Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Thước đo thành công

của O. Henry

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 12.842 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Hết-xtinh Bi-chăm Mo-li thong thả đi qua Quảng trường…
  2. 2:46Bốn ly rượu làm dịu được ông Bơ-man dễ…
  3. 4:41"Ồ, ồ, ồ!" Mo-li nói. "Đã lớn thế này…
  4. 5:50Bỗng hai chiếc xe điện từ hai hướng ngược…
  5. 7:24Mo-li thong thả bước ra, đứng ở một góc…
  6. 9:30"Tôi không biết, thưa ông," Mo-li nói, khép hờ…
  7. 11:29Một lúc sau, ông già cựa mình, nhìn người…
  8. 12:38"Ồ," Mo-li nói, "điều ông cầu đã thành rồi…

Hết-xtinh Bi-chăm Mo-li thong thả đi qua Quảng trường Liên Hiệp, đưa mắt thương hại nhìn hàng trăm người đang ngồi uể oải trên những chiếc ghế công viên. Một đám người tạp nham, hắn nghĩ. Đàn ông thì mặt mũi đờ đẫn, thú vật, râu ria không cạo. Đàn bà thì cựa quậy, ngượng nghịu, cứ bắt chéo rồi lại gỡ đôi chân đang lơ lửng cách mặt lối đi rải sỏi chừng mười phân.

Nếu tôi là ông Các-nê-ghi hay ông Rốc-phe-lơ, tôi sẽ nhét vài triệu vào túi áo trong, hẹn gặp tất cả các ông uỷ viên công viên (ở quán góc phố cũng được, nếu cần), và thu xếp để mọi công viên trên thế giới đều có những chiếc ghế đủ thấp cho phụ nữ ngồi mà đặt được chân xuống đất. Xong việc đó rồi, tôi mới tính tới chuyện tặng thư viện cho các thị trấn chịu trả tiền, hay xây viện an dưỡng cho mấy ông giáo sư gàn dở rồi gọi chúng là trường đại học, nếu tôi thích.

Các hội đòi quyền phụ nữ đã vất vả bao nhiêu năm để đòi bình đẳng với đàn ông. Kết quả ra sao? Khi ngồi lên ghế đá, họ vẫn phải bắt chéo mắt cá chân, khổ sở đung đưa đôi gót giày kiểu Pháp cao nhất của mình lơ lửng không chạm đất. Hãy bắt đầu từ dưới lên, thưa các bà. Hãy đặt chân xuống đất đã, rồi hẵng vươn lên những lý thuyết về bình đẳng trí tuệ.

Hết-xtinh Bi-chăm Mo-li ăn mặc cẩn thận, gọn gàng. Đó là kết quả của một bản năng có từ dòng dõi và sự giáo dưỡng. Chúng ta không được phép nhìn sâu vào lòng một người hơn lớp hồ bột trên ngực áo sơ-mi của anh ta, nên chỉ còn cách kể lại những nơi anh ta đi và những lời anh ta nói.

Mo-li không có lấy một xu trong túi, nhưng hắn vẫn mỉm cười thương hại với cả trăm kẻ bất hạnh nhem nhuốc cũng chẳng có hơn, và sẽ vẫn chẳng có hơn khi những tia nắng đầu tiên nhuộm vàng toà nhà cao hình con dao rọc giấy ở phía tây quảng trường. Nhưng tới lúc đó Mo-li sẽ có đủ. Hoàng hôn từng thấy túi hắn rỗng không, nhưng bình minh bao giờ cũng thấy túi hắn đầy.

Trước tiên, hắn tới nhà một vị mục sư gần Đại lộ Ma-đi-xơn, đưa ra một lá thư giới thiệu giả mạo, ra vẻ thánh thiện là do một giáo xứ ở In-đi-a-na gửi tới. Lá thư ấy, đi kèm một câu chuyện bịa như thật về món tiền nhà gửi tới chậm, đem về cho hắn năm đô-la.

Trên vỉa hè, cách cửa nhà mục sư hai mươi bước, một người đàn ông béo, mặt tái nhợt, chặn hắn lại bằng một nắm đấm đỏ au giơ lên và cái giọng khàn khàn như phao chuông ngoài biển, đòi trả một món nợ cũ.

"Ơ kìa, ông Bơ-man," Mo-li ngọt ngào ngân nga, "ông đấy à? Tôi đang trên đường tới chỗ ông để thanh toán đây. Món tiền bà dì tôi gửi mới tới sáng nay thôi. Rắc rối là do gửi nhầm địa chỉ. Ta ra góc phố kia, tôi trả sòng phẳng. Gặp ông mừng quá. Đỡ cho tôi một quãng đường."

Bốn ly rượu làm dịu được ông Bơ-man dễ xúc động. Khi trong tay có tiền chống lưng, Mo-li toát ra một phong thái có thể hoãn được cả một khoản vay đòi gấp ở ngân hàng nhà Rốt-sin. Khi không một xu dính túi, ngón lừa của hắn chỉ thấp đi nửa cung, nhưng ít ai đủ tai phân biệt được hai nốt nhạc ấy.

"Mai ông tới chỗ tôi mà trả nhé, ông Mo-li," Bơ-man nói. "Tha lỗi cho tôi vì đã đòi nợ ông ngoài đường. Nhưng ba tháng nay tôi không gặp ông. Nào, cạn ly!"

Mo-li bỏ đi, nụ cười méo xệch trên gương mặt xanh xao nhẵn nhụi. Lão người Đức cả tin, rượu vào là mềm nhũn ấy làm hắn buồn cười. Từ nay hắn sẽ phải tránh phố Hai mươi chín. Hắn đâu có biết Bơ-man lại về nhà bằng lối ấy.

Trước cửa một ngôi nhà tối om cách đó hai dãy phố về phía bắc, Mo-li gõ cửa theo một nhịp đặc biệt. Cánh cửa hé ra vừa bằng độ dài sợi xích, chừng mười lăm phân, và gương mặt đen bóng, vênh vang, ra vẻ quan trọng của người gác cửa chắn ngay khe hở. Mo-li được cho vào.

Trong một căn phòng tầng ba, khói thuốc mù mịt, hắn đứng chúi người trên một bàn quay ru-lét mười phút. Rồi hắn lén xuống cầu thang, được người gác cửa quan trọng tiễn ra nhanh hơn cả hắn muốn, trong túi lủng lẳng bốn mươi xu bạc, số còn lại của năm đô-la vốn liếng. Tới góc phố, hắn nán lại, phân vân.

Bên kia đường là một hiệu thuốc sáng đèn, lấp lánh ánh kim loại trắng và pha lê của quầy nước sô-đa với những chiếc cốc. Một cậu bé năm tuổi đang đi tới, nhắm thẳng hiệu thuốc, bước chân nhấc cao vì tầm quan trọng của một việc lớn, có lẽ là việc mà tuổi tác ngày càng cao của cậu đã giúp cậu được thăng chức để đảm nhận. Trong tay cậu nắm chặt một thứ gì đó, công khai, kiêu hãnh, phô trương.

Mo-li chặn cậu lại bằng nụ cười quyến rũ và giọng nói dịu dàng.

"Cháu á?" cậu bé nói. "Cháu đi hiệu thuốc cho mẹ. Mẹ cho cháu một đô-la mua một chai thuốc."

"Ồ, ồ, ồ!" Mo-li nói. "Đã lớn thế này rồi mà đi làm việc cho mẹ cơ đấy. Chú phải đi cùng chàng trai bé nhỏ của chú để xe điện khỏi cán phải cháu mới được. Đi đường mình sẽ mua sô-cô-la. Hay cháu thích kẹo chanh hơn?"

Mo-li dắt tay cậu bé bước vào hiệu thuốc. Hắn đưa ra tờ đơn thuốc vốn quấn quanh tờ tiền.

Trên mặt hắn là một nụ cười săn mồi, ra vẻ cha chú, khéo léo và thâm sâu.

"Nước tinh khiết, nửa lít," hắn nói với người bán thuốc. "Muối ăn, nửa gam. Hoà thành dung dịch. Mà đừng có định lột da tôi, vì tôi biết rõ trong hồ chứa nước thành phố có bao nhiêu thùng nước, còn cái vị thuốc kia thì tôi vẫn rắc lên khoai tây ăn hằng ngày."

"Mười lăm xu," người bán thuốc nói, nháy mắt sau khi đã pha xong. "Tôi thấy ông rành nghề dược đấy. Giá thường là một đô-la."

"Đó là giá cho bọn khờ," Mo-li mỉm cười nói.

Hắn đặt cái chai đã gói cẩn thận vào tay đứa bé rồi đưa cậu ra tới góc phố. Tám mươi lăm xu thu được nhờ kiến thức hoá học của mình, hắn bỏ vào túi riêng.

"Coi chừng xe điện nhé, con trai," hắn vui vẻ dặn nạn nhân bé nhỏ của mình.

Bỗng hai chiếc xe điện từ hai hướng ngược nhau lao vụt tới cậu bé. Mo-li phóng vào giữa, túm cổ người đưa tin tí hon kéo lại, giữ cậu an toàn. Rồi tới góc phố nhà cậu bé, hắn tiễn cậu đi tiếp, bị lừa, sung sướng, và nhớp nháp thứ kẹo rẻ tiền tồi tệ mua ở sạp hoa quả của một ông người Ý.

Mo-li vào một nhà hàng, gọi một miếng thăn bò và nửa lít vang đỏ rẻ tiền. Hắn cười không thành tiếng, nhưng cười thật lòng đến mức người phục vụ đánh bạo đoán rằng hẳn ông vừa nhận được tin vui.

"Ồ, không," Mo-li nói, hắn vốn hiếm khi trò chuyện với ai. "Không phải thế. Có chuyện khác làm tôi buồn cười. Anh có biết ba hạng người nào dễ bị lừa nhất trong mọi kiểu giao dịch không?"

"Chắc chắn rồi," người phục vụ nói, vừa nói vừa ước lượng món tiền boa mà cái nút cà-vạt thắt cẩn thận của Mo-li hứa hẹn. "Có mấy ông đi mua vải cho các cửa hàng miền Nam vào tháng tám, có mấy cặp đi trăng mật từ đảo Xtê-tơn, rồi..."

"Sai!" Mo-li nói, cười khùng khục khoái chí. "Câu trả lời chỉ là: đàn ông, đàn bà và trẻ con. Thế giới này, mà thôi, cứ nói là New York và xa tới chỗ khách nghỉ hè ở Lông Ai-len bơi ra được, đầy rẫy bọn non nớt. Để miếng thịt này trên vỉ nướng thêm hai phút nữa thì một quý ông mới ăn nổi đấy, Phrăng-xoa."

"Nếu ông thấy nó dở," người phục vụ nói, "thì tui..."

Mo-li giơ tay phản đối, một sự phản đối mang chút vẻ tử vì đạo.

"Được rồi," hắn nói, rộng lượng. "Giờ cho tôi một ly rượu mùi xanh ướp đá và một tách cà phê nhỏ."

Mo-li thong thả bước ra, đứng ở một góc phố nơi hai huyết mạch buôn bán của thành phố giao nhau. Với một đồng mười xu đơn độc trong túi, hắn đứng trên mép vỉa hè, đưa đôi mắt tự tin, giễu cợt, tươi cười nhìn dòng người chảy qua trước mặt. Vào dòng nước ấy hắn phải quăng lưới và kéo cá lên để nuôi thân và lo những nhu cầu sắp tới. Ngay cả ông I-dắc Oan-tơn, bậc thầy câu cá, cũng không có được một nửa sự tự tin và hiểu biết về mồi câu của hắn.

Một nhóm bốn người vui vẻ, hai bà hai ông, reo lên mừng rỡ ùa tới hắn. Đang có một bữa tiệc tối. Nửa tháng nay anh trốn đi đâu thế? Gặp anh thế này thật là may! Họ vây quanh, nhấn chìm hắn. Anh phải nhập bọn với chúng tôi, tra la la, vân vân.

Một bà cắm chiếc lông chim trắng cong vút xuống tận vai chạm vào tay áo hắn, đưa mắt nhìn những người kia với vẻ đắc thắng như muốn nói: "Thấy tôi sai bảo được anh ấy chưa?", rồi thêm vào lời mời một mệnh lệnh của bậc nữ hoàng.

"Tôi xin để các vị tự hình dung," Mo-li nói, giọng thống thiết, "tôi đau lòng biết bao khi phải từ chối niềm vui này. Nhưng anh bạn Ca-rơ-thơ của tôi, ở Câu lạc bộ Du thuyền New York, sẽ tới đón tôi ở đây bằng xe hơi lúc tám giờ."

Chiếc lông chim trắng hất lên, và bộ tứ nhảy nhót như lũ muỗi quanh ngọn đèn hồ quang, đi xuôi con đường ăn chơi.

Mo-li đứng đó, mân mê mãi đồng mười xu trong túi, cười khoái trá một mình. "Vẻ ngoài," hắn lẩm nhẩm, "vẻ ngoài là làm được tất. Nó là con át chủ bài. Bọn chúng nuốt trọn mới hay chứ! Đàn ông, đàn bà và trẻ con, thư giả, những lời nói dối bằng nước với muối, cả bọn đều nuốt trọn!"

Một ông lão mặc bộ quần áo không vừa người, chòm râu xám lơ thơ, cầm chiếc ô to tướng, nhảy từ đám lộn xộn xe ngựa thuê và xe điện lên vỉa hè cạnh Mo-li.

"Này anh ơi," ông nói, "xin lỗi đã làm phiền anh, nhưng anh có biết ai ở cái thành phố này tên là Xô-lô-mông Xmơ-thơ không? Nó là con trai tôi, tôi từ En-lơn-vin xuống thăm nó. Khỉ thật, chẳng biết tôi đã để đâu mất cái tên phố với số nhà của nó."

"Tôi không biết, thưa ông," Mo-li nói, khép hờ mắt để che niềm vui trong đó. "Ông nên hỏi cảnh sát thì hơn."

"Cảnh sát!" ông lão nói. "Tôi có làm gì đâu mà phải gọi tới cảnh sát. Tôi chỉ xuống thăm thằng Xôn thôi. Nó viết thư bảo nó sống trong một ngôi nhà năm tầng. Nếu anh biết ai tên như thế và có thể..."

"Tôi đã bảo là tôi không biết," Mo-li lạnh lùng nói. "Tôi không quen ai tên Xmi-thơ cả, và tôi khuyên ông nên..."

"Xmơ-thơ, không phải Xmi-thơ," ông lão chen vào, đầy hy vọng. "Một người to béo, nước da hung hung, chừng hai mươi chín tuổi, mất hai cái răng cửa, cao chừng một mét..."

"À, 'Xmơ-thơ'!" Mo-li kêu lên. "Xôn Xmơ-thơ hả? Ơ, anh ấy sống ngay nhà bên cạnh nhà tôi. Tôi cứ tưởng ông nói 'Xmi-thơ'."

Mo-li nhìn đồng hồ. Bạn phải có đồng hồ. Một đô-la là có. Thà nhịn đói còn hơn thiếu một chiếc vỏ thép xám, hay chiếc chín mươi tám xu mà theo các nhà làm đồng hồ thì ngành đường sắt vận hành theo nó.

"Ngài giám mục Lông Ai-len," Mo-li nói, "hẹn gặp tôi ở đây lúc tám giờ để cùng ăn tối ở Câu lạc bộ Bói Cá. Nhưng tôi không thể để bố của anh bạn Xôn Xmơ-thơ đứng một mình ngoài phố được. Có thánh Xuy-thin làm chứng, ông Xmơ-thơ ạ, dân phố Uôn chúng tôi phải làm việc vất vả lắm! Mệt không thể tả được! Lúc ông tới hỏi tôi, tôi đang định sang góc phố bên kia làm một cốc nước gừng pha chút rượu nho. Ông phải để tôi đưa ông tới nhà Xôn, ông Xmơ-thơ ạ. Nhưng trước khi lên xe điện, tôi mong ông nhận lời cùng tôi..."

Một giờ sau, Mo-li ngồi ở đầu một chiếc ghế đá yên tĩnh trong Quảng trường Ma-đi-xơn, môi ngậm điếu xì-gà hai mươi lăm xu, túi áo trong có một trăm bốn mươi đô-la tiền giấy gấp nếp sâu hoắm. Mãn nguyện, nhẹ nhõm, mỉa mai, đầy triết lý sắc sảo, hắn ngắm vầng trăng trôi ra trôi vào giữa một mê cung mây bay. Một ông già rách rưới, đầu cúi gục, ngồi ở đầu ghế bên kia.

Một lúc sau, ông già cựa mình, nhìn người ngồi chung ghế. Ở dáng vẻ của Mo-li, ông dường như nhận ra điều gì đó hơn hẳn những kẻ thường ngồi ghế công viên ban đêm.

"Thưa ông tốt bụng," ông rên rỉ, "nếu ông có thể bớt cho một đồng mười xu, hay thậm chí vài xu lẻ, cho một người đã..."

Mo-li cắt ngang lời van xin rập khuôn ấy bằng cách ném cho ông một đô-la.

"Cầu Chúa ban phước cho ông!" ông già nói. "Tôi đã cố tìm việc làm suốt..."

"Việc làm!" Mo-li nhắc lại, cười vang. "Ông là đồ ngốc, ông bạn ạ. Thế giới này đối với ông là một tảng đá, chắc vậy. Nhưng ông phải là A-ron, cầm gậy mà đập vào nó. Rồi những thứ còn hơn cả nước sẽ phun ra cho ông. Thế giới sinh ra là để làm thế. Tôi muốn gì ở nó, nó cũng cho tôi."

"Chúa đã ban phước cho ông," ông già nói. "Còn tôi thì chỉ biết có làm việc. Mà giờ tôi chẳng kiếm đâu ra việc nữa."

"Tôi phải về nhà đây," Mo-li nói, đứng dậy cài khuy áo khoác. "Tôi chỉ dừng ở đây hút điếu thuốc thôi. Mong ông tìm được việc."

"Cầu cho lòng tốt của ông được đền đáp ngay đêm nay," ông già nói.

"Ồ," Mo-li nói, "điều ông cầu đã thành rồi đấy. Tôi mãn nguyện rồi. Tôi nghĩ may mắn bám theo tôi như con chó. Đêm nay tôi ngủ ở khách sạn sáng đèn bên kia quảng trường. Mà trăng đêm nay soi sáng thành phố đẹp làm sao. Tôi nghĩ chẳng ai biết thưởng thức ánh trăng và những điều nhỏ nhặt như thế bằng tôi. Thôi, chúc ông ngủ ngon."

Mo-li đi tới góc phố, nơi hắn sẽ băng qua đường về khách sạn. Hắn thổi những luồng khói xì-gà chậm rãi lên trời. Một viên cảnh sát đi ngang chào đáp lại cái gật đầu nhân từ của hắn. Trăng mới đẹp làm sao.

Đồng hồ điểm chín giờ khi một cô gái vừa bước vào tuổi xuân dừng lại ở góc phố, chờ chiếc xe điện đang tới. Cô có vẻ vội, như vừa đi làm về hay vừa bị việc gì giữ lại. Đôi mắt cô trong trẻo và thuần khiết, cô mặc chiếc áo trắng giản dị, háo hức trông xe tới, không nhìn sang phải cũng chẳng nhìn sang trái.

Mo-li biết cô. Tám năm trước, hắn từng ngồi cùng bàn với cô ở trường. Giữa họ không có chút tình cảm lãng mạn nào, chỉ có tình bạn của những ngày ngây thơ.

Nhưng hắn rẽ vào con phố bên, tới một chỗ vắng, áp gương mặt bỗng nóng bừng của mình vào thân sắt lạnh của cột đèn, và nói, giọng đờ đẫn:

"Trời ơi! Giá mà mình chết đi được."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Assessor of Success, O. Henry, in trong tuyển tập The Trimmed Lamp
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →