Tuần trăng mật đang độ tròn đầy. Họ có một căn hộ trải thảm mới đỏ rực, rèm cửa có tua, và sáu chiếc cốc bia nắp thiếc xếp hàng trên gờ tường phòng ăn. Cái kỳ diệu của tất cả những thứ ấy vẫn còn nguyên trong mắt họ. Chưa ai trong hai người từng thấy một bông anh thảo vàng bên bờ sông. Nhưng nếu lúc ấy họ được thấy, hẳn nó sẽ hiện ra như, à, như bất cứ điều gì mà nhà thơ mong những người tinh tế nhìn thấy ở đó, ngoài một bông anh thảo.
Cô dâu ngồi trên ghế đu, hai chân gác lên cả thế giới. Cô chìm trong những giấc mơ màu hồng và chiếc áo ki-mô-nô cùng màu. Cô tự hỏi không biết dân Grin-len, dân Tát-ma-ni-a và dân Ba-lu-chi-xtan đang nói gì với nhau về đám cưới của cô với Kít Mắc-ga-ri. Mà nói gì thì cũng thế thôi. Từ Luân Đôn đến tận chòm sao Thập Tự Phương Nam, chẳng có võ sĩ hạng bán trung nào trụ nổi bốn tiếng đồng hồ, à không, bốn hiệp đấu, trước chú rể của cô. Mà chú rể ấy đã là của cô được ba tuần rồi. Chỉ cần cô cong ngón tay út là đủ lay chuyển anh hơn mọi nắm đấm của mọi võ sĩ sáu mươi tư cân trên đời.
Tình yêu, khi là của ta, là tên khác của quên mình và hi sinh. Khi là của người bên kia giếng trời, nó có nghĩa là kiêu căng và tự phụ.
Cô dâu bắt chéo đôi giày thấp cổ, trầm ngâm nhìn mấy thần Tình yêu vẽ trên trần nhà.
— Anh yêu, — cô nói, với vẻ của nữ hoàng Cờ-lê-ô-pát đòi Ăng-tô-ni gói thành La Mã vào giấy lụa rồi giao tận nhà, — em nghĩ em muốn ăn một quả đào.
Kít Mắc-ga-ri đứng dậy mặc áo, đội mũ. Anh nghiêm trang, mặt cạo nhẵn, đa cảm và nhanh nhẹn.
— Được thôi, — anh nói, điềm nhiên như thể chỉ đang nhận lời ký hợp đồng đấu với nhà vô địch nước Anh. — Anh xuống phố quơ về cho em một quả, nghe chưa?
— Đừng đi lâu nhé, — cô dâu dặn. — Vắng cậu bé hư của em, em buồn lắm. Mua quả nào chín ngon ngon ấy.
Sau một loạt lời tạm biệt hợp với một chuyến vượt biển sang xứ lạ hơn, chàng Kít đi xuống phố.
Tới đây anh khựng lại, và cũng chẳng phải không có lý. Mùa này mới đầu xuân, và xem ra khó lòng giằng được ở đâu trong mấy con phố, mấy cửa hàng lạnh lẽo kia cái phần thưởng mọng nước của độ chín vàng mùa hạ.
Tới sạp trái cây của một ông người Ý ở góc phố, anh dừng lại, liếc khinh khỉnh qua mấy quả cam bọc giấy, mấy quả táo đánh bóng loáng, mấy nải chuối xanh xao thèm nắng.
— Có đào hông? — Kít hỏi, cố uốn giọng cho lơ lớ như tiếng Ý, thứ tiếng của Đăng-tê, người tình của mọi người tình.
— Ầy, không có, — người bán thở dài. — Phải một tháng nữa mới có đào. Sớm quá. Có cam ngon lắm. Mua cam không?
Kít khinh khỉnh đi tiếp. Anh vào quán ăn kiêm cà phê kiêm sân lăn bóng mở suốt đêm của người bạn và cũng là người hâm mộ anh, Giớt-tớt Ô-ca-la-hăn. Ông Ô-ca-la-hăn đang đi một vòng quanh cơ ngơi của mình, xem có chỗ nào thất thoát.
— Tôi hỏi thẳng nhé, — Kít nói. — Bà xã tôi tự dưng thèm một quả đào. Giờ nếu ông có đào thì lôi ra mau, Ca. Tôi cần, mà có nhiều quả thì tôi lấy cả.
— Cả quán này là của cậu, — Ô-ca-la-hăn nói. — Nhưng chẳng có quả đào nào cả. Sớm quá. Chắc vào mấy tiệm sang ở đại lộ Brốt-uê cũng chẳng tìm ra. Tiếc thật. Đàn bà mà đã thèm một thứ quả nào thì chẳng thứ gì khác thay được. Giờ này mấy hiệu trái cây hạng nhất đóng cửa cả rồi. Nhưng nếu cậu nghĩ bà nhà thích cam, thì tôi vừa nhập một thùng cam ngon lắm, bà ấy có thể...
— Cảm ơn nhiều, Ca. Ngay từ tiếng chuông vào hiệp, trận này đã là trận đào rồi, đổi sang cam là thua. Tôi đi tìm tiếp.
Lúc Kít đi dọc đại lộ phía tây thì đã gần nửa đêm. Ít cửa hàng còn mở, mà cửa hàng nào còn mở thì cũng gần như cười vào mặt cái ý tưởng đi mua đào.
Nhưng trong căn hộ được bao bọc như lâu đài có hào nước, cô dâu vẫn tin chắc mà chờ trái đào xứ Ba Tư của mình. Một nhà vô địch hạng bán trung mà không tìm nổi một quả đào ư? Mà không sải bước đắc thắng vượt qua cả mùa màng, cả cung hoàng đạo, cả cuốn lịch, để mang về cho người của riêng anh một quả đào tháng Sáu hay một quả đào Giọt-gi-a ư?
Mắt Kít bắt gặp một ô cửa kính sáng đèn, rực rỡ đủ những sắc màu quyến rũ nhất của thiên nhiên. Đèn chợt tắt. Kít chạy nước rút và đuổi kịp ông chủ hiệu trái cây đang khoá cửa.
— Có đào không? — anh hỏi, hết sức chậm rãi.
— Dạ không, thưa ông. Phải ba bốn tuần nữa cơ. Tôi cũng chẳng biết ông có thể tìm ở đâu. Trong thành phố có lẽ có ít quả trồng trong nhà kính, nhưng khó mà lần ra. Có thể ở mấy khách sạn đắt tiền, chỗ nào người ta lắm tiền để phung phí ấy. Nhưng tôi có cam ngon lắm, một chuyến tàu vừa cập bến hôm nay.
Kít nán lại ở góc phố một lúc, rồi rảo bước về phía hai ngọn đèn xanh hai bên bậc thềm một toà nhà cuối con phố ngang tối om.
— Ông đại uý có đây không? — anh hỏi viên trung sĩ trực bàn ở đồn cảnh sát.
Đúng lúc ấy viên đại uý từ phía sau nhanh nhẹn bước ra. Ông mặc thường phục, có vẻ bận rộn.
— Chào Kít, — ông nói với tay võ sĩ. — Tưởng cậu đang đi tuần trăng mật?
— Về từ hôm qua rồi. Giờ tôi là công dân đứng đắn. Định quan tâm tới chuyện thành phố một chút. Tối nay ông có muốn vào ổ của Đen-vơ Đích không, ông đại uý?
— Chuyện cũ rồi, — viên đại uý vừa nói vừa xoắn ria. — Ổ của Đen-vơ bị dẹp từ hai tháng trước.
— Đúng thế, — Kít nói. — Ráp-phơ-ti đuổi hắn khỏi khu Bốn mươi ba. Giờ hắn mở sòng ngay trong khu của ông, mà sòng còn to hơn trước. Tôi ghét cái trò cờ bạc này lắm. Tôi có thể dẫn ông tới tận sòng hắn.
— Ngay trong khu của tôi à? — viên đại uý gầm gừ. — Cậu chắc chứ, Kít? Coi như cậu giúp tôi một việc. Cậu có cửa vào không? Làm thế nào đây?
— Búa, — Kít nói. — Cửa nhà nó chưa bọc thép. Ông cần mười người. Không, chúng nó không cho tôi vào đâu. Đen-vơ đang tìm cách chơi tôi. Hắn tưởng lần bị đột kích trước là do tôi mách. Mà tôi có mách đâu. Ông phải nhanh lên. Tôi còn phải về nhà. Chỗ đó cách đây có ba khối nhà thôi.
Chưa đầy mười phút sau, viên đại uý cùng một chục người đã theo người dẫn đường lẻn vào hành lang một toà nhà tối om, trông rất đứng đắn, ban ngày là chỗ của bao nhiêu văn phòng buôn bán.
— Tầng ba, phía sau, — Kít khẽ nói. — Tôi dẫn đường.
Hai người cầm rìu đứng trước cánh cửa anh chỉ.
— Có vẻ yên ắng quá, — viên đại uý ngờ vực. — Cậu chắc tin của cậu đúng chứ?
— Cứ phá đi! — Kít nói. — Sai thì tôi chịu.
Những nhát rìu bổ toang cánh cửa chưa được che chắn. Ánh đèn rực rỡ bên trong tràn ra qua những tấm ván vỡ. Cánh cửa đổ xuống, toán đột kích lao vào phòng, súng lăm lăm trong tay.
Căn phòng lớn bày biện theo kiểu lộng lẫy loè loẹt mà Đen-vơ Đích với đầu óc miền Tây rất ưa. Nhiều bàn bạc đông khách đang chơi. Khoảng năm chục người trong phòng ào cả về phía cảnh sát trong một cú xô tháo chạy vĩ đại để giành tự do cá nhân. Mấy người mặc thường phục phải vung dùi cui một chút. Hơn nửa số con bạc chạy thoát.
Tối ấy, chính Đen-vơ Đích đã hạ cố có mặt tại sòng. Hắn dẫn đầu đợt xô ra định quét sạch toán đột kích ít người hơn. Nhưng vừa thấy Kít, chuyện công của hắn liền hoá thành chuyện thù riêng. Vốn thuộc hạng cân nặng, hắn vui sướng lao vào kẻ thù nhỏ con hơn, và hai người ôm nhau lăn xuống một đợt cầu thang. Tới chiếu nghỉ, họ buông nhau ra và đứng dậy. Bấy giờ Kít mới dùng được vài miếng nghề, những miếng vô dụng khi anh đang bị một quý ông chín mươi cân sắp mất hai vạn đô-la đồ nghề ôm siết trong cơn hăng máu.
Hạ đối thủ xong, Kít vội chạy lên lầu, băng qua phòng bạc vào một gian nhỏ hơn thông với nó qua một vòm cửa.
Ở đây có một chiếc bàn dài bày toàn sứ quý và đồ bạc, thức ăn dọn hào phóng, loại đắt tiền và bày vẽ mà người ta cho là giới ăn chơi rất khoái. Ở đây lại thấy rõ cái gu phóng khoáng và loè loẹt của quý ông lấy tên thành phố Đen-vơ làm biệt danh.
Một chiếc giày da bóng cỡ mười thò mấy phân ra khỏi khăn bàn, nằm dọc sàn nhà. Kít túm lấy nó, lôi ra một anh hầu bàn thắt nơ trắng, mặc đồ phục vụ.
— Đứng dậy! — Kít ra lệnh. — Anh coi bữa tiệc miễn phí này hả?
— Dạ vâng, thưa ông, đúng thế ạ. Lại bị tóm nữa à, ông chủ?
— Có vẻ thế. Nghe đây. Trong cả mâm này có quả đào nào không? Không có thì tôi đành chịu thua.
— Lúc mở sòng tối nay có ba tá, thưa ông, nhưng chắc các quý ông ăn hết rồi. Nếu ông muốn ăn một quả cam hảo hạng thì tôi tìm được ạ.
— Nhanh lên, — Kít nghiêm giọng ra lệnh, — lôi hết đào ra đây mau, không thì có chuyện. Tối nay đứa nào còn mời tôi cam nữa, tôi đấm vỡ mặt.
Cuộc lục soát bữa tiệc đắt đỏ và phung phí của Đen-vơ Đích tìm ra đúng một quả đào cô đơn cuối cùng, đã thoát được những bộ hàm sành ăn của đám con bạc. Nó chui ngay vào túi Kít, và người đi kiếm ăn không biết mỏi ấy lập tức mang chiến lợi phẩm ra về. Dưới vỉa hè, cảnh sát đang lùa tù nhân lên xe thùng, nhưng anh chẳng buồn liếc qua, cứ sải những bước dài và nhanh về nhà.
Lòng anh nhẹ tênh. Các hiệp sĩ xưa cũng cưỡi ngựa về lâu đài Ca-mơ-lốt như thế, sau những hiểm nguy và chiến công vì người đẹp của mình. Người đẹp của Kít đã ra lệnh, và anh đã vâng lời. Phải, nàng chỉ thèm một quả đào, nhưng tìm được một quả đào lúc nửa đêm trong thành phố còn lạnh giá như mùa đông này, khi tuyết tháng Hai vẫn nằm cứng như sắt, đâu phải chuyện nhỏ. Nàng đòi một quả đào. Nàng là vợ anh. Trong túi áo, quả đào ấm dần trong bàn tay anh nắm chặt, sợ nó rơi mất.
Trên đường về, Kít rẽ vào một hiệu thuốc mở suốt đêm, nói với anh dược tá đeo kính:
— Này ông bạn, xem giùm cái xương sườn của tôi có gãy không. Tôi vừa xô xát chút xíu, lăn xuống một hai đợt cầu thang.
Anh dược tá khám xong.
— Không gãy đâu, — anh chẩn đoán, — nhưng chỗ bầm của ông trông như ông vừa rơi từ nóc toà nhà Bàn Là cao ngất kia xuống hai lần ấy.
— Thế thì được rồi, — Kít nói. — Cho tôi mượn cái bàn chải quần áo nhé.
Cô dâu chờ đợi trong vầng sáng hồng của chiếc chao đèn màu hồng. Phép màu chưa hết trên đời. Chỉ cần khẽ ước một thứ cỏn con, một bông hoa, một quả lựu, một, à phải, một quả đào, là cô có thể sai người đàn ông của mình đi vào đêm tối, đi vào thế giới không cưỡng nổi anh, và anh sẽ làm theo ý cô.
Và giờ anh đứng bên ghế cô, đặt quả đào vào tay cô.
— Cậu bé hư! — cô âu yếm nói. — Em bảo đào à? Em nghĩ em thích ăn cam hơn nhiều.
Phúc thay cô dâu.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn