Trong lời bình cổ kính kèm theo cuốn sách thiêng của Lão Tử gọi là Cảm Ứng Thiên, có một câu chuyện nhỏ. Chuyện xưa tới mức tên người kể đầu tiên đã bị quên đi một nghìn năm nay, nhưng đẹp tới mức nó vẫn sống trong ký ức của bốn trăm triệu người, như một lời cầu nguyện đã thuộc thì nhớ mãi. Người viết Trung Hoa chẳng nhắc tới thành nào, xứ nào, dù ngay cả khi kể những truyền thuyết xưa nhất, bỏ sót như thế cũng là hiếm. Ta chỉ được biết người anh hùng trong truyền thuyết tên là Đổng Vĩnh, sống vào thời nhà Hán hùng mạnh, chừng hai mươi thế kỷ trước.
Mẹ Đổng Vĩnh mất từ khi chàng còn ẵm ngửa. Năm chàng mười chín tuổi, cha chàng cũng qua đời, để chàng một thân một mình giữa đời, chẳng có chút của cải gì. Cha chàng rất nghèo, đã chắt bóp hết sức để cho con ăn học, chẳng dành dụm được lấy một đồng tiền đồng. Đổng Vĩnh đau xót vô cùng khi thấy mình túng quẫn tới mức không thể tỏ lòng thờ kính người cha hiền bằng một lễ tang đúng nghi thức, một ngôi mộ chạm khắc dựng trên đất lành. Chỉ người nghèo mới là bạn của người nghèo, và trong những người Đổng quen biết, chẳng ai đủ sức giúp chàng lo tiền ma chay.
Chàng chỉ có một cách kiếm tiền: bán mình làm nô lệ cho một nhà điền chủ giàu có. Và cuối cùng chàng quyết làm như thế. Bạn bè hết sức can ngăn mà vô ích. Họ đem lời hứa hẹn giúp đỡ sau này ra mong làm chàng hoãn việc hy sinh ấy, cũng chẳng được. Đổng chỉ đáp rằng nếu được, chàng sẵn lòng bán tự do của mình cả trăm lần, còn hơn để linh hồn cha không được thờ kính dù chỉ một thời gian ngắn. Lại nữa, cậy mình trẻ khoẻ, chàng quyết đặt giá thật cao cho thân nô lệ của mình, một cái giá đủ dựng một ngôi mộ đẹp, nhưng gần như chàng chẳng bao giờ trả nổi để chuộc mình.
Thế là chàng tới khu chợ rộng nơi người ta đem nô lệ và con nợ ra bán, ngồi lên một chiếc ghế đá, sau vai dán một tấm bảng ghi điều kiện bán thân và những việc chàng làm được. Nhiều người đọc chữ trên bảng, cười khinh cái giá đòi, rồi đi thẳng chẳng nói một lời. Có người nán lại chỉ để hỏi han cho biết. Có người khen chàng bằng những lời sáo rỗng. Có người chế giễu ra mặt lòng vị tha của chàng, cười cái hiếu thảo ngây thơ của chàng. Cứ thế, bao nhiêu canh giờ mỏi mệt trôi qua, Đổng gần như đã tuyệt vọng không tìm được chủ, thì có một vị quan lớn trong xứ cưỡi ngựa tới. Đó là một người nghiêm trang, khôi ngô, làm chủ nghìn nô lệ và những điền trang mênh mông. Ghìm con ngựa Thát Đát, vị quan dừng lại đọc tấm bảng, ước lượng giá trị người nô lệ. Ông không cười, không khuyên, không hỏi han gì. Thấy cái giá đòi, thấy chân tay rắn rỏi của chàng trai, ông mua luôn chẳng nói thêm, chỉ bảo người hầu trả tiền và lo làm giấy tờ cần thiết.
Thế là Đổng được toại nguyện, dựng được một ngôi mộ tuy nhỏ nhưng ai nhìn thấy cũng thích mắt, vì do những nghệ nhân tài khéo vẽ kiểu, những thợ đá khéo tay chạm khắc. Trong lúc mộ còn đang vẽ kiểu, các nghi lễ thành kính đã được cử hành. Đồng tiền bạc đặt vào miệng người chết, đèn lồng trắng treo trước cửa, kinh thiêng được tụng, và hình giấy của mọi thứ người đã khuất có thể cần nơi cõi tiên đều được đốt trong ngọn lửa thánh. Rồi các thầy địa lý, thầy phù thuỷ chọn được một chỗ chôn mà chẳng ngôi sao xấu nào chiếu tới, một nơi yên nghỉ chẳng ma quỷ hay rồng thiêng nào quấy được, và ngôi mộ đẹp được dựng lên. Rồi vàng mã được rải dọc đường, đám tang rời nhà người chết, và giữa lời kinh, tiếng khóc, thi hài người cha hiền của Đổng được đưa tới mộ.
Rồi Đổng vào làm nô lệ cho người đã mua mình. Chủ cho chàng ở một túp lều nhỏ. Chàng mang theo tới đó những tấm bài vị bằng gỗ khắc tên tổ tiên, nơi người con hiếu thảo ngày ngày phải thắp hương cầu nguyện, làm những bổn phận dịu dàng của việc thờ cúng trong nhà.
Ba lần mùa xuân đã ướp hương hoa lên lòng đất. Ba lần đã tới ngày tết cúng người chết. Ba lần Đổng đã quét dọn, sửa sang mộ cha, dâng năm thứ lễ vật hoa quả và thịt. Thời gian để tang đã qua, nhưng chàng vẫn chưa thôi thương nhớ cha. Năm tháng xoay vần cùng những tuần trăng, chẳng mang lại cho chàng lấy một giờ vui, một ngày nghỉ ngơi hạnh phúc. Thế nhưng chàng chẳng bao giờ than thở thân phận nô lệ, chẳng bao giờ bỏ việc thờ cúng tổ tiên. Cho tới một ngày cơn sốt ruộng lúa quật ngã chàng, chàng không dậy nổi khỏi giường, bạn làm cùng tưởng chàng sắp chết. Chẳng có ai chăm sóc chàng, lo cho chàng những thứ cần dùng, vì nô lệ, đầy tớ đều bận việc trong nhà hay việc ngoài đồng, mặt trời mọc là đi làm, mặt trời lặn mới mỏi mệt trở về.
Một trưa oi ả, trong lúc người bệnh đang thiếp đi chập chờn vì kiệt sức, chàng mơ thấy một người đàn bà lạ và đẹp đứng bên mình, cúi xuống, lấy những ngón tay thon dài của bàn tay xinh đẹp chạm vào trán chàng. Bàn tay mát lạnh vừa chạm tới, một luồng run rẩy lạ lùng, ngọt ngào chạy khắp người chàng, mọi mạch máu rần rật như được thổi vào sức sống mới. Ngạc nhiên mở mắt, chàng thấy đúng người đẹp trong mơ đang cúi xuống mình, và chàng biết bàn tay mềm mại của nàng thật sự đang vuốt vầng trán đang giật thon thót của chàng. Nhưng ngọn lửa sốt đã tắt, một làn mát dịu ngọt thấm vào từng thớ thịt, và cái rùng mình trong giấc mơ vẫn còn rần rật trong máu như một niềm vui lớn. Ngay lúc ấy, mắt người khách hiền dịu gặp mắt chàng. Chàng thấy đó là đôi mắt đẹp lạ lùng, sáng như ngọc đen lộng lẫy dưới đôi mày cong như cánh én. Nhưng ánh nhìn bình thản của nàng xuyên qua chàng như ánh sáng xuyên qua pha lê. Một nỗi kính sợ mơ hồ phủ lấy chàng, khiến câu hỏi vừa lên tới môi chẳng thốt được thành lời. Nàng vẫn vuốt ve chàng, mỉm cười nói:
— Thiếp tới để trả lại sức khoẻ cho chàng và làm vợ chàng. Hãy dậy cùng thiếp làm lễ.
Giọng nàng trong trẻo, du dương như tiếng chim hót. Nhưng ánh mắt nàng có một sức mạnh uy nghiêm mà Đổng thấy mình không dám cưỡng lại. Rời giường, chàng sững sờ thấy sức lực mình đã hồi phục hoàn toàn. Nhưng bàn tay mảnh mai, mát lạnh đang nắm tay chàng dẫn chàng đi nhanh tới nỗi chàng chẳng kịp ngỡ ngàng. Chàng sẵn lòng đổi bao năm sống để có đủ can đảm mà nói ra cảnh khốn cùng của mình, nói rằng mình hoàn toàn không đủ sức nuôi vợ. Nhưng có cái gì không cưỡng nổi trong đôi mắt dài đen thẳm của người bạn đồng hành ngăn chàng lên tiếng. Và như thể ánh mắt kỳ diệu kia đã thấu suốt ý nghĩ sâu kín nhất của chàng, nàng nói, giọng vẫn trong trẻo như thế:
— Thiếp sẽ lo liệu.
Bấy giờ chàng xấu hổ đỏ mặt khi nghĩ tới bộ dạng tiều tuỵ, quần áo rách rưới của mình. Nhưng chàng để ý thấy nàng cũng ăn mặc nghèo nàn như một người đàn bà bình dân, chẳng đeo một món trang sức nào, chân cũng chẳng đi giày. Và trước khi chàng kịp nói với nàng câu gì, họ đã tới trước bài vị tổ tiên. Ở đó nàng quỳ xuống cùng chàng cầu khấn, rồi nâng chén rượu, chẳng biết lấy từ đâu ra, mời chàng, và cùng nhau họ lạy trời đất. Thế là nàng thành vợ chàng.
Thật là một cuộc hôn nhân bí ẩn. Vì cả hôm ấy lẫn mãi về sau, Đổng chẳng bao giờ dám hỏi vợ tên dòng họ, quê quán nơi đâu. Bạn làm tò mò hỏi han về nàng, chàng cũng chẳng trả lời được câu nào. Còn nàng thì chẳng bao giờ nói một lời về mình, chỉ bảo nàng tên là Chức. Nhưng dù Đổng kính sợ nàng tới mức hễ mắt nàng nhìn mình là chàng như người không còn ý chí riêng, chàng yêu nàng không sao tả xiết. Và từ giờ phút thành hôn, ý nghĩ về thân phận nô lệ không còn đè nặng lên chàng nữa. Túp lều nhỏ như được phép màu biến đổi. Cảnh nghèo khổ của nó được che đi bằng những món trang trí bằng giấy xinh xắn, những đồ bày biện thanh tao làm ra từ không có gì, bằng cái tài khéo léo kỳ diệu mà chỉ đàn bà mới biết bí quyết.
Mỗi sáng tinh mơ, người chồng trẻ thấy một bữa ăn đầy đủ, nấu nướng tươm tất chờ sẵn, chiều về cũng thế. Còn người vợ thì suốt ngày ngồi bên khung cửi, dệt lụa theo một kiểu chưa ai từng thấy ở xứ ấy. Nàng dệt tới đâu, lụa chảy ra khỏi khung cửi như một dòng vàng óng ả chầm chậm trôi, trên những làn sóng gợn của nó hiện lên những hình thù kỳ lạ màu tím, màu đỏ thắm, màu xanh ngọc. Đó là hình những kỵ sĩ ma cưỡi ngựa, những cỗ xe ma do rồng kéo, những lá cờ bằng mây bay phấp phới. Trong chòm râu mỗi con rồng lấp lánh viên ngọc huyền bí, trên mũ mỗi kỵ sĩ lóng lánh viên ngọc chỉ phẩm tước. Ngày nào nàng Chức cũng dệt một tấm lớn lụa hoa như thế, và tiếng tăm tài dệt của nàng đồn xa. Người gần người xa kéo tới xem tác phẩm kỳ diệu. Các nhà buôn lụa ở những thành lớn nghe tin, sai người tới gặp nàng Chức, xin nàng dệt cho họ và dạy họ bí quyết. Nàng dệt cho họ như họ muốn, đổi lấy những thoi bạc họ mang tới. Nhưng khi họ xin nàng dạy, nàng cười bảo:
— Chắc chắn thiếp chẳng bao giờ dạy các ông được, vì chẳng ai trong các ông có ngón tay như thiếp.
Quả thật, lúc nàng dệt, chẳng ai nhìn rõ được ngón tay nàng, cũng như chẳng ai nhìn được đôi cánh ong đang rung lên trong lúc bay vút đi.
Mùa nối mùa trôi qua, Đổng chẳng bao giờ biết thiếu thốn là gì, vì người vợ xinh đẹp giữ trọn lời hứa: thiếp sẽ lo liệu. Những thoi bạc sáng loáng các nhà buôn lụa mang tới chất mỗi ngày một cao trong chiếc rương lớn chạm trổ mà nàng Chức đã mua để cất đồ đạc trong nhà.
Sau cùng, một buổi sáng, khi Đổng ăn xong, sắp ra đồng, nàng Chức bất ngờ bảo chàng ở lại. Mở chiếc rương lớn, nàng lấy ra trao cho chàng một tờ giấy viết bằng lối chữ lệ của quan phủ. Đổng nhìn tờ giấy, kêu lên, nhảy cẫng vì sung sướng, vì đó là tờ giấy trả tự do cho chàng. Nàng Chức đã bí mật chuộc tự do cho chồng bằng tiền bán những tấm lụa kỳ diệu của nàng!
Nàng nói:
— Chàng sẽ không phải làm cho ông chủ nào nữa, mà chỉ làm cho chính mình thôi. Thiếp còn mua cả ngôi nhà này với mọi thứ bên trong, những đồi chè phía nam và những vườn dâu gần đây, tất cả đều là của chàng.
Đổng sung sướng biết ơn tới mức không còn biết mình là ai, toan phủ phục lạy nàng như lạy thần, nhưng nàng không cho.
Thế là chàng được tự do, và cùng tự do, sự sung túc tới với chàng. Chàng gieo xuống đất thiêng thứ gì, đất trả lại gấp trăm. Gia nhân yêu quý chàng, chúc phúc cho nàng Chức xinh đẹp, ít nói mà hiền hậu với mọi người quanh mình. Nhưng chẳng bao lâu khung cửi nằm im, vì nàng Chức sinh một con trai, một đứa bé đẹp tới mức Đổng nhìn con mà khóc vì sung sướng. Từ đó người vợ dành trọn mình chăm sóc đứa con.
Chẳng mấy chốc người ta thấy rõ đứa bé cũng kỳ diệu chẳng kém người mẹ kỳ diệu của nó. Ba tháng tuổi nó đã biết nói. Bảy tháng tuổi nó đã đọc thuộc lòng được châm ngôn của các bậc hiền triết, tụng được những lời kinh thiêng. Chưa tới tháng thứ mười một, nó đã cầm bút lông thành thạo, chép được những lời dạy của Lão Tử bằng nét chữ đẹp đẽ. Các nhà sư trong các đền chùa tới xem, tới trò chuyện với nó, kinh ngạc trước vẻ dễ thương của đứa trẻ và sự khôn ngoan trong lời nó nói. Họ chúc phúc cho Đổng:
— Hẳn con trai ông là món quà của Đấng Chủ Trời, là dấu hiệu các vị tiên thương yêu ông. Mong ông được hưởng trăm mùa hè hạnh phúc!
Bấy giờ là tháng mười một. Hoa đã tàn hết, hương mùa hè đã bay đi, gió bắt đầu se lạnh, và trong nhà Đổng, lửa buổi tối đã nhóm. Hai vợ chồng ngồi rất lâu trong ánh lửa ấm. Chàng nói nhiều về những hy vọng, những niềm vui của mình, về đứa con sau này sẽ thành bậc vĩ nhân, về bao dự định của người cha. Còn nàng ít nói, lắng nghe chàng, thường đưa đôi mắt kỳ diệu nhìn chàng, mỉm cười đáp lại. Chưa bao giờ nàng đẹp như thế. Và Đổng ngắm gương mặt nàng, chẳng để ý đêm đã tàn, lửa đã lụi, gió đã hát giữa những hàng cây trụi lá ngoài kia.
Bỗng nàng Chức đứng dậy, chẳng nói lời nào, nắm tay chàng, dịu dàng như buổi sáng thành hôn lạ lùng năm nào, dẫn chàng tới chiếc nôi nơi con họ đang ngủ, mỉm cười mơ màng trong giấc mộng. Và ngay lúc ấy, Đổng lại thấy nỗi sợ lạ lùng như lần đầu tiên mắt nàng gặp mắt chàng, nỗi sợ mơ hồ mà tình yêu và lòng tin đã làm dịu đi nhưng chưa bao giờ xua tan hẳn, giống như nỗi sợ trước thần linh. Chẳng biết vì sao, như người bị những bàn tay vô hình hùng mạnh ấn xuống, chàng cúi rạp trước nàng, quỳ như quỳ trước một vị thần. Khi chàng ngước mắt nhìn lại gương mặt nàng, chàng nhắm ngay mắt lại vì kính sợ. Vì nàng đứng sừng sững trước chàng, cao hơn mọi người đàn bà trần thế, quanh mình toả một vầng sáng như ánh mặt trời, ánh sáng từ tay chân nàng xuyên qua cả xiêm áo. Nhưng giọng nàng ngọt ngào tới với chàng, với tất cả sự dịu dàng của những ngày qua:
— Kìa, chàng yêu dấu, giờ đã tới lúc thiếp phải lìa chàng. Vì thiếp không phải người trần sinh ra, và những đấng vô hình chỉ có thể mang xác phàm trong một thời gian thôi. Nhưng thiếp để lại cho chàng vật làm tin của tình yêu chúng ta, đứa con trai xinh đẹp này, nó sẽ mãi trung thành và thương yêu chàng như chàng từng một lòng với cha chàng. Chàng yêu dấu, hãy biết rằng chính Đấng Chủ Trời đã sai thiếp xuống với chàng để thưởng lòng hiếu thảo của chàng, và giờ thiếp phải trở về nơi vinh quang trong nhà Người. Thiếp là nữ thần Chức Nữ.
Nàng vừa dứt lời, vầng sáng lớn tắt dần. Đổng mở mắt ra, biết rằng nàng đã đi mãi mãi, bí ẩn như ngọn gió trời thổi qua, không bao giờ trở lại như ánh lửa đã bị thổi tắt. Thế nhưng mọi cửa ra vào vẫn cài then, mọi cửa sổ vẫn đóng. Đứa bé vẫn ngủ, mỉm cười trong giấc mơ. Bên ngoài bóng tối đang tan, bầu trời sáng nhanh, đêm đã qua. Phương đông uy nghiêm lộng lẫy mở toang những cánh cổng vàng cao vút đón mặt trời tới. Và trong ánh huy hoàng của mặt trời đang lên, sương sớm tự dệt mình thành những hình thù kỳ diệu đổi màu lung linh, đẹp lạ lùng như những giấc mơ bằng lụa dệt trên khung cửi của Chức Nữ.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích