Ngày xửa ngày xưa, có một bác nông dân nghèo có nhiều con mà chẳng có mấy để cho chúng ăn mặc. Đứa nào cũng xinh, nhưng xinh nhất là cô con gái út. Cô đẹp đến mức không sao tả hết.
Một lần kia, vào một tối thứ năm cuối thu, ngoài trời mưa gió dữ dội, tối như mực, mưa như trút và gió thổi mạnh đến nỗi tường nhà rung lên bần bật. Cả nhà đang quây quần bên bếp lửa, mỗi người làm một việc, thì bỗng có ai gõ ba tiếng vào ô kính cửa sổ. Người cha ra xem có chuyện gì. Ra tới ngoài, ông thấy một con gấu trắng to lớn đứng đó.
"Chào bác," con Gấu Trắng nói.
"Chào anh," người cha đáp.
"Bác có bằng lòng gả cô con gái út cho tôi không?" con Gấu Trắng hỏi. "Nếu bác bằng lòng, bác sẽ giàu có, giàu bao nhiêu thì bây giờ nghèo bấy nhiêu."
Thật ra bác nông dân chẳng ghét gì chuyện được giàu, nhưng bác nghĩ bụng: "Mình phải hỏi con gái đã." Bác đi vào nhà, kể rằng ngoài kia có một con gấu trắng to lớn, hứa chắc chắn sẽ làm cho cả nhà giàu có, chỉ cần được cô con gái út.
Cô gái bảo không, chẳng muốn nghe tới chuyện ấy. Người cha lại đi ra, hẹn với con Gấu Trắng tối thứ năm tuần sau hãy quay lại nghe câu trả lời. Rồi người cha khuyên nhủ con gái, nói mãi về của cải cả nhà sẽ có, về những điều tốt đẹp cho chính cô, đến nỗi cuối cùng cô đành ưng thuận. Cô giặt giũ, vá víu mấy bộ quần áo rách, sửa soạn cho thật tươm tất, rồi chờ ngày lên đường. Cô chẳng có gì nhiều để mang theo.
Tối thứ năm tuần sau, con Gấu Trắng tới đón cô. Cô ngồi lên lưng nó cùng bọc đồ của mình, và họ ra đi. Khi đã đi được một quãng xa, con Gấu Trắng hỏi:
"Cô có sợ không?"
"Không, em chẳng sợ đâu," cô đáp.
"Cứ níu chặt lấy lông tôi, thế là chẳng nguy hiểm gì," nó nói.
Cứ thế cô cưỡi gấu đi xa, xa mãi, cho tới một ngọn núi lớn. Con Gấu Trắng gõ vào vách núi, một cánh cửa mở ra, và họ bước vào một toà lâu đài. Trong lâu đài có rất nhiều phòng sáng rực, lấp lánh vàng bạc. Có cả một gian sảnh lớn với một bàn tiệc bày biện thịnh soạn, lộng lẫy đến mức khó mà kể cho ai hiểu được nó lộng lẫy thế nào.
Con Gấu Trắng đưa cho cô một cái chuông bạc, dặn rằng cần gì thì cô chỉ việc rung chuông, thứ cô muốn sẽ hiện ra ngay.
Ăn xong, trời sắp tối, sau chuyến đi dài cô thấy buồn ngủ, muốn đi nằm. Cô rung chuông, và vừa chạm tay vào chuông, cô đã thấy mình ở trong một căn phòng có chiếc giường dọn sẵn, đẹp như bất kỳ ai mong được ngủ. Gối bằng lụa, rèm bằng lụa viền tua vàng, mọi thứ trong phòng đều bằng vàng hoặc bạc.
Nhưng khi cô đã nằm xuống và tắt đèn, thì có một người đàn ông bước vào nằm xuống cạnh cô. Thì ra đó chính là con Gấu Trắng, ban đêm trút bỏ lốt thú. Thế nhưng cô chẳng bao giờ nhìn thấy chàng, vì chàng luôn tới sau khi cô đã tắt đèn, và đi trước khi trời sáng.
Mọi chuyện êm đẹp, vui vẻ được một thời gian. Rồi cô bắt đầu buồn rầu, ủ dột, vì suốt ngày cô phải lủi thủi một mình, và cô thèm được về nhà với cha mẹ, anh chị em lắm. Con Gấu Trắng hỏi cô muốn gì. Cô kể rằng ở trong núi buồn quá, cả ngày cô chỉ có một mình, còn ở nhà cha mẹ thì có đủ anh chị em, chính vì không được gặp họ mà cô buồn.
"Chuyện ấy có cách chữa," con Gấu Trắng nói, "nếu cô hứa với tôi là không bao giờ nói chuyện riêng với mẹ, chỉ nói khi có cả những người khác ở đó. Vì bà sẽ nắm tay cô," nó nói, "và muốn dắt cô vào một căn phòng để nói chuyện riêng. Nhưng cô tuyệt đối không được làm thế, không thì cô sẽ đem lại tai hoạ lớn cho cả hai ta."
Thế rồi một ngày chủ nhật, con Gấu Trắng tới bảo rằng giờ họ có thể lên đường về thăm cha mẹ cô. Họ đi, cô ngồi trên lưng gấu. Họ đi xa, xa lắm, mất nhiều, nhiều thời gian. Cuối cùng họ tới một trang trại lớn màu trắng. Anh chị em của cô đang chạy chơi ngoài sân. Cảnh trông đẹp đến mức nhìn thôi đã thấy vui.
"Giờ cha mẹ cô sống ở đây," con Gấu Trắng nói. "Nhưng đừng quên lời tôi dặn, không thì cô sẽ gây hại lớn cho cả cô lẫn tôi."
"Không đâu," cô nói, "em không bao giờ quên đâu."
Cô vừa vào tới nhà, con Gấu Trắng đã quay đầu trở về.
Cô vào gặp cha mẹ, cả nhà mừng rỡ tưởng như không bao giờ dứt. Ai cũng nghĩ có biết ơn cô bao nhiêu cũng không đủ, vì những gì cô đã làm cho cả nhà. Giờ họ có mọi thứ họ cần, mọi thứ đều tốt đẹp hết mức. Ai cũng hỏi cô sống ở chỗ ấy thế nào. Cô bảo cô cũng sống tốt, có mọi thứ cô muốn. Cô còn trả lời những gì khác thì chẳng ai biết, nhưng chắc chắn là họ chẳng biết thêm được bao nhiêu từ cô.
Nhưng buổi chiều, sau bữa trưa, mọi chuyện xảy ra đúng như con Gấu Trắng đã nói. Mẹ cô muốn nói chuyện riêng với cô trong phòng. Nhưng cô nhớ lời con Gấu Trắng dặn, nhất quyết không đi.
"Chuyện gì cần nói thì lúc nào cũng nói được mà mẹ," cô đáp.
Nhưng không biết bằng cách nào, rốt cuộc mẹ cô cũng thuyết phục được cô, và cô đành kể hết đầu đuôi. Cô kể rằng đêm nào cũng có một người đàn ông tới nằm cạnh cô khi đèn đã tắt hết, rằng cô chẳng bao giờ thấy mặt chàng, vì chàng luôn đi trước khi trời sáng, rằng cô lúc nào cũng buồn, nghĩ mình sẽ sung sướng biết bao nếu được nhìn thấy chàng, rằng suốt ngày cô phải lủi thủi một mình, buồn tẻ cô đơn lắm.
"Ôi!" người mẹ kinh hãi kêu lên. "Rất có thể con đang ngủ cùng một con quỷ khổng lồ đấy! Nhưng mẹ sẽ chỉ cho con cách nhìn thấy nó. Mẹ cho con một mẩu nến, con giấu vào ngực áo mà mang về. Khi nó ngủ, con thắp nến lên mà nhìn. Nhưng nhớ cẩn thận, đừng để giọt sáp nào rơi lên người nó."
Cô nhận mẩu nến, giấu vào ngực áo. Chiều tối, con Gấu Trắng tới đón cô về. Đi được một quãng, con Gấu Trắng hỏi có phải mọi chuyện đã xảy ra đúng như nó báo trước không. Cô không thể không nhận là đúng.
"Nếu cô đã làm theo ý mẹ cô," nó nói, "thì cô đã đem tai hoạ lớn tới cho cả hai ta rồi."
"Không," cô nói, "em chẳng làm gì cả."
Về tới nhà, cô đi nằm, mọi việc vẫn như trước. Một người đàn ông tới nằm xuống cạnh cô. Đêm khuya, khi nghe chàng đã ngủ, cô dậy nhóm lửa, thắp nến, soi ánh sáng lên người chàng, và nhìn thấy chàng. Đó là một chàng hoàng tử đẹp nhất mà mắt người từng thấy. Cô yêu chàng đến mức tưởng như mình sẽ chết nếu không được hôn chàng ngay lúc ấy.
Cô hôn chàng. Nhưng trong lúc hôn, cô để rơi ba giọt sáp nóng lên áo chàng, và chàng thức giấc.
"Nàng làm gì thế này?" chàng nói. "Nàng đã đem tai hoạ tới cho cả hai ta rồi. Giá nàng chịu đựng thêm được một năm thôi, ta đã được tự do. Ta có một bà mẹ kế, bà ta yểm bùa ta, nên ban ngày ta là gấu trắng, ban đêm mới là người. Nhưng giờ giữa nàng và ta thế là hết. Ta phải rời xa nàng, tới chỗ bà ta. Bà ta sống trong một toà lâu đài nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng. Ở đó còn có một nàng công chúa mũi dài ba thước, và giờ chính nàng ta là người ta phải cưới."
Cô khóc lóc than vãn, nhưng vô ích, chàng vẫn phải đi. Cô hỏi chàng cô có được đi cùng không. Không, không thể được.
"Vậy chàng có thể chỉ đường cho em không, để em đi tìm chàng? Điều ấy hẳn là em được phép làm chứ!"
"Được, nàng có thể làm thế," chàng nói. "Nhưng chẳng có đường nào tới đó cả. Nó nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng, nàng sẽ không bao giờ tìm được đường tới đâu."
Sáng hôm sau cô thức dậy, thì cả hoàng tử lẫn toà lâu đài đều biến mất. Cô đang nằm trên một bãi cỏ xanh nhỏ giữa một khu rừng tối um rậm rạp. Bên cạnh cô là đúng cái bọc quần áo rách cô mang theo từ nhà.
Dụi mắt cho tỉnh ngủ, khóc cho tới khi mệt lả, cô lên đường. Cô đi bộ rất nhiều, rất nhiều ngày dài, cho tới khi gặp một ngọn núi lớn. Bên ngoài núi có một bà lão ngồi chơi với một quả táo vàng. Cô hỏi bà có biết đường tới chỗ chàng hoàng tử sống với mẹ kế trong toà lâu đài nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng, người sắp phải cưới một nàng công chúa mũi dài ba thước không.
"Sao cô lại biết chàng ấy?" bà lão hỏi. "Có khi cô chính là người lẽ ra được lấy chàng."
"Vâng, chính là cháu," cô đáp.
"Thì ra là cô đấy à?" bà lão nói. "Già chẳng biết gì về chàng, ngoài chuyện chàng sống trong một toà lâu đài nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng. Cô sẽ phải đi rất lâu mới tới, nếu như cô có bao giờ tới được. Nhưng già cho cô mượn con ngựa của già. Cô cưỡi nó tới chỗ một bà lão hàng xóm của già, có khi bà ấy biết chuyện chàng. Tới nơi rồi, cô chỉ cần vỗ vào dưới tai trái con ngựa, bảo nó đi về nhà. Còn quả táo vàng thì cô cứ cầm theo."
Cô ngồi lên ngựa, đi rất lâu, rất lâu, và cuối cùng tới một ngọn núi có một bà lão ngồi bên ngoài, tay cầm một cái lược chải len bằng vàng. Cô hỏi bà có biết đường tới toà lâu đài nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng không. Nhưng bà nói y như bà lão thứ nhất:
"Già chẳng biết gì, ngoài chuyện nó nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng, và cô sẽ phải đi rất lâu mới tới, nếu như cô có bao giờ tới được. Nhưng già cho cô mượn ngựa tới chỗ một bà lão sống gần già nhất, có khi bà ấy biết toà lâu đài ở đâu. Tới nơi rồi, cô chỉ cần vỗ vào dưới tai trái con ngựa, bảo nó đi về nhà."
Rồi bà đưa cho cô cái lược chải len bằng vàng, bảo rằng biết đâu cô sẽ cần tới nó.
Cô ngồi lên ngựa, lại đi một chặng dài mệt mỏi nữa. Rất lâu sau, cô tới một ngọn núi lớn, có một bà lão ngồi kéo sợi bên một chiếc xa quay sợi bằng vàng. Cô cũng hỏi bà có biết đường tới chỗ chàng hoàng tử, tới toà lâu đài nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng không. Nhưng lại vẫn chuyện cũ.
"Có khi cô chính là người lẽ ra được lấy chàng hoàng tử," bà lão nói.
"Vâng, lẽ ra cháu là người ấy," cô gái nói.
Nhưng bà lão này cũng chẳng biết đường rõ hơn hai bà kia. Nó nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng, bà biết thế thôi.
"Cô sẽ phải đi rất lâu mới tới, nếu như cô có bao giờ tới được," bà nói. "Nhưng già cho cô mượn ngựa. Già nghĩ tốt nhất là cô cưỡi ngựa tới chỗ Gió Đông mà hỏi. Có khi ông ấy biết toà lâu đài ở đâu, rồi thổi cô tới đó. Tới nơi rồi, cô chỉ cần vỗ vào dưới tai trái con ngựa, nó sẽ tự về nhà."
Rồi bà đưa cho cô chiếc xa quay sợi bằng vàng, bảo:
"Biết đâu cô sẽ cần dùng tới nó."
Cô phải cưỡi ngựa rất nhiều ngày, một chặng đường dài mệt mỏi, mới tới nơi. Nhưng cuối cùng cô cũng tới, và hỏi Gió Đông có thể chỉ đường cho cô tới chỗ chàng hoàng tử sống ở phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng không.
"Chà," Gió Đông nói, "ta có nghe nói về chàng hoàng tử và toà lâu đài của chàng, nhưng ta không biết đường tới đó, vì ta chưa bao giờ thổi xa đến thế. Nhưng nếu cô muốn, ta sẽ đưa cô tới chỗ em ta là Gió Tây. Có khi nó biết, vì nó mạnh hơn ta nhiều. Cô ngồi lên lưng ta, ta sẽ chở cô tới đó."
Cô ngồi lên lưng Gió Đông, và họ bay đi nhanh vun vút! Tới nơi, Gió Đông đi vào, nói rằng cô gái mà mình đưa tới chính là người lẽ ra được lấy chàng hoàng tử ở toà lâu đài nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng, rằng giờ cô đang đi khắp nơi tìm lại chàng, nên Gió Đông đưa cô tới đây, muốn hỏi xem Gió Tây có biết toà lâu đài ở đâu không.
"Không," Gió Tây nói. "Xa đến thế thì ta chưa bao giờ thổi tới. Nhưng nếu cô muốn, ta sẽ đưa cô tới chỗ Gió Nam, vì anh ấy mạnh hơn cả hai chúng ta, lại đã ngao du khắp chốn, có khi anh ấy nói được cho cô điều cô muốn biết. Cô ngồi lên lưng ta, ta sẽ chở cô tới chỗ anh ấy."
Cô làm theo, và tới chỗ Gió Nam, đi cũng không lâu lắm. Tới nơi, Gió Tây hỏi Gió Nam có thể chỉ đường cho cô tới toà lâu đài nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng không, vì cô chính là người lẽ ra được lấy chàng hoàng tử sống ở đó.
"Ồ, thật thế à!" Gió Nam nói. "Cô ấy đây sao? Chà," anh ta nói, "thời trẻ ta đã lang thang nhiều nơi, đủ mọi chốn, nhưng ta chưa bao giờ thổi xa đến thế. Nhưng nếu cô muốn, ta sẽ đưa cô tới chỗ anh cả ta là Gió Bấc. Anh ấy già nhất và mạnh nhất trong bọn ta. Nếu anh ấy không biết nó ở đâu, thì trên đời này chẳng còn ai nói được cho cô nữa. Cô ngồi lên lưng ta, ta sẽ chở cô tới đó."
Cô ngồi lên lưng Gió Nam, và anh ta vội vã rời nhà mà đi, chẳng mấy chốc đã tới nơi. Khi tới gần chỗ ở của Gió Bấc, họ thấy ông ta đang giận dữ cuồng nộ đến mức còn cách rất xa họ đã cảm thấy những luồng gió lạnh buốt.
"Các ngươi muốn gì?" ông ta gầm lên từ xa, và nghe tiếng ông, họ lạnh cóng cả người.
"Em đây," Gió Nam nói, "còn đây là cô gái lẽ ra được lấy chàng hoàng tử sống ở toà lâu đài nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng. Giờ cô ấy muốn hỏi anh đã từng tới đó chưa, có thể chỉ đường cho cô ấy không, vì cô ấy rất mong tìm lại được chàng."
"Có," Gió Bấc nói, "ta biết nó ở đâu. Có lần ta thổi một chiếc lá dương bay tới đó, nhưng mệt quá, đến nỗi mấy ngày liền sau đó ta không thổi nổi. Nhưng nếu cô thật lòng muốn tới đó, và không sợ đi cùng ta, ta sẽ cõng cô trên lưng, thử xem có thổi cô tới đó được không."
"Cháu phải tới được đó," cô nói. "Có cách nào để đi thì cháu sẽ đi. Ông có đi nhanh đến đâu cháu cũng chẳng sợ."
"Thế thì được," Gió Bấc nói. "Nhưng đêm nay cô phải ngủ lại đây, vì nếu muốn tới được đó thì ta phải có trọn một ngày phía trước."
Sáng sớm hôm sau, Gió Bấc đánh thức cô dậy. Ông ta phồng mình lên, làm cho mình to lớn và mạnh mẽ đến mức nhìn thấy mà khiếp sợ. Rồi họ bay vút lên cao, xuyên qua bầu trời, như thể không dừng lại chừng nào chưa tới tận cùng thế giới.
Bên dưới nổi lên một trận bão dữ dội! Nó quật đổ cả rừng cây lẫn nhà cửa. Khi họ bay trên biển, tàu thuyền đắm hàng trăm chiếc. Cứ thế họ lao đi, lao mãi. Thời gian trôi qua lâu lắm, rồi lâu thêm nữa, mà họ vẫn còn ở trên biển. Gió Bấc mỗi lúc một mệt, rồi mệt hơn nữa, cuối cùng kiệt sức đến mức gần như không thổi nổi. Ông ta chìm dần, chìm dần, thấp dần, thấp dần, cho tới khi sóng biển táp vào gót chân cô gái tội nghiệp ông đang cõng.
"Cô có sợ không?" Gió Bấc hỏi.
"Cháu không sợ," cô đáp. Và đó là sự thật.
Nhưng lúc ấy họ đã không còn xa đất liền lắm, và Gió Bấc còn vừa đủ sức để ném cô lên bờ, ngay dưới cửa sổ toà lâu đài nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng. Nhưng ông ta đã mệt mỏi, kiệt sức đến mức phải nghỉ mấy ngày mới về nhà nổi.
Sáng hôm sau, cô ngồi dưới chân tường lâu đài, chơi với quả táo vàng. Người đầu tiên cô thấy là nàng công chúa mũi dài sắp được lấy hoàng tử.
"Quả táo vàng của mày bán bao nhiêu hả cô kia?" nàng ta mở cửa sổ ra hỏi.
"Nó không bán, dù đổi bằng vàng hay bằng tiền," cô gái đáp.
"Nếu không bán bằng vàng hay bằng tiền, thì đổi bằng gì? Mày muốn gì cứ nói," công chúa nói.
"Nếu tôi được tới chỗ chàng hoàng tử ở đây, được ở bên chàng đêm nay, thì công chúa sẽ có nó," cô gái đi cùng Gió Bấc nói.
"Được thôi," công chúa nói, vì nàng ta đã tính sẵn mình sẽ làm gì.
Công chúa lấy được quả táo vàng. Nhưng đêm ấy, khi cô gái lên phòng hoàng tử, thì chàng đang ngủ, vì công chúa đã sắp đặt cho chàng ngủ. Cô gái tội nghiệp gọi chàng, lay chàng, vừa gọi vừa khóc, nhưng không sao đánh thức được chàng. Sáng ra, trời vừa rạng, nàng công chúa mũi dài đi vào, đuổi cô ra.
Ban ngày, cô lại ngồi dưới cửa sổ lâu đài, bắt đầu chải len bằng cái lược vàng. Rồi mọi chuyện lại xảy ra y như lần trước. Công chúa hỏi cô muốn đổi nó lấy gì. Cô đáp rằng nó không bán, dù đổi bằng vàng hay bằng tiền, nhưng nếu cô được phép tới chỗ hoàng tử, được ở bên chàng suốt đêm, thì công chúa sẽ có nó. Nhưng khi cô lên phòng hoàng tử, chàng lại đang ngủ. Cô gọi, cô lay, cô khóc bao nhiêu, chàng vẫn ngủ say, cô không sao làm cho chàng tỉnh lại được. Sáng ra, trời vừa rạng, nàng công chúa mũi dài lại tới, lại đuổi cô đi.
Khi trời đã sáng hẳn, cô gái ngồi dưới cửa sổ lâu đài, kéo sợi bằng chiếc xa quay sợi vàng. Nàng công chúa mũi dài lại muốn có cả nó nữa. Nàng ta mở cửa sổ, hỏi cô muốn đổi nó lấy gì. Cô gái lại nói như hai lần trước, rằng nó không bán, dù đổi bằng vàng hay bằng tiền, nhưng nếu cô được phép tới chỗ chàng hoàng tử sống ở đây, được ở bên chàng suốt đêm, thì công chúa sẽ có nó.
"Được," công chúa nói, "ta vui lòng ưng thuận."
Nhưng ở chốn ấy có mấy người trần bị bắt cóc tới, giam ở căn phòng sát bên phòng hoàng tử. Họ đã nghe thấy hai đêm liền có một người con gái vào phòng chàng, khóc lóc gọi chàng. Họ kể lại chuyện ấy cho hoàng tử nghe.
Tối hôm ấy, khi công chúa lại mang tới bát thuốc ngủ, hoàng tử giả vờ uống, nhưng hắt nó ra sau lưng, vì chàng đã đoán đó là thuốc ngủ. Thế nên lần này, khi cô gái vào phòng, hoàng tử còn thức, và cô kể cho chàng nghe cô đã tới đây bằng cách nào.
"Nàng tới vừa đúng lúc," hoàng tử nói, "vì ngày mai ta phải làm lễ cưới. Nhưng ta không muốn lấy nàng công chúa mũi dài, và chỉ có nàng mới cứu được ta. Ta sẽ bảo ta muốn xem cô dâu của ta khéo tay đến đâu, bắt nàng ta giặt chiếc áo có ba giọt sáp. Nàng ta sẽ nhận lời, vì nàng ta không biết chính nàng đã làm rơi sáp lên áo. Nhưng không ai giặt sạch được mấy vết ấy, ngoài một người trần sinh ra trong gia đình lương thiện, còn lũ quỷ khổng lồ thì chịu. Rồi ta sẽ tuyên bố rằng ta chỉ cưới người con gái giặt sạch được nó, và ta biết nàng làm được."
Đêm ấy, hai người vui mừng hạnh phúc vô cùng. Hôm sau, đến lúc làm lễ cưới, hoàng tử nói:
"Ta phải xem cô dâu của ta khéo tay đến đâu."
"Được thôi," bà mẹ kế nói.
"Ta có một chiếc áo đẹp, muốn mặc làm áo cưới, nhưng có ba giọt sáp dính lên đó, ta muốn giặt cho sạch. Ta đã thề chỉ cưới người con gái nào giặt sạch được nó. Nếu nàng không làm được, nàng không đáng để ta cưới."
Chà, việc ấy thì nhỏ nhặt quá, họ nghĩ, và bằng lòng làm. Nàng công chúa mũi dài bắt đầu giặt, giặt hết sức mình, nhưng càng giặt càng vò, vết bẩn càng loang to ra.
"Chà! Mày chẳng biết giặt gì cả," mụ quỷ già, mẹ của nàng ta, nói. "Đưa đây cho ta."
Nhưng mụ cầm chiếc áo chưa được bao lâu, thì nó còn tệ hơn trước nữa. Mụ càng giặt càng vò, vết bẩn càng to ra, càng đen lại.
Thế là cả lũ quỷ khổng lồ khác phải xúm vào giặt. Nhưng chúng càng giặt, chiếc áo càng đen, càng xấu xí, cho tới khi đen như vừa chui từ ống khói ra.
"Ôi," hoàng tử kêu lên, "các ngươi chẳng ai được tích sự gì cả! Ngoài cửa sổ kia có một cô gái ăn xin đang ngồi, ta dám chắc cô ta giặt còn giỏi hơn tất cả các ngươi! Vào đây, cô gái kia!" chàng gọi.
Cô gái đi vào.
"Cô có giặt sạch được chiếc áo này không?" chàng hỏi.
"Ôi, cháu không biết," cô nói, "nhưng cháu sẽ thử."
Cô vừa cầm lấy chiếc áo nhúng xuống nước, thì nó đã trắng như tuyết mới rơi, còn trắng hơn thế nữa.
"Ta sẽ cưới nàng," hoàng tử nói.
Mụ quỷ già tức giận đến mức nổ tung. Nàng công chúa mũi dài và cả lũ quỷ nhỏ hẳn cũng nổ tung nốt, vì từ đó chẳng ai còn nghe nói gì về chúng nữa. Hoàng tử và cô dâu thả tự do cho tất cả những người trần bị giam ở đó, mang theo bao nhiêu vàng bạc mang được, rồi dọn đi thật xa khỏi toà lâu đài nằm phía đông mặt trời, phía tây mặt trăng.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích