Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Hồi 38: Quán Bạch Phượng

Tiêu Sơn tráng sĩ · Chương 38/49 · của Khái Hưng

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 9.350 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Đã mấy hôm nay trong khắp các phố Bắc…
  2. 1:34Khâm thử
  3. 2:38mà tôi còn bỏ không thi, nữa là năm…
  4. 3:44sủa đứng ở hè phố dương mắt nhìn và…
  5. 4:54Các thầy không ngại, để ở đâu rồi em…
  6. 6:20Phải biết! Ai bảo trêu vào lính nà vua!…
  7. 7:53để xem cuộc xung đột dữ dội đến bậc…
  8. 9:07Thưa anh, anh bảo gì em?

Chương 38: Hồi 38: Quán Bạch Phượng

Đã mấy hôm nay trong khắp các phố Bắc thành bày ra một cảnh rất náo nhiệt.

Vì kỳ thi tuyển cống sinh sắp sửa bắt đầu nên hàng nghìn sĩ tử Bắc Hà vác lều

chiếu từ các trấn xa gần kéo nhau về, lăm le tên chiếm bảng vàng rồng mây gặp

hội.

Ở các cửa ô, từng bọn thí sinh áo lương khăn nhiễu, đầu đội nón sơn, chân dận

dép da trâu, xúm xít đọc tờ chiếu chỉ dán trên thành tường. Tờ chiếu ấy viết bằng

chữ nôm như sau này:

Sự kén chọn nhân tài rất có quan hệ đến sự thịnh hưng của một nước.

Từ khi Trẫm lên nối ngôi trời trị dân, không một lúc nào Trẫm sao nhãng điều

ấy. Trẫm mong mỏi tìm bậc hiền sĩ giúp nước như người làm ruộng mong mỏi trời

mưa giữa thời hạn hán.

Vì thế theo gương Tiên đế, nay Trẫm mở kỳ thi cống sĩ để các sĩ tử trong nước

có dịp cùng nhau thi thố tài năng.

Trẫm lại nghĩ một nơi đế đô không đủ chỗ cho sĩ tử khắp nước đến hội họp.

Vả những kẻ ngoài Bắc hà phải lặn lội vào kinh đô, e đường xá xa xôi, nhất là đối

với những người nghèo khó, phải lo kiếm tiền lộ phí để đi thi.

Bởi những lẽ trên, Trẫm đặt kỳ thi cống sĩ ở ba nơi, một là kinh đô, một là

Quy Nhơn, một là Bắc thành. Như thế người hạt nào được thi ở hạt nấy, thực là

giản tiện. Rồi kẻ nào đậu cống sĩ sang năm vào Kinh đô dự kỳ thi bác sĩ.

Ở trường thi Bắc thành việc kén chọn nhân tài, Trẫm giao cho đại tư đồ

Nguyễn Văn Danh cùng với Thị Trung Ngự Sử Ngô Thì Nhậm được tuỳ nghi.

Khâm thử

Niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ sáu.

Bên cạnh tờ chiếu chỉ lại có một tờ yết thị cũng bằng chữ nôm của hội đồng

chấm thi như dưới:

Thừa lệnh Hoàng đế, quan chánh chủ khảo yết thị cho các thi sinh biết rằng:

Có ba kỳ thi:

Kỳ đệ nhất: một bài giải nghĩa cùng bàn luận một câu tục ngữ hay ca dao viết

bằng chữ nôm.

Kỳ đệ nhị: một bài luận Nam sử cũng bằng chữ nôm.

Kỳ đệ tam: một bài thơ chữ nôm, hoặc chữ Hán, một bài phú chữ nôm hoặc

chữ Hán.

Đúng giờ Dần, các thí sinh đã phải có mặt ở trường thi, ai nấy phải mang

theo lều chiếu cùng là bút mực giấy vở.

Kẻ nào gian trá sẽ bị tội nặng.

Nay yết thị

Quan chánh chủ khảo:

Ngô Thị Trung Ngự sử đại thần

Ở cửa ô Ưu nghĩa, khi đọc xong tờ chiếu chỉ và tờ yết thị, một bọn học trò đủ

các tuổi, từ mười tám đến ngoài năm mươi, đưa mắt nhìn nhau tỏ vẻ hoặc kinh

ngạc, hoặc chế riễu. Một người đã đứng tuổi nói:

— Năm xưa, đức Tiên đế mở khoa thi. Tôi phải lặn lội vào tận Phú Xuân, thế

mà tôi còn bỏ không thi, nữa là năm nay ở ngay Bắc thành.

Một thầy khoá đùa bỡn hỏi:

— Sao vậy?

— Tôi học đạo thánh hiền, dầy công đèn sách, nấu sử sôi kinh, lại thèm làm

những bài nôm na mách qué hay sao?

Dứt lời ông đồ vứt giấy bút xuống đất, giận dữ quay đi thẳng, khiến mọi

người phá lên cười.

Rồi họ xôn xao bàn tán. Kẻ phàn nàn chưa học Nam Sử, kẻ lo ngại quên mặt

chữ Nôm. Lại có kẻ hỏi:

— Không biết làm phú nôm thì làm sao?

Một người đáp:

— Khó gì! lại hàng sách mua lấy một quyển phú nôm, văn sách nôm của cụ Lê

Quý Đôn mà xem. Nhân tiện học lại chữ nôm một thể.

Một người nữa mỉa mai:

— Thi với cử! Chán ngắt! Văn nôm thì là phải nặng mùi, tờ yết thị dán ở cửa ô

Ưu Nghĩa, phố hàng Mắm thực là đắc nghi.

Một thí sinh có tuổi vừa nhìn trước nhìn sau, vừa bảo người kia:

— Liệu giữ mồm miệng!

Rồi, từng tốp kéo đi các ngả.

Một bọn năm người rủ nhau ra chơi đền Ngọc Sơn. Nhưng vừa qua cầu Sầm

Công và rẽ sang phố hàng Bạc, các thầy khoá gặp một thiếu nữ gương mặt sáng

sủa đứng ở hè phố dương mắt nhìn và mủm mỉm cười tình. Một người trong bọn

bảo anh em:

— Nghe nói con gái, Bắc thành ghê gớm lắm kia đấy! Chớ có trêu vào. Nên

lảng xa ra là thượng sách.

Nhưng người thiếu nữ nào có để cho các thầy lảng xa! Nàng tiến đến gần hỏi:

— Thưa các thầy, em coi như các thầy đương đi tìm nhà trọ?

— Có thế. Chừng cô là chủ hàng cơm?

— Thưa các thầy không. Em người Kinh Bắc, nhân gặp kỳ thi, về đây bán hàng

trầu nước.

Một thí sinh trẻ tuổi đã bạo, phá lên cười ha hả:

— Chừng để kén chồng, để tuyển phu?

— Thưa không ạ, em chỉ bán hàng để kiếm ăn. Em nghèo lắm, thuê một gian

xép ở tửu quán kia. Chủ tửu quán bảo hễ em đón được năm người khách trọ thì họ

cho em ở nhờ không lấy tiền thuê. Vì thế em gặp năm thầy em mừng quá. Vậy xin

năm thầy thương em nghèo mà đến đấy ở trọ giùm.

— Đấy là đâu?

— Thưa năm thầy, quán Bạch Phượng ở phố Cầu Gỗ.

Năm người đưa mắt nhìn nhau. Rồi người trẻ tuổi nói:

— Được, cô cứ về trước đi Lát nữa chúng tôi đến.

— Tiện đường, em xin đưa các thầy về một thể.

— Nhưng lều, chiếu, tráp, nải, chúng tôi gửi cả đàng kia.

— Các thầy không ngại, để ở đâu rồi em xin đến lấy sau.

Chẳng đừng được, năm thầy khoá phải theo cô kia rẽ sang phố hàng Đào rồi

đến phố Cầu Gỗ.

Tửu quán Bạch Phượng dựng ngay cạnh cái lạch nhỏ thông liền hồ Hoàn

Kiếm với cái hồ nhỏ hàng Bạc. Trên lạch cái cầu gỗ bắt ngang, (vì thế mà người ta

đặt tên là Cầu gỗ). Đó là một nếp nhà gạch khá rộng, có gác, tuy gác ấy thấp và

không có cửa sổ trông ra phía đường, chỉ giống như cái mái chồng của một kiểu

nhà hai mái, dốc xây thành bậc.

Tửu quán ấy nguyên trước là nhà một người buôn lợn, khá giàu. Một hôm vợ

lẽ chủ nhân đứng cửa ngắm phố. Bỗng hai viên vệ binh qua đó thấy nàng có chút

nhan sắc, bèn thả lời trêu ghẹo. Cô vợ lẽ vốn người quê trấn Hải Dương mới theo

chồng đến ở Bắc thành, nên chưa rõ oai oác các ông vệ binh xứ Nghệ. Nàng giở

hết giọng chua ngoa tục bẩn ra đáp lại lời ngọt ngào của hai thầy vệ. Người chồng

nghe tiếng ầm ĩ ở cửa chạy ra, thấy hai ông lính thì giật mình kinh hãi, nhưng đã

quá muộn rồi. Chiều hôm ấy, gần một trăm vệ binh kéo đến nhà người buôn lợn

phá phách, bắt hết lợn làm thịt. May mà vợ chồng con cái chủ nhà biết trước đã đi

trốn tránh. Rồi sau họ dọn luôn đi ở nơi khác.

Nhưng nào bọn vệ binh đã thôi đâu. Chiều chiều họ còn kéo nhau đi lượn qua

cái nhà bỏ hoang để thị uy. Kẻ cười khoái chí, kẻ thét bô bô:

— Đã biết tay chúng ông chưa?

Một người khác lại tiếp:

— Phải biết! Ai bảo trêu vào lính nà vua! Trêu vào lính quan tổng trấn!

Hôm đầu cũng có người láng giềng thương tình ra xin các thầy vệ cho gia đình

bác buôn lợn. Nhưng người khéo hứng việc ấy bị một quả đấm nên thân. Từ đó

không ai dám hé môi nói nửa lời, mặc cho nếp nhà kia bị khóa trái không người ở.

Vì ai dại mà đến thuê một cái nhà nguy hiểm như thế, nhất là khắp phố Cầu gỗ đều

đã nghe rõ lời dọa nạt của các ông mãnh, lính hầu quan tổng trấn:

"Đứa nào có giỏi cứ đến đây mà ở!"

Hai tháng ròng, nhà người buôn lợn vẫn đóng cửa im ỉm. Bỗng một hôm có

người khách lạ đến thuê. Hai bên hàng phố khúc khích cười khi nghe người ấy hỏi

thăm xem chủ nhà ở đâu. Họ thi nhau thuật lại những truyện chẳng lành đã xảy ra,

rồi khuyên người kia chớ nên trêu vào lính quan trấn thủ. Nhưng người khách lạ

không tỏ vẻ mặt cảm động mảy may, hỏi đi hỏi lại chỗ ở của chủ nhà để đến thuê,

và nói nếu chủ nhà bán rẻ thì mua dứt.

Thấy vậy một người láng giềng nguyên có họ với bác buôn lợn mừng rỡ, đứng

ra nhận bán cho người khách lạ lấy nghìn quan tiền, rồi làm văn tự liền lấy chữ ký

của chủ nhà. Người khách chừng là một tay đại phú, vì trả ngay một lúc năm mươi

nén bạc, mà cũng chẳng cần phải có hộ trưởng ký nhận cùng áp triện.

Ngay mấy hôm sau nhà người buôn lợn đã trở nên một hàng cơm, ngoài cửa

treo một giải cờ dài nhuộm đỏ có viết bốn chữ lớn "Bạch Phượng tửu quán".

Từ hôm khánh thành tửu quán, suốt phố người nào cũng ngó tới cái nhà ghê

gớm kia, mà bọn lính quan tổng trấn đã ra lệnh không cho ai được phép ở. Ngó tới

để xem cuộc xung đột dữ dội đến bậc nào.

Quả nhiên cách đó vài ngày, năm người vệ binh đi qua phố Cầu gỗ. Thấy cái

nhà bị cấm đã nghiễm nhiên trở nên một tửu quán, họ thì thầm bảo nhau:

— Thằng cha nào mà già gan thế?

— Ta thử vào xem sao.

Năm cậu vệ vừa bước chân qua ngưỡng cửa thì chủ quán ở trong nhà đã bước

vội ra chắp tay lễ phép chào, rồi vồn vã hỏi:

— Thưa các thầy, có phải các thầy là vệ binh trong dinh quan tổng trấn không?

Một người lính xừng xộ đáp:

— Phải, anh muốn nói vệ binh của quan tổng trấn điều gì?

Chủ quán lại vái dài một cái nữa, rồi mừng rỡ cuống quít:

— Ồ, thế thì may cho chúng tôi quá, chúng tôi đương sắp sửa vào trong dinh

mời các thầy ra chứng kiến cho bữa tiệc khánh thành tửu quán, thì các thầy lại quá

bộ đến thăm. Thực là hân hạnh cho chúng tôi quá. Chúng tôi chẳng nói giấu gì các

thầy, trước kia chúng tôi là vệ binh trong hai năm ở dinh quan trấn thủ Lạng Sơn.

Chỗ đồng nghiệp...

Rồi trong khi mấy người lính còn ngơ ngác nhìn nhau chưa biết xử trí ra sao,

thì chủ quán đã cất tiếng gọi:

— Em Hai!

Có tiếng dạ trong trẻo, rồi một người con gái rất xinh xắn, nhanh nhẹn, y phục

gọn ghẽ, từ nhà trong chạy vội ra.

— Thưa anh, anh bảo gì em?

Mấy cậu vệ trố mắt nhìn, tấm tắc khen thầm.

— Có các thầy cai ở trong dinh quan tổng trấn ra chơi, vậy em sắp rượu mời các

thầy xơi.

Dứt lời, chủ quán chạy xuống bếp bảo làm nhắm, để một mình cô em gái đứng

tiếp chuyện với các cậu vệ. Giữ thể diện với một cô thiếu nữ cực kỳ xinh đẹp, các

cậu cảm tạ và nhất định từ chối không nhận lời dự tiệc một cách quá đường đột.

Nhưng các cậu làm thân ngay với chủ quán, người đã được diễm phúc có một cô

em gái rất dễ thương. Và chẳng bao lâu, hết thẩy bọn vệ binh trong dinh quan tổng

trấn, từ đội, cai cho đến lính, không còn ai thèm nhớ đến câu chuyện phá phách và

thù oán nữa.

Thế là Bạch Phượng tửu quán bắt đầu vào thời kỳ thịnh đạt ngay. Nay gặp kỳ

thi cống sĩ, khách trọ đến càng đông, đông như trong động Hương Tích gặp ngày

chảy hội vậy.

— Hết chương 38 —

Mục lục Tiêu Sơn tráng sĩ

  1. 1Hồi 1: Người khách lạ14 phút
  2. 2Hồi 2: Bến Lo12 phút
  3. 3Hồi 3: Sư ông10 phút
  4. 4Hồi 4: Tiêu Sơn kết nghĩa12 phút
  5. 5Hồi 5: Trên lầu Tiêu Lĩnh19 phút
  6. 6Hồi 6: Quan quân11 phút
  7. 7Hồi 7: Bà hoàng phi họ Nguyễn9 phút
  8. 8Hồi 8: Cửa Bắc10 phút
  9. 9Hồi 9: Trong rừng Đình Bảng13 phút
  10. 10Hồi 10: Chín và sống12 phút
  11. 11Hồi 11: Cái võng thịt9 phút
  12. 12Hồi 12: Tờ phả khuyến13 phút
  13. 13Hồi 13: Quần sư tụ hội11 phút
  14. 14Hồi 14: Cái trống lớn10 phút
  15. 15Hồi 15: Ai lên xứ Lạng cùng anh9 phút
  16. 16Hồi 16: Sông nước6 phút
  17. 17Hồi 17: Một nhà ẩn sĩ11 phút
  18. 18Hồi 18: Sấm12 phút
  19. 19Hồi 19: Đả lôi đài9 phút
  20. 20Hồi 20: Vua Chiêu Thống12 phút
  21. 21Hồi 21: Thanh Xuyên hầu5 phút
  22. 22Hồi 22: Tâm sự7 phút
  23. 23Hồi 23: Cái cũi người7 phút
  24. 24Hồi 24: Nguyễn công tử8 phút
  25. 25Hồi 25: Tướng ấy là ai?8 phút
  26. 26Hồi 26: Mưu mô8 phút
  27. 27Hồi 27: Bại lộ3 phút
  28. 28Hồi 28: Đường hầm7 phút
  29. 29Hồi 29: Ma hiện hồn14 phút
  30. 30Hồi 30: Việc lớn7 phút
  31. 31Hồi 31: Chùa Non Nước9 phút
  32. 32Hồi 32: Bi ai7 phút
  33. 33Hồi 33: Kiến Xuyên hầu8 phút
  34. 34Hồi 34: Long Cơ7 phút
  35. 35Hồi 35: Thử tài8 phút
  36. 36Hồi 36: Rượu tiễn chưa tàn7 phút
  37. 37Hồi 37: Cảnh điêu tàn9 phút
  38. 38Hồi 38: Quán Bạch Phượng10 phút
  39. 39Hồi 39: Cô hàng trầu nước10 phút
  40. 40Hồi 40: Chủ quán6 phút
  41. 41Hồi 41: Hành hình8 phút
  42. 42Hồi 42: Thầy tướng số8 phút
  43. 43Hồi 43: Tìm bạn đồng chí8 phút
  44. 44Hồi 44: Sơ kính tân trang6 phút
  45. 45Hồi 45: Quyển phóng10 phút
  46. 46Hồi 46: Kén rể16 phút
  47. 47Hồi 47: Nói chuyện văn chương5 phút
  48. 48Hồi 48: Khóc Trương Quỳnh Như2 phút
  49. 49Hồi 49: Trên đường thiên lý5 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKhái Hưng (1896 – 1947)
Năm mất1947
Xuất bản lần đầu1937
Tình trạngHết thời hạn bảo hộ quyền tài sản tại Việt Nam từ 01/01/1998
Nguồn văn bảnBản đánh máy công khai (ebook downloadsachmienphi.com qua metaisach.com) đối chiếu từng chữ với truyenfull
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →