Ngoài rất nhiều thứ khác, Rắc-gơn còn là một thi sĩ. Người ta gọi gã là kẻ lang thang, nhưng đó chỉ là cách nói tắt rằng gã là một triết gia, một nghệ sĩ, một lữ khách, một nhà tự nhiên học và một nhà thám hiểm. Nhưng hơn hết, gã là một thi sĩ. Cả đời gã chưa từng viết một câu thơ nào. Gã sống thơ của mình. Thiên sử thi phiêu lưu của gã, nếu có được viết ra, hẳn sẽ là một bài vè năm câu. Nhưng, quay lại với điều đã nói từ đầu, Rắc-gơn là một thi sĩ.
Nếu bị dồn tới chỗ phải cầm giấy bút, sở trường của Rắc-gơn hẳn sẽ là những bài thơ tặng các thành phố. Gã nghiên cứu các thành phố như phụ nữ nghiên cứu bóng mình trong gương, như trẻ con nghiên cứu hồ dán và mùn cưa của một con búp bê bị gãy, như những người viết về thú hoang nghiên cứu các chuồng thú trong vườn bách thú. Với Rắc-gơn, một thành phố không chỉ là một đống gạch vữa có một số dân cư nhất định ở. Đó là một thực thể có linh hồn riêng biệt, đặc trưng, một khối sự sống mang cá tính riêng, với bản chất, hương vị và cảm xúc riêng của nó. Suốt hai nghìn dặm, từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, Rắc-gơn lang thang trong cơn say thơ, ôm các thành phố vào lòng. Gã cuốc bộ trên những con đường bụi bặm, hoặc lao đi hiên ngang trên những toa tàu chở hàng, chẳng coi thời gian ra gì. Và khi đã tìm thấy trái tim của một thành phố, đã lắng nghe lời thú tội thầm kín của nó, gã lại bồn chồn lang thang tới một thành phố khác. Rắc-gơn đa tình! Nhưng có lẽ gã chưa gặp được cái đô thị nào đủ sức chinh phục và níu giữ trí tưởng tượng khó tính của gã.
Qua các thi sĩ cổ xưa, chúng ta được biết rằng các thành phố là giống cái. Với thi sĩ Rắc-gơn cũng vậy, và trong đầu gã có một hình dung rõ ràng, cụ thể về dáng người tượng trưng cho mỗi thành phố gã từng theo đuổi.
Thành Chi-ca-gô dường như sà xuống gã với cái vẻ phơi phới của một bà lắm điều cắm lông chim, xức nước hoa hắc, rồi khuấy động giấc ngủ của gã bằng một khúc hát bay bổng, đẹp đẽ về lời hứa hẹn của tương lai. Nhưng rồi Rắc-gơn thức dậy với cảm giác lạnh run người, và một ấn tượng ám ảnh về những lý tưởng đã mất giữa bầu không khí ủ ê của món sa-lát khoai tây và cá.
Chi-ca-gô tác động tới gã như thế đấy. Có lẽ lời tả hơi mơ hồ, thiếu chính xác, nhưng đó là lỗi của Rắc-gơn. Lẽ ra gã phải ghi lại cảm xúc của mình thành thơ đăng tạp chí.
Thành Pít-xbớc gây cho gã ấn tượng như vở kịch "Ô-ten-lô" được một gánh hát rong hạng bét diễn bằng tiếng Nga trong một nhà ga xe lửa. Dẫu vậy, nàng Pít-xbớc này là một bà lớn hào phóng như bậc vương giả, chất phác, nồng hậu, mặt đỏ au, mặc váy lụa đi dép da dê trắng mà rửa bát, và mời Rắc-gơn ngồi trước lò sưởi lửa reo phần phật, uống sâm-banh với móng giò và khoai tây rán.
Thành Niu Oóc-lin-xơ thì chỉ đứng trên ban công nhìn xuống gã. Gã thấy được đôi mắt trầm tư lấp lánh sao của nàng, thoáng thấy chiếc quạt của nàng phe phẩy, thế thôi. Chỉ có một lần gã chạm mặt nàng. Đó là lúc rạng đông, khi nàng đang dội một xô nước rửa mặt gạch đỏ của vỉa hè. Nàng cười, ngân nga một khúc hát Pháp nho nhỏ, và đổ đầy nước lạnh như băng vào giày của Rắc-gơn. Đi thôi nào!
Thành Bô-xtơn thì hiện ra với thi sĩ Rắc-gơn theo một cách thất thường, kỳ quặc. Gã có cảm giác như mình vừa uống trà nguội, và thành phố là một tấm khăn trắng lạnh buốt quấn chặt quanh trán gã để thúc gã vào một nỗ lực trí óc phi thường nào đó mà gã không biết. Rốt cuộc, gã phải đi xúc tuyết kiếm sống, còn tấm khăn thì bị ướt, các nút thắt siết chặt lại, không sao gỡ ra được.
Bạn sẽ bảo đó là những ý nghĩ mơ hồ, khó hiểu. Nhưng sự chê bai của bạn nên được pha chút biết ơn, vì đây là những tưởng tượng của thi sĩ, mà giả sử bạn gặp chúng trong thơ thì sao!
Một ngày kia, Rắc-gơn tới vây hãm trái tim của thành phố lớn Man-hát-tan. Nàng là thành phố vĩ đại nhất trong tất cả, và gã muốn biết nốt nhạc của nàng nằm ở đâu trên cung bậc, muốn nếm thử, định giá, phân loại, giải mã, dán nhãn nàng, rồi xếp nàng cạnh những thành phố khác đã trao cho gã bí mật về cá tính của mình. Và tới đây, chúng tôi thôi làm người phiên dịch cho Rắc-gơn mà trở thành người chép sử cho gã.
Một buổi sáng, Rắc-gơn bước xuống từ một chiếc phà và đi vào trung tâm thành phố với dáng vẻ chán chường của một công dân thế giới. Gã ăn mặc cẩn thận để đóng vai một "người đàn ông không rõ danh tính". Không quốc gia, chủng tộc, giai cấp, phe nhóm, công đoàn, đảng phái, dòng họ hay hội chơi bowling nào có thể nhận gã là của mình. Quần áo của gã do nhiều công dân cho từng món, những người cao thấp khác nhau nhưng tấm lòng rộng như nhau. Dù vậy, chúng vẫn còn vừa người gã hơn những bộ đồ tự đo lấy mà mấy ông thợ may xuyên lục địa gửi tàu hoả tới cho bạn, kèm thêm chiếc va-li, dây đeo quần, khăn lụa và khuy ngọc trai làm quà tặng. Không một xu dính túi, như thi sĩ thì nên thế, nhưng với nhiệt tình của một nhà thiên văn vừa phát hiện một ngôi sao mới trong dàn đồng ca của dải Ngân Hà, hay của một người vừa thấy mực bỗng chảy ra từ cây bút máy của mình, Rắc-gơn lang thang vào thành phố lớn.
Chiều muộn, gã rút ra khỏi cơn gầm rú và náo loạn với vẻ kinh hoàng câm lặng trên mặt. Gã đã thua, bối rối, bẽ bàng, sợ hãi. Những thành phố khác đối với gã như sách vỡ lòng chữ to để đọc, như những cô gái quê chẳng mấy chốc là hiểu thấu, như những câu đố trên báo, cứ gửi tiền đặt báo là được biết lời giải, như những ly sò ướp rượu chỉ việc nuốt. Nhưng thành phố này lạnh lùng, lấp lánh, thản nhiên, không với tới được, như viên kim cương bốn ca-ra trong tủ kính đối với một chàng trai đứng bên ngoài, tay mân mê đồng lương bán ruy-băng ướt mồ hôi trong túi.
Gã đã quen với lời chào của những thành phố khác: sự tử tế mộc mạc, đủ cung bậc của lòng thương người thô ráp, những câu chửi thân tình, sự tò mò lắm lời, và sự cả tin hay dửng dưng dễ đo đếm. Còn thành phố Man-hát-tan này không cho gã một manh mối nào. Nó dựng tường thành chống lại gã. Như một dòng sông bằng đá cứng, nó chảy qua gã trên những con phố. Không một ánh mắt nào ngoảnh nhìn gã. Không một giọng nói nào cất lời với gã. Lòng gã khao khát cái vỗ vai của bàn tay đầy muội than Pít-xbớc, tiếng quát đe doạ mà thân thiện của Chi-ca-gô bên tai, ánh nhìn nhợt nhạt, bố thí qua mắt kính của dân Bô-xtơn, thậm chí cả mũi giày vội vàng nhưng không ác ý của Lu-i-vin hay Xanh Lu-i.
Trên phố Brốt-uê, Rắc-gơn, kẻ từng chinh phục bao nhiêu thành phố, đứng bẽn lẽn như anh chàng nhà quê bất kỳ nào. Lần đầu tiên gã nếm trải nỗi nhục nhã cay đắng của việc bị phớt lờ. Và khi gã thử quy cái thành phố rực rỡ, thay đổi chóng mặt, lạnh như băng này về một công thức, gã thất bại hoàn toàn. Gã là thi sĩ, vậy mà nó chẳng cho gã một hình ảnh so sánh có màu sắc nào, một điểm đối chiếu nào, một vết rạn nào trên những mặt cắt bóng loáng của nó, một cái quai nào để gã cầm nó lên mà ngắm hình dạng và cấu trúc, như gã vẫn quen làm, và thường làm một cách khinh khỉnh, với những thị trấn khác. Những ngôi nhà là những bức tường thành bất tận khoét lỗ châu mai để phòng thủ. Con người là những bóng ma sáng sủa mà không chút máu, đi qua thành hàng ngũ ích kỷ và gian hiểm.
Điều đè nặng nhất lên tâm hồn Rắc-gơn và làm tắc nghẽn trí tưởng tượng thi sĩ của gã là tinh thần vị kỷ tuyệt đối dường như ngấm vào mọi người như sơn ngấm vào đồ chơi. Mỗi người gã quan sát đều có vẻ là một con quái vật tự phụ đáng ghê tởm và xấc xược. Tình người đã rời khỏi họ. Họ là những pho tượng bằng đá và vecni đang lẫm chẫm bước, tự tôn thờ chính mình, thèm được những pho tượng đồng loại tôn thờ mà lại chẳng thèm để ý tới ai. Đông cứng, tàn nhẫn, không khoan nhượng, không gì thấm qua được, cắt theo cùng một khuôn, họ vội vã đi đường mình như những pho tượng nhờ phép màu nào đó mà cử động được, trong khi linh hồn và cảm xúc vẫn nằm ngủ yên trong khối cẩm thạch miễn cưỡng.
Dần dần Rắc-gơn nhận ra vài kiểu người nhất định. Một kiểu là một quý ông đứng tuổi, râu ngắn trắng như tuyết, mặt hồng hào không nếp nhăn, đôi mắt xanh sắc lạnh như đá, ăn mặc theo mốt của đám công tử con nhà giàu, dường như là hiện thân cho sự giàu có, chín chắn và dửng dưng băng giá của thành phố. Một kiểu khác là một người phụ nữ cao, đẹp, rõ nét như một bức khắc trên thép, giống nữ thần, điềm tĩnh, ăn vận như các công chúa thời xưa, với đôi mắt xanh lạnh lùng như ánh nắng phản chiếu trên băng hà. Và một kiểu nữa là sản phẩm phụ của cái thành phố rối gỗ này: một gã to bè, nghênh ngang, dữ tợn, nghiêm trang một cách đầy đe doạ, cái má xệ to như cánh đồng lúa mì vừa gặt, nước da như trẻ sơ sinh vừa rửa tội, và đốt ngón tay của một võ sĩ quyền anh. Kiểu người này đứng tựa vào biển hiệu tiệm xì-gà, nhìn đời bằng sự khinh miệt ướp đá.
Thi sĩ là sinh vật nhạy cảm, và chẳng bao lâu Rắc-gơn co rúm lại trong vòng tay lạnh lẽo của cái điều không sao giải mã nổi. Vẻ mặt giá băng, bí hiểm như tượng nhân sư, mỉa mai, khó đọc, phi tự nhiên và tàn nhẫn của thành phố khiến gã chán nản, hoang mang. Chẳng lẽ nó không có trái tim? Thà đống củi phải chẻ, thà tiếng mắng của những bà nội trợ mặt chua như giấm ở cửa sau, thà cái gắt gỏng tử tế của những tay bán rượu sau quầy ăn miễn phí ở tỉnh lẻ, thà sự hống hách dễ chịu của những viên cảnh sát làng, thà những cú đá, những lần bị bắt và những dịp may tình cờ của những thành phố khác dù tầm thường, ồn ào, thô kệch, còn hơn sự vô tâm lạnh cóng này.
Rắc-gơn lấy hết can đảm xin bố thí của thiên hạ. Chẳng thèm để ý, dửng dưng, họ cứ đi qua mà không chớp mắt lấy một lần để chứng tỏ họ biết có gã trên đời. Thế là gã tự nhủ rằng thành phố Man-hát-tan xinh đẹp mà tàn nhẫn này không có linh hồn, rằng dân cư của nó là những hình nhân cử động bằng dây và lò xo, và gã chỉ có một mình giữa một vùng hoang mạc mênh mông.
Rắc-gơn bắt đầu băng qua đường. Có một tiếng còi rú, một tiếng gầm, một tiếng xì xì và một tiếng rầm khi có thứ gì đó húc vào gã, hất gã lộn mấy vòng văng xa sáu thước. Trong lúc gã rơi xuống như cái que của một quả pháo thăng thiên, trái đất cùng tất cả các thành phố trên đó biến thành một giấc mơ vỡ vụn.
Rắc-gơn mở mắt. Thứ đầu tiên gã nhận ra là một mùi hương, mùi những đoá hoa xuân sớm nhất chốn thiên đường. Rồi một bàn tay mềm như cánh hoa rơi chạm vào trán gã. Cúi xuống bên gã là người phụ nữ ăn vận như công chúa thời xưa, mắt xanh, giờ đây dịu dàng và rưng rưng niềm cảm thông của con người. Dưới đầu gã, trên mặt đường, là lụa là và lông thú. Cầm chiếc mũ của Rắc-gơn trong tay, mặt đỏ hơn bao giờ hết sau một tràng diễn thuyết hùng hổ chống lại kiểu lái xe ẩu, là vị quý ông đứng tuổi, hiện thân của sự giàu có và chín chắn của thành phố. Từ một quán cà phê gần đó, cái sản phẩm phụ má xệ, da trẻ con, hối hả chạy tới, tay bưng một cốc đầy thứ nước đỏ thẫm gợi ra những khả năng tuyệt diệu.
"Uống cái này đi, ông bạn," cái sản phẩm phụ nói, kề cốc vào môi Rắc-gơn.
Chỉ trong một thoáng, hàng trăm người đã xúm lại, mặt ai cũng lộ vẻ lo lắng sâu sắc nhất. Hai viên cảnh sát lộng lẫy, đáng nể len vào vòng người, đẩy lùi số người tốt bụng thừa ra. Một bà cụ quàng khăn đen nói oang oang về dầu long não. Một cậu bé bán báo nhét một tờ báo của mình xuống dưới khuỷu tay Rắc-gơn, chỗ nó đang tì lên mặt đường lầy lội. Một chàng trai trẻ nhanh nhẹn cầm sổ tay hỏi tên tuổi mọi người.
Một tiếng chuông leng keng đầy quan trọng, và chiếc xe cứu thương rẽ một lối xuyên qua đám đông. Một bác sĩ phẫu thuật bình thản bước vào giữa sự việc.
"Thấy trong người thế nào, ông bạn già?" vị bác sĩ hỏi, thong thả cúi xuống làm việc của mình. Nàng công chúa lụa là gấm vóc lấy một mảnh khăn thơm mỏng như tơ nhện lau một hai giọt máu đỏ trên trán Rắc-gơn.
"Tôi ấy à?" Rắc-gơn nói, với nụ cười của thiên thần. "Tôi thấy khoẻ re."
Gã đã tìm thấy trái tim của thành phố mới của mình.
Ba ngày sau, người ta cho gã rời giường bệnh, chuyển sang khu dưỡng bệnh của bệnh viện. Gã mới ở đó được một giờ thì mấy người hộ lý nghe thấy tiếng ẩu đả. Chạy tới xem, họ thấy Rắc-gơn đã xông vào đánh, làm bị thương một người bạn cùng khu dưỡng bệnh, một gã khách qua đường mặt mày cau có, bị đưa vào đây để chắp vá lại sau một vụ đâm tàu hàng.
"Chuyện gì thế này?" bà y tá trưởng hỏi.
"Nó dám nói xấu thành phố của tôi," Rắc-gơn nói.
"Thành phố nào?" bà y tá hỏi.
"Niu Dóoc chứ còn đâu," Rắc-gơn đáp.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn