Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Anh làm vườn không có thật

Pu-toa · Chương 1/2 · của Anatole France

⏱ 21 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 17.761 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Khu vườn tuổi thơ của chúng ta, ông Béc-giơ-rê…
  2. 1:05Chỉ có đôi bàn tay lúc nào cũng cử…
  3. 2:43Con chẳng hiểu gì cả, Pô-lin nói.
  4. 4:13Không, con ạ, chưa hết. Pu-toa có một điểm…
  5. 7:38Nghe vậy, bà Coóc-nui-dê nhìn qua cửa kính phòng…
  6. 10:06Thế một sự tồn tại tưởng tượng là chẳng…
  7. 13:23Hắn độc ác, ông Béc-giơ-rê đáp, theo một cách…
  8. 19:19Thế rồi mấy hôm sau, bà Coóc-nui-dê bị mất…

Chương 1: Anh làm vườn không có thật

— Khu vườn tuổi thơ của chúng ta, ông Béc-giơ-rê nói, khu vườn đi hai mươi bước là hết, với chúng ta từng là cả một thế giới mênh mông, đầy những nụ cười và những nỗi kinh hoàng.

— Lu-xi-ăng, anh có nhớ Pu-toa không? bà Dô-ê hỏi, mỉm cười theo thói quen, môi mím lại, mũi chúi vào đường kim mũi chỉ.

— Nhớ Pu-toa ấy à! Trong tất cả những gương mặt đi qua trước mắt tôi hồi còn nhỏ, gương mặt Pu-toa là rõ nét nhất trong ký ức. Mọi đường nét trên mặt hắn, mọi nét tính tình của hắn tôi còn nhớ như in. Hắn có cái sọ nhọn...

— Trán thấp, cô Dô-ê nói thêm.

Rồi hai anh em lần lượt đọc, giọng đều đều, nghiêm trang một cách kỳ quặc, từng điều trong một thứ bản nhận dạng:

— Trán thấp.

— Hai mắt khác màu.

— Ánh mắt lấm lét.

— Một chùm nếp nhăn chân chim ở thái dương.

— Gò má nhô nhọn, đỏ và bóng nhẫy.

— Tai không có vành.

— Nét mặt chẳng có chút biểu cảm nào.

— Chỉ có đôi bàn tay lúc nào cũng cử động là để lộ ý nghĩ của hắn.

— Gầy, hơi gù, trông có vẻ yếu ớt...

— Nhưng thật ra khoẻ phi thường.

— Hắn bẻ cong dễ dàng một đồng năm quan giữa ngón trỏ và ngón cái...

— Cái ngón cái to tướng.

— Giọng hắn kéo lê thê...

— Và lời lẽ ngọt xớt.

Bỗng ông Béc-giơ-rê kêu lên:

— Dô-ê! Chúng ta quên mất câu tóc vàng hoe và râu lơ thơ. Làm lại từ đầu.

Pô-lin ngạc nhiên nghe màn đọc kỳ lạ ấy, hỏi cha và cô sao lại thuộc lòng được đoạn văn ấy, và sao lại đọc nó như đọc kinh cầu.

Ông Béc-giơ-rê nghiêm trang đáp:

— Pô-lin, cái con vừa nghe là một văn bản thiêng liêng, có thể nói là một bài kinh dùng riêng trong gia đình Béc-giơ-rê. Nên truyền nó lại cho con, để nó không mất đi theo cô con và bố. Ông nội con, con gái ạ, ông nội Ê-loa Béc-giơ-rê, người chẳng ai mua vui được bằng chuyện vớ vẩn, rất quý đoạn văn này, chủ yếu vì nguồn gốc của nó. Ông đặt tên cho nó là Giải phẫu Pu-toa. Ông thường nói về vài mặt ông thích bản giải phẫu Pu-toa hơn bản giải phẫu lão Mùa Chay trong sách của Ra-bơ-le. Ông bảo: bản tả của nhân vật Xê-nô-ma-nét trong Ra-bơ-le uyên bác hơn, giàu những chữ hiếm và quý hơn, nhưng bản tả Pu-toa thì hơn hẳn về sự sáng sủa của ý và sự trong trẻo của lời. Ông nhận xét như vậy vì hồi ấy bác sĩ Lơ-đu-blơ ở thành Tua chưa giải nghĩa ba chương ba mươi, ba mươi mốt và ba mươi hai trong cuốn thứ tư của Ra-bơ-le.

— Con chẳng hiểu gì cả, Pô-lin nói.

— Ấy là vì con không biết Pu-toa, con ạ. Con phải biết rằng Pu-toa là gương mặt quen thuộc nhất trong tuổi thơ của bố và cô Dô-ê. Trong nhà ông nội Béc-giơ-rê, người ta nói về Pu-toa suốt. Ai cũng có lúc tưởng mình trông thấy hắn.

Pô-lin hỏi:

— Pu-toa là gì cơ?

Thay vì trả lời, ông Béc-giơ-rê phá lên cười, và cô Béc-giơ-rê cũng cười, môi mím lại.

Pô-lin nhìn người này rồi nhìn người kia. Cô thấy lạ khi cô mình cười hồn nhiên đến thế, và càng lạ hơn khi cô cười cùng một nhịp, cùng một ý với anh trai. Lạ thật, vì hai anh em vốn chẳng cùng một kiểu suy nghĩ.

— Bố ơi, bố nói cho con biết Pu-toa là gì đi. Bố đã muốn con biết thì bố nói đi.

— Pu-toa ấy à, con gái, là một anh làm vườn. Con nhà nông dân tử tế xứ Ác-toa, hắn mở vườn ươm cây ở Xanh Ô-me. Nhưng hắn làm khách không vừa lòng, buôn bán thua lỗ. Bỏ nghề rồi, hắn đi làm thuê theo ngày. Những người thuê hắn không phải lúc nào cũng có điều để khen hắn.

Nghe vậy, cô Béc-giơ-rê vẫn còn cười:

— Anh nhớ không, Lu-xi-ăng, mỗi khi bố không tìm thấy trên bàn giấy lọ mực, ngòi bút, sáp gắn thư, cái kéo, bố lại nói: tôi ngờ thằng Pu-toa đã đi qua đây.

— À! ông Béc-giơ-rê nói, Pu-toa chẳng có tiếng tốt gì.

— Hết rồi à? Pô-lin hỏi.

— Không, con ạ, chưa hết. Pu-toa có một điểm đáng chú ý là chúng ta đều biết hắn, quen thuộc với hắn, thế mà...

— ...hắn lại không có thật, Dô-ê nói.

Ông Béc-giơ-rê nhìn em gái vẻ trách móc:

— Nói gì kỳ thế, Dô-ê! Sao lại phá tan phép mầu như thế? Pu-toa không có thật. Em dám nói thế sao, Dô-ê? Em có bảo vệ nổi điều ấy không, Dô-ê? Muốn quả quyết Pu-toa chẳng hề có, Pu-toa chưa từng tồn tại, em đã xét kỹ những điều kiện của sự tồn tại và các phương thức của hiện hữu chưa? Pu-toa có tồn tại đấy, em ạ. Nhưng quả thật là một sự tồn tại đặc biệt.

— Con càng lúc càng chẳng hiểu gì, Pô-lin chán nản nói.

— Lát nữa sự thật sẽ hiện ra rõ ràng với con. Con nên biết Pu-toa sinh ra khi đã ở tuổi chín chắn. Bố khi ấy còn bé, cô con đã là một cô bé con. Nhà mình ở một ngôi nhà nhỏ, trong một khu ngoại ô của Xanh Ô-me. Ông bà nội con sống ở đó yên tĩnh, kín đáo, cho tới khi bị một bà già người Xanh Ô-me tên là Coóc-nui-dê phát hiện ra. Bà ta sống trong trang viên Mông-plê-dia cách thành phố hai chục cây số, và hoá ra lại là bà cô họ của bà nội con. Bà ta dùng quyền họ hàng bắt ông bà nội con chủ nhật nào cũng phải tới Mông-plê-dia ăn tối, mà ở đó ông bà chán đến cùng cực. Bà ta bảo ăn tối với họ hàng ngày chủ nhật mới là đứng đắn, chỉ hạng người xuất thân thấp kém mới không giữ tục lệ cổ ấy. Ông nội con chán tới phát khóc ở Mông-plê-dia. Nỗi tuyệt vọng của ông trông thật tội. Nhưng bà Coóc-nui-dê chẳng thấy gì. Bà ta chẳng thấy gì cả. Bà nội con can đảm hơn. Bà khổ cũng như ông, có khi còn hơn, nhưng bà vẫn mỉm cười.

— Đàn bà sinh ra là để chịu khổ, Dô-ê nói.

— Dô-ê, mọi vật sống trên đời đều sinh ra để chịu khổ. Ông bà từ chối những lời mời tai hại ấy cũng vô ích. Chủ nhật nào xe ngựa của bà Coóc-nui-dê cũng tới đón, quá trưa. Phải đi Mông-plê-dia. Đó là một nghĩa vụ tuyệt đối cấm trốn tránh. Đó là một trật tự đã lập, chỉ nổi loạn mới phá được. Rốt cuộc ông nội con nổi loạn, thề không nhận thêm một lời mời nào của bà Coóc-nui-dê nữa, và để bà nội con lo tìm những cái cớ đàng hoàng và đủ kiểu lý do để từ chối. Đó lại là việc bà kém nhất. Bà nội con không biết giả dối.

— Anh phải nói là bà không muốn. Bà cũng nói dối được như người khác chứ.

— Đúng là khi có lý do chính đáng thì bà nói ra, chứ không bịa lý do vớ vẩn. Em nhớ không, có lần ngồi ăn bà nói: may quá con Dô-ê bị ho gà, lâu lắm mình mới phải đi Mông-plê-dia.

— Mà đúng thế thật! Dô-ê nói.

— Em khỏi bệnh, Dô-ê ạ. Thế rồi một hôm bà Coóc-nui-dê tới bảo bà nội: cháu yêu, cô tin là chủ nhật này cháu sẽ cùng chồng tới Mông-plê-dia ăn tối. Bà nội con, đã được chồng giao đích danh nhiệm vụ đưa ra cho bà Coóc-nui-dê một lý do từ chối có giá trị, trong thế cùng ấy đành nghĩ ra một lý do không có thật. Bà nói: cháu tiếc lắm, thưa cô. Nhưng chủ nhật này không đi được. Chủ nhật cháu chờ anh làm vườn.

— Nghe vậy, bà Coóc-nui-dê nhìn qua cửa kính phòng khách ra mảnh vườn nhỏ hoang dại, nơi những bụi hoàng dương, những bụi tử đinh hương trông như chưa hề biết tới cái kéo tỉa và sẽ chẳng bao giờ biết tới. Cháu chờ anh làm vườn! Để làm gì? Để làm vườn ạ.

— Rồi bà nội con, mắt vô tình đưa về cái khoảnh cỏ dại cây hoang mà bà vừa gọi là vườn, hoảng hốt nhận ra lời bịa của mình thật khó tin. Bà Coóc-nui-dê bảo: người ấy có thể tới làm cái... vườn của cháu vào thứ hai hay thứ ba. Vả lại thế còn hơn. Không nên làm việc ngày chủ nhật. Bà nội con đáp: trong tuần anh ấy bận ạ.

— Bố hay để ý thấy những lý do vô lý nhất, ngớ ngẩn nhất lại là những lý do ít bị bắt bẻ nhất. Chúng làm đối thủ lúng túng. Bà Coóc-nui-dê nài ép ít hơn mức người ta có thể chờ đợi ở một người chẳng mấy khi chịu buông như bà ta. Đứng dậy khỏi ghế bành, bà ta hỏi: anh làm vườn của cháu tên là gì, cháu yêu? Bà nội con không chút ngập ngừng đáp: Pu-toa.

— Pu-toa đã được gọi tên. Từ lúc ấy hắn tồn tại. Bà Coóc-nui-dê vừa đi vừa càu nhàu: Pu-toa! Hình như cô có biết cái tên ấy. Pu-toa? Pu-toa! Cô biết hắn quá đi chứ. Nhưng cô không nhớ ra... Hắn ở đâu? Bà nội con đáp: anh ấy làm thuê theo ngày. Ai cần thì nhắn qua nhà người này người khác. Bà Coóc-nui-dê bảo: à, cô đoán thế nào cũng vậy mà. Một thằng lười, một thằng lang thang... đồ chẳng ra gì. Coi chừng hắn đấy, cháu yêu.

— Từ đó Pu-toa đã có tính cách.

Ông Gu-banh và ông Giăng Mác-tô vừa tới, ông Béc-giơ-rê bèn tóm lược cho họ câu chuyện đang nói:

— Chúng tôi đang nói về cái người mà một hôm mẹ tôi cho ra đời làm anh làm vườn ở Xanh Ô-me, và gọi đích danh tên hắn. Từ đó hắn hành động.

— Thưa thầy, thầy có thể nhắc lại được không ạ? ông Gu-banh vừa lau mắt kính vừa nói.

— Sẵn lòng, ông Béc-giơ-rê đáp. Chẳng có anh làm vườn nào cả. Anh làm vườn không tồn tại. Mẹ tôi nói: tôi chờ anh làm vườn. Lập tức anh làm vườn có thật. Và hắn hành động.

— Thưa thầy, ông Gu-banh hỏi, hắn không tồn tại thì hành động thế nào được ạ?

— Hắn có một kiểu tồn tại, ông Béc-giơ-rê đáp.

— Thầy muốn nói một sự tồn tại tưởng tượng, ông Gu-banh khinh khỉnh đáp lại.

— Thế một sự tồn tại tưởng tượng là chẳng là gì sao? ông thầy kêu lên. Những nhân vật trong thần thoại chẳng tác động được gì tới con người sao? Hãy suy nghĩ về thần thoại đi, ông Gu-banh, ông sẽ nhận ra rằng không phải những thực thể có thật, mà chính những thực thể tưởng tượng mới tác động sâu xa nhất, bền lâu nhất tới tâm hồn người ta. Ở khắp nơi và trong mọi thời, những thực thể chẳng có thật hơn gì Pu-toa đã gieo vào lòng các dân tộc hận thù và tình yêu, kinh hoàng và hy vọng, xui khiến tội ác, nhận lễ vật, tạo nên phong tục và luật lệ. Ông Gu-banh, hãy suy nghĩ về cái thần thoại muôn đời ấy. Pu-toa là một nhân vật thần thoại, thuộc hạng mờ nhạt nhất, tôi công nhận, và thuộc loại thấp kém nhất. Gã thần rừng thô lỗ ngày xưa ngồi bên mâm của nông dân miền Bắc nước ta từng được coi là xứng đáng xuất hiện trong một bức tranh của Gioóc-đan và một bài ngụ ngôn của La Phông-ten. Đứa con trai lông lá của mụ phù thuỷ Xi-cô-rắc đã bước vào thế giới cao siêu của Sếch-xpia. Pu-toa kém may mắn hơn, sẽ mãi bị các nghệ sĩ và thi sĩ khinh rẻ. Hắn thiếu sự lớn lao và sự kỳ lạ, thiếu phong cách và tính cách. Hắn sinh ra trong những đầu óc quá biết điều, giữa những người biết đọc biết viết, chẳng có cái trí tưởng tượng đáng yêu gieo rắc những truyện hoang đường. Thưa các ông, tôi nghĩ tôi đã nói đủ để các ông biết bản chất thật của Pu-toa.

— Tôi hiểu rồi ạ, ông Gu-banh nói.

Và ông Béc-giơ-rê tiếp tục bài giảng của mình:

— Pu-toa có. Tôi có thể khẳng định điều ấy. Hắn có. Các ông cứ xét kỹ mà xem, các ông sẽ thấy chữ có chẳng hề bao hàm thực chất gì, nó chỉ là sợi dây nối tính chất với chủ thể, chỉ diễn tả một mối quan hệ.

— Hẳn thế, Giăng Mác-tô nói, nhưng có mà không có tính chất gì thì cũng ít ỏi như không. Chẳng nhớ ngày xưa ai đã nói: ta là Đấng Hiện Hữu. Xin thứ lỗi cho trí nhớ kém của tôi. Ai mà nhớ được hết. Nhưng cái người vô danh nói câu ấy đã khinh suất hiếm thấy. Ngụ ý qua lời nói thiếu cân nhắc ấy rằng mình chẳng có tính chất gì, chẳng có quan hệ nào, ông ta đã tuyên bố rằng mình không tồn tại, và tự xoá sổ mình một cách vô ý. Tôi dám cá là chẳng ai nghe nói tới ông ta nữa.

— Ông thua rồi, ông Béc-giơ-rê đáp. Ông ta đã sửa cái tác hại của câu nói ích kỷ ấy bằng cách gán cho mình hàng nồi tính từ, và người ta đã nói về ông ta rất nhiều, mà thường là chẳng có chút lý lẽ nào.

— Tôi không hiểu, ông Gu-banh nói.

— Không cần phải hiểu, Giăng Mác-tô đáp.

Rồi anh xin ông Béc-giơ-rê nói về Pu-toa.

— Anh thật tử tế khi hỏi tôi, ông thầy nói. Pu-toa sinh ra vào nửa sau thế kỷ mười chín, ở Xanh Ô-me. Giá hắn sinh ra sớm hơn vài thế kỷ, trong rừng Ác-đen hay rừng Brô-xê-li-ăng thì hơn. Lúc ấy hắn đã là một con yêu tinh khéo léo tuyệt vời.

— Ông Gu-banh dùng tách trà nhé, Pô-lin nói.

— Vậy Pu-toa là yêu tinh độc ác sao? Giăng Mác-tô hỏi.

— Hắn độc ác, ông Béc-giơ-rê đáp, theo một cách nào đó, nhưng không hoàn toàn. Hắn cũng như những con quỷ người ta bảo là rất ác, nhưng quen rồi lại thấy chúng có những đức tính tốt. Mà tôi còn sẵn lòng tin rằng người ta đã đối xử bất công với Pu-toa. Bà Coóc-nui-dê, vốn đã có định kiến với hắn, nghi ngay hắn là đồ lười, đồ say, đồ ăn cắp. Nhưng rồi bà ngẫm nghĩ rằng mẹ tôi chẳng giàu gì mà còn thuê hắn, thì hẳn hắn lấy công rẻ. Bà tự hỏi có lợi hơn không nếu thuê hắn thay cho anh làm vườn của bà, có tiếng tốt hơn nhưng cũng đòi hỏi hơn. Đang vào mùa tỉa cây thuỷ tùng. Bà nghĩ nếu bà Ê-loa Béc-giơ-rê nghèo mà trả cho Pu-toa chẳng bao nhiêu, thì bà giàu sẽ trả còn ít hơn nữa, vì lệ thường là người giàu trả rẻ hơn người nghèo. Và bà đã thấy những cây thuỷ tùng của mình được tỉa thành tường, thành quả cầu, thành kim tự tháp mà chẳng tốn bao nhiêu. Bà tự nhủ: ta sẽ để mắt cho thằng Pu-toa khỏi la cà, khỏi ăn cắp. Ta chẳng mất gì mà toàn được lợi. Bọn lang thang ấy đôi khi làm khéo hơn thợ lương thiện. Bà quyết định thử, và bảo mẹ tôi: cháu yêu, gửi thằng Pu-toa sang cho cô. Cô sẽ cho nó làm ở Mông-plê-dia. Mẹ tôi hứa. Bà sẵn lòng làm lắm. Nhưng thật tình là không thể được. Bà Coóc-nui-dê chờ Pu-toa ở Mông-plê-dia, chờ hoài vô ích. Bà là người có ý chí nhất quán và kiên trì với dự tính của mình. Gặp lại mẹ tôi, bà phàn nàn không thấy tin tức gì của Pu-toa. Cháu yêu, vậy ra cháu không bảo nó là cô đang chờ à? Có chứ ạ, nhưng anh ấy lạ lắm, kỳ cục lắm... Ồ, cô biết thừa cái hạng ấy. Cô thuộc lòng thằng Pu-toa của cháu. Nhưng chẳng có thằng thợ nào gàn dở tới mức từ chối tới làm ở Mông-plê-dia. Nhà cô ai mà chẳng biết. Thằng Pu-toa sẽ phải tuân lệnh cô, mà phải nhanh nhảu nữa, cháu yêu. Cháu chỉ cần cho cô biết nó ở đâu, cô sẽ tự đi tìm nó. Mẹ tôi đáp không biết Pu-toa ở đâu, chẳng ai biết chỗ ở của hắn, hắn không cửa không nhà. Cháu không gặp lại anh ấy nữa, thưa cô. Cháu nghĩ anh ấy trốn đi rồi. Bà còn nói khéo hơn thế được sao?

— Thế nhưng bà Coóc-nui-dê nghe vậy vẫn ngờ vực. Bà nghi mẹ tôi giữ rịt Pu-toa, giấu hắn đi, sợ mất hắn hay sợ hắn đòi công cao hơn. Và bà cho rằng mẹ tôi ích kỷ quá thể. Biết bao phán xét được mọi người chấp nhận, được lịch sử ghi nhận, cũng có căn cứ vững vàng y như phán xét ấy.

— Đúng thế thật, Pô-lin nói.

— Cái gì đúng? Dô-ê hỏi, đang lơ mơ buồn ngủ.

— Rằng phán xét của lịch sử thường sai. Bố ơi, con nhớ có lần bố nói: bà Rô-lăng thật ngây thơ khi kêu gọi hậu thế công bằng phán xét, mà không thấy rằng nếu người cùng thời bà là những con khỉ xấu, thì hậu thế của họ cũng sẽ toàn là khỉ xấu.

— Pô-lin, cô Dô-ê nghiêm giọng hỏi, chuyện Pu-toa thì dính dáng gì tới chuyện cháu đang kể?

— Dính dáng nhiều lắm cô ạ.

— Cô chẳng thấy.

Ông Béc-giơ-rê vốn chẳng ghét gì chuyện nói lan man, trả lời con gái:

— Nếu mọi bất công rốt cuộc đều được sửa chữa ở thế gian này, người ta đã chẳng bao giờ nghĩ ra một thế giới khác để sửa chữa chúng. Làm sao các người muốn hậu thế phán xét công bằng mọi người đã chết? Làm sao hỏi han họ trong bóng tối nơi họ trốn chạy? Đến khi có thể công bằng với họ thì người ta đã quên họ. Mà người ta có bao giờ công bằng được không? Công lý là gì? Ít ra thì về lâu về dài bà Coóc-nui-dê cũng phải công nhận rằng mẹ tôi không lừa bà, và Pu-toa là không tài nào tìm ra.

— Thế nhưng bà không bỏ ý định tìm ra hắn. Bà hỏi hết họ hàng, bạn bè, hàng xóm, người hầu, người buôn bán quen xem có biết Pu-toa không. Chỉ hai ba người đáp rằng chưa từng nghe nói tới. Phần đông đều tin chắc mình đã gặp hắn. Chị bếp nói: tôi có nghe cái tên ấy, nhưng không gắn được vào gương mặt nào. Bác phu làm đường gãi tai: Pu-toa à! Tôi biết hắn quá đi chứ. Nhưng tôi không nói được hắn là ai. Tin chính xác nhất là của ông Blê-dơ, viên chức thu thuế trước bạ, khai rằng đã thuê Pu-toa bổ củi trong sân nhà mình từ mười chín tới hai mươi ba tháng mười, cái năm có sao chổi.

— Một buổi sáng, bà Coóc-nui-dê thở hổn hển xông vào phòng làm việc của cha tôi: tôi vừa thấy thằng Pu-toa. À! Tôi thấy nó. Bà tin thế à? Tôi chắc chắn. Nó đi sát tường nhà ông Tăng-săng. Rồi nó rẽ vào phố Các Bà Tu Viện, đi nhanh lắm. Tôi để mất dấu. Có đúng là hắn không? Không nghi ngờ gì nữa. Một gã chừng năm mươi tuổi, gầy, gù, dáng lang thang, mặc áo khoác vải bẩn. Cha tôi nói: quả thật những đặc điểm ấy có thể ứng với Pu-toa. Thấy chưa! Vả lại tôi đã gọi nó. Tôi gọi to: Pu-toa! Và nó quay lại. Cha tôi nói: đó chính là cách cảnh sát vẫn dùng để xác minh nhân thân những tên tội phạm họ đang truy lùng. Tôi đã bảo là nó mà!... Tôi đã biết cách tìm ra thằng Pu-toa của ông bà. Này, nó là một thằng mặt mũi bất lương. Ông bà thật quá liều lĩnh khi thuê nó vào nhà. Tôi rành tướng mặt lắm, và tuy chỉ thấy lưng nó, tôi dám thề nó là quân ăn trộm, có khi còn là quân giết người. Tai nó không có vành, đó là dấu hiệu chẳng bao giờ sai. À, bà đã để ý thấy tai hắn không có vành sao? Chẳng gì qua được mắt tôi. Ông Béc-giơ-rê thân mến, nếu ông không muốn bị giết cùng vợ con, thì đừng cho thằng Pu-toa vào nhà nữa. Một lời khuyên: cho thay hết ổ khoá đi.

— Thế rồi mấy hôm sau, bà Coóc-nui-dê bị mất ba quả dưa trong vườn rau. Không tìm ra kẻ trộm, bà nghi Pu-toa. Lính sen đầm được gọi tới Mông-plê-dia, và kết quả khám nghiệm của họ xác nhận mối nghi của bà Coóc-nui-dê. Hồi ấy có những toán trộm vặt hay phá vườn tược trong vùng. Nhưng lần này vụ trộm có vẻ do một người làm, mà khéo léo lạ lùng. Không dấu vết phá rào, không vết giày trên đất ẩm. Kẻ trộm chỉ có thể là Pu-toa. Đó là ý kiến của viên đội sen đầm, người biết rất nhiều chuyện về Pu-toa và quả quyết sẽ tóm được con chim ấy.

— Tờ Nhật báo Xanh Ô-me dành một bài cho ba quả dưa của bà Coóc-nui-dê, và theo những tin tức thu thập trong thành phố, đăng chân dung Pu-toa. Báo viết: hắn trán thấp, hai mắt khác màu, ánh mắt lấm lét, một chùm nếp nhăn chân chim ở thái dương, gò má nhô nhọn, đỏ và bóng nhẫy. Tai không có vành. Gầy, hơi gù, trông có vẻ yếu ớt, nhưng thật ra khoẻ phi thường: hắn bẻ cong dễ dàng một đồng năm quan giữa ngón trỏ và ngón cái.

— Tờ báo quả quyết có nhiều lý do chính đáng để quy cho hắn cả một chuỗi dài những vụ trộm khéo léo đáng kinh ngạc.

— Cả thành phố bàn tán về Pu-toa. Một hôm người ta hay tin hắn đã bị bắt, tống vào nhà lao. Nhưng chẳng bao lâu người ta nhận ra kẻ bị bắt nhầm là một người bán lịch tên là Ri-gô-be. Vì không tìm được tội gì của anh ta, người ta thả anh ta ra sau mười bốn tháng tạm giam. Còn Pu-toa vẫn không sao tìm ra. Bà Coóc-nui-dê lại bị trộm một vụ nữa, táo tợn hơn vụ đầu. Người ta lấy trong tủ bát nhà bà ba chiếc thìa nhỏ bằng bạc.

— Bà nhận ra bàn tay của Pu-toa, cho lắp xích ở cửa phòng ngủ, và không ngủ được nữa.

— Hết chương 1 —

Mục lục Pu-toa

  1. 1Anh làm vườn không có thật21 phút
  2. 2Pu-toa của bọn trẻĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnatole France (1844 – 1924)
Năm mất1924
Xuất bản lần đầu1898
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Putois, 1898
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →