi!
— Gì thế, con của bố?
— Nếu con không khỏi, con sẽ để bố lại cho các bạn ấy. Không phải cho hẳn đâu, chỉ cho mượn thôi, vì khi bố chết bố cũng phải về với mẹ và con chứ. Nếu bố có thời gian, bố sẽ làm gì đó giúp các bạn ấy nhé, nếu con xin bố, bố nhé?
— Suỵt, suỵt, con yêu, con yêu dấu của bố, — ông Uỷ viên nói, áp bàn tay nhỏ nóng hổi của con vào má mình. — Con sẽ khỏi ngay thôi, rồi bố con mình sẽ cùng xem có thể làm gì cho các bạn ấy.
Nhưng dù ông Uỷ viên có bước trên con đường bác ái nào, cái con đường mới phác ra mơ hồ như thế, thì ông cũng không còn có đứa con yêu dấu đi cùng. Đêm ấy, tấm thân nhỏ bé yếu ớt bỗng mệt lả, không còn sức chống chọi nữa. Gioóc-gi-a rời khỏi sân khấu lớn của cuộc đời khi bé chỉ vừa bắt đầu nói vài câu thoại nhỏ của mình trước ánh đèn. Nhưng hẳn phải có một người đạo diễn hiểu chuyện. Bé đã nhắc vở cho người sẽ nói tiếp sau bé.
Một tuần sau khi chôn cất con, ông Uỷ viên lại tới sở. Ông lịch thiệp hơn một chút, xanh xao và nghiêm khắc hơn một chút, chiếc áo khoác đen thõng xuống rộng hơn một chút trên thân hình cao lớn. Bàn ông chất đống công việc dồn lại suốt bốn tuần ông vắng mặt, bốn tuần tan nát cõi lòng. Viên chánh văn phòng đã làm hết sức mình, nhưng còn bao câu hỏi về luật, bao quyết định pháp lý tinh tế phải đưa ra, về việc cấp bằng khoán, bán và cho thuê đất của quỹ trường học, về việc phân loại những vùng đất mới sắp mở cho dân khai hoang thành đất chăn thả, đất canh tác, đất có nước và đất có rừng.
Ông Uỷ viên lặng lẽ, bướng bỉnh lao vào công việc, đẩy nỗi đau lùi xa hết mức có thể, ép đầu óc mình xông vào những công việc rắc rối và quan trọng của sở. Ngày thứ hai sau khi trở lại, ông gọi người gác cổng, chỉ vào chiếc ghế bọc da kê sát ghế mình, bảo mang nó lên nhà kho trên tầng thượng. Đó là chiếc ghế bé Gioóc-gi-a vẫn ngồi mỗi buổi chiều tới sở đón ông.
Thời gian trôi qua, ông Uỷ viên dường như ngày càng ít nói, cô độc và khép kín hơn. Trong ông nảy ra một tâm trạng mới. Ông không chịu nổi sự có mặt của trẻ con. Nhiều lần, khi đứa con ồn ào của một anh thư ký nào đó líu lo chạy vào phòng làm việc lớn cạnh văn phòng nhỏ của ông, ông Uỷ viên lại khẽ khàng đứng dậy đóng cửa. Ông luôn băng sang bên kia đường để khỏi gặp lũ học trò tung tăng từng nhóm vui vẻ trên vỉa hè, và đôi môi cương nghị của ông mím lại thành một đường chỉ.
Gần ba tháng sau khi những cơn mưa đã rửa trôi những cánh hoa tàn cuối cùng trên nấm mộ nhỏ của bé Gioóc-gi-a, thì công ty "cá mập đất" Ham-lin và Ê-vơ-ri nộp hồ sơ xin một mảnh đất mà họ cho là mảnh đất trống "béo bở" nhất năm.
Đừng nghĩ rằng tất cả những người bị gọi là "cá mập đất" đều đáng mang cái tên ấy. Nhiều người trong số họ là những nhà kinh doanh đứng đắn, có tiếng tốt. Vài người có thể bước vào những hội đồng tôn nghiêm nhất của bang mà nói: "Thưa các ngài, chúng tôi muốn có cái này, cái kia, và mọi việc nên diễn ra thế này." Nhưng sau ba năm hạn hán liên tiếp và nạn sâu đục quả bông, thứ mà Người Khai Hoang ghét nhất chính là cá mập đất. Cá mập đất lảng vảng ở Tổng cục Địa chính, nơi cất giữ mọi hồ sơ đất đai, để săn tìm "đất trống". Tức là những mảnh đất công chưa ai được cấp, thường không thấy trên bản đồ chính thức, nhưng thật ra có tồn tại "trên thực địa". Theo luật, ai có trong tay một loại giấy chứng nhận đất của bang thì được dùng nó để đăng ký bất cứ mảnh đất nào chưa được cấp hợp pháp trước đó. Phần lớn loại giấy ấy bây giờ nằm trong tay bọn cá mập đất. Thế là chỉ tốn vài trăm đô-la, họ thường chiếm được những mảnh đất đáng giá cả nghìn. Dĩ nhiên cuộc săn "đất trống" rất sôi nổi.
Nhưng thường thì, rất thường, mảnh đất họ chiếm được, tuy về luật là "chưa được cấp", lại đang có những người khai hoang sống hạnh phúc, yên ổn. Những người đã lao động nhiều năm để gây dựng nhà cửa, rồi một ngày phát hiện ra giấy tờ đất của mình chẳng có giá trị gì, và nhận lệnh phải dọn đi ngay. Từ đó sinh ra mối hận cay đắng, mà cũng chẳng phải vô lý, của những người khai hoang lam lũ đối với bọn đầu cơ khôn ngoan và hiếm khi biết thương người, những kẻ thường đuổi họ ra khỏi mảnh đất họ đổ công vô ích, trắng tay, không nhà không cửa. Lịch sử của bang đầy rẫy những cuộc đối đầu như thế. Ông Cá Mập Đất hiếm khi ló mặt tới những mảnh đất mà ông phải đuổi những nạn nhân bất hạnh của một hệ thống đất đai rối như canh hẹ, mà để tay sai làm việc ấy. Trong túp lều nào cũng có chì đã đúc thành đạn để dành cho ông. Nhiều anh em đồng nghiệp của ông đã đổ máu xuống bón cỏ.
Nguyên do của tất cả nằm từ xa xưa. Khi bang còn non trẻ, nó cần thu hút người mới tới, và cần thưởng cho những người tiên phong đã ở trong bờ cõi. Năm này qua năm khác, bang phát hành giấy chứng nhận đất: cấp cho người định cư, thưởng cho người nhập ngũ, tặng cựu chiến binh, cho cả lính phe miền Nam cũ, rồi cho các công ty đường sắt, công ty thuỷ lợi, các khu di dân và vô số người làm ruộng. Người được cấp chỉ cần nhờ người đo đạc của hạt hay của quận đo mảnh đất của mình trên đất công cho đúng phép, thế là mảnh đất ấy vĩnh viễn thuộc về họ, về con cháu họ và những người họ chuyển nhượng.
Thời ấy, và đây chính là chỗ rắc rối bắt đầu, đất công của bang gần như không bao giờ cạn, và những người đo đạc ngày xưa, với tấm lòng hào phóng như bậc vương giả, hay đúng hơn là hào phóng kiểu miền Tây nước Mỹ, đo rộng rãi, dư dả, tràn trề. Nhiều khi ông thợ đo vui tính bỏ hẳn giá ba chân với sợi xích đo. Cưỡi một con ngựa nhỏ mỗi bước dài chừng một va-ra, tức là chừng tám tấc, cầm cái la bàn bỏ túi để định hướng, ông cho ngựa chạy nước kiệu, đếm nhịp vó ngựa mà đo, đánh dấu các góc, rồi viết sổ đo đạc với vẻ mãn nguyện của người vừa làm tròn bổn phận.
Đôi khi, mà ai trách người đo đạc được, con ngựa đang lúc khoẻ khoắn hăng hái, nó bước cao hơn, xa hơn một chút. Thế là người được cấp đất có thể được thêm một hai nghìn mẫu so với giấy chứng nhận. Nhưng bang có bao nhiêu là đất mênh mông thừa thãi kia mà! Có điều, chưa ai từng phải phàn nàn là con ngựa bước ngắn quá. Gần như mọi cuộc đo đạc cũ trong bang đều dư đất.
Về sau, khi bang đông dân hơn và giá đất tăng lên, cái lối làm ăn cẩu thả ấy gây ra rắc rối không kể xiết, kiện tụng không dứt, một thời kỳ tranh cướp đất loạn xạ và không ít đổ máu. Bọn cá mập đất xông vào phần đất dư ấy trong những cuộc đo đạc cũ, dùng giấy chứng nhận mới đăng ký nó như đất công chưa được cấp. Hễ chỗ nào ranh giới của mảnh đất cũ mập mờ, các góc không xác định rõ ràng, thì Tổng cục Địa chính công nhận việc đăng ký mới là hợp lệ, và cấp bằng khoán cho người đăng ký. Đó là chỗ khổ nhất. Những mảnh đất đo đạc từ xưa, vốn được chọn từ những chỗ đất tốt nhất, giờ hầu như đều đã có những người khai hoang hiền lành, chẳng nghi ngờ gì sinh sống. Thế là giấy tờ của họ bị xoá bỏ, và họ chỉ còn hai đường, hoặc bỏ gấp đôi tiền ra mua lại đất của chính mình, hoặc dắt díu vợ con, mang theo đồ đạc, rời đi ngay lập tức. Dân đi tìm đất mọc lên cả trăm. Cả vùng bị chặn lại lục soát tìm "đất trống" bằng mũi kim la bàn. Hàng trăm nghìn đô-la đất đai màu mỡ bị giật khỏi tay những người mua và người giữ đất ngay tình. Bắt đầu một cuộc thiên di lớn của những người khai hoang bị đuổi đi trên những cỗ xe rách nát, chẳng biết đi đâu, nguyền rủa sự bất công, choáng váng, không mục đích, không nhà cửa, không hy vọng. Con cái họ bắt đầu ngước lên đòi bánh mì, và khóc.
Chính trong tình cảnh ấy mà Ham-lin và Ê-vơ-ri đã nộp hồ sơ đăng ký một dải đất rộng chừng một dặm, dài chừng ba dặm, tổng cộng khoảng hai nghìn mẫu. Đó là phần dư ra ngoài định mức của mảnh đất rộng lớn của Ê-li-át Đen-ni bên sông Chi-ki-tô, ở một hạt miền trung tây. Họ khẳng định hai nghìn mẫu đất ấy là đất trống, bị coi nhầm là một phần của mảnh đất Đen-ni. Họ dựa vào những sự thật đã được chứng minh: góc khởi đầu của mảnh đất Đen-ni được xác định rõ ràng. Sổ đo ghi rằng từ đó đi về phía tây năm nghìn bảy trăm sáu mươi va-ra thì tới sông Chi-ki-tô, rồi từ đó đi về phía nam theo những khúc quanh của dòng sông, vân vân. Thế mà trên thực địa, sông Chi-ki-tô nằm xa về phía tây hơn điểm đo theo hướng và khoảng cách ấy những một dặm. Tóm lại, giữa mảnh đất Đen-ni đúng nghĩa và sông Chi-ki-tô có hai nghìn mẫu đất trống.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn