Ngày xưa, có tám nghìn con voi chúa sống gần hồ Sáu Ngà trên dãy núi Tuyết. Chúng có phép thần thông, có thể bay đi giữa không trung.
Thuở ấy, đức Bồ Tát đầu thai làm con trai của con voi đứng đầu đàn. Voi trắng muốt, chỉ có bốn chân và khuôn mặt là màu đỏ. Lớn lên, voi cao tám mươi tám khuỷu tay, dài một trăm hai mươi khuỷu tay. Chiếc vòi như một sợi dây bằng bạc, dài năm mươi tám khuỷu tay. Đôi ngà to mười lăm khuỷu tay một vòng, dài ba mươi khuỷu tay, toả ra ánh sáng sáu màu. Voi là chúa của một đàn tám nghìn con, và thường kính cẩn cúng dường các vị Phật Độc Giác. Voi có hai bà vợ chính là Tiểu Thiện Hiền và Đại Thiện Hiền. Voi chúa cùng đàn tám nghìn con sống trong một hang vàng.
Hồ Sáu Ngà dài năm mươi dặm, rộng năm mươi dặm. Giữa hồ, trong một khoảng rộng mười hai dặm, không có rong rêu, nước trong như một viên ngọc thần. Bao quanh khoảng nước ấy là một vành hoa súng trắng tinh rộng một dặm. Tiếp đó là một vành sen xanh rộng một dặm. Rồi tới những vành sen trắng, sen đỏ, súng đỏ, súng trắng, súng ăn được, mỗi vành rộng một dặm, vành sau bao lấy vành trước. Ngoài bảy vành hoa ấy là một vành súng trắng và các loại súng khác. Rồi ở chỗ nước sâu vừa tới chỗ voi đứng được là một vành lúa đỏ. Rồi tới một lùm cây bụi nhỏ, đầy những bông hoa thơm ngát, xanh, vàng, đỏ, trắng.
Ngoài ra còn có một vùng đậu đủ loại, một vùng dây leo bìm bìm, dưa chuột, bí ngô, bầu và nhiều thứ dây leo khác, một rừng mía cao bằng cây cau, một rừng chuối quả to bằng ngà voi, một cánh đồng lúa, một rừng mít quả to bằng cái vò nước, một rừng me quả ngọt lịm, một rừng cây táo voi, một khu rừng lớn đủ mọi loài cây, và một rừng tre.
Bao quanh rừng tre là bảy ngọn núi. Kể từ ngoài vào, đầu tiên là núi Tiểu Hắc, rồi núi Đại Hắc, núi Nước, núi Trăng, núi Mặt Trời, núi Ngọc, và trong cùng là núi Vàng. Núi Vàng cao bảy dặm, vây quanh hồ Sáu Ngà như vành một cái bát. Sườn núi phía trong mang màu vàng óng. Nhờ ánh sáng toả ra từ núi, hồ Sáu Ngà sáng rực như mặt trời vừa mọc.
Ở góc đông bắc của hồ, chỗ gió thổi lướt trên mặt nước, có một cây đa lớn. Thân cây năm dặm một vòng, cao bảy dặm. Bốn cành vươn ra bốn phía, mỗi cành dài sáu dặm, cành vươn thẳng lên trời cũng cao sáu dặm. Cây có tám nghìn rễ phụ, đứng sừng sững, đẹp đẽ vô cùng.
Còn ở phía tây hồ, trong núi Vàng, có một cái hang vàng rộng mười hai dặm. Mùa mưa, voi chúa Sáu Ngà cùng đàn tám nghìn con sống trong hang vàng. Mùa nắng, voi đứng dưới gốc cây đa lớn, giữa những chùm rễ, đón làn gió mát từ mặt hồ thổi vào.
Một hôm, đàn voi tới báo với voi chúa:
— Rừng sa-la lớn đang trổ hoa.
Thế là voi chúa dẫn cả đàn tới rừng sa-la vui chơi. Tới nơi, voi chúa lấy đầu húc vào một cây sa-la đang nở hoa rộ. Lúc ấy, Tiểu Thiện Hiền đứng ở phía đầu gió, thế là cành khô, lá úa và kiến đỏ rơi xuống khắp mình nàng. Còn Đại Thiện Hiền đứng ở phía cuối gió, nên hoa, phấn hoa, cuống hoa và lá xanh rơi xuống mình nàng.
Tiểu Thiện Hiền nghĩ: "Người vợ được chàng yêu thì chàng cho rơi xuống hoa, phấn hoa, cuống hoa tươi và lá xanh. Còn trên mình ta thì chàng cho rơi xuống toàn cành khô, lá úa và kiến đỏ. Được, rồi ta sẽ biết phải làm gì!" Từ đó, nàng mang lòng hờn giận bậc Đại Sĩ.
Một hôm khác, voi chúa cùng đàn xuống hồ Sáu Ngà tắm. Hai chú voi non lấy vòi cuộn những bó rễ cỏ thơm, kỳ cọ cho voi chúa như kỳ cọ một ngọn núi. Voi chúa tắm xong lên bờ, chúng lại tắm cho hai bà voi chúa, rồi hai bà cũng lên bờ, đứng trước mặt bậc Đại Sĩ. Tiếp đó, tám nghìn con voi xuống hồ vui đùa dưới nước, hái đủ thứ hoa trong hồ, kết lên mình bậc Đại Sĩ như trang hoàng một ngôi tháp bạc, rồi kết hoa lên mình hai bà voi chúa.
Bấy giờ, có một con voi bơi khắp hồ, hái được một bông sen lớn có bảy nhánh, mang tới dâng bậc Đại Sĩ. Voi chúa cầm lấy bằng vòi, rắc phấn hoa lên trán mình, rồi tặng bông hoa cho bà voi cả Đại Thiện Hiền. Thấy vậy, người vợ kia nói:
— Bông sen bảy nhánh này, chàng cũng đem tặng bà vợ chàng yêu, mà chẳng tặng ta.
Thế là nàng lại thêm một lần hờn giận voi chúa.
Rồi một hôm, đức Bồ Tát lấy mật hoa trộn với trái cây ngon, củ sen, ngó sen, đem cúng dường năm trăm vị Phật Độc Giác. Tiểu Thiện Hiền cũng dâng những trái cây rừng nàng hái được lên các vị Phật Độc Giác, rồi khấn nguyện:
— Mai sau, khi rời bỏ kiếp này, xin cho con được sinh làm nàng công chúa Thiện Hiền trong hoàng tộc vua xứ Mát-đa. Khi tới tuổi, xin cho con được làm hoàng hậu của vua Ba-la-nại. Khi ấy con sẽ được nhà vua yêu quý, muốn làm gì cũng được. Con sẽ xin nhà vua sai một người thợ săn mang tên tẩm thuốc độc tới bắn chết con voi này. Như thế, con sẽ được người ta mang về cho cặp ngà toả ánh sáng sáu màu của nó.
Từ đó, nàng nhịn ăn, chẳng bao lâu thì héo mòn mà chết. Nàng sinh làm con của hoàng hậu xứ Mát-đa, được đặt tên là Thiện Hiền. Tới tuổi, người ta gả nàng cho vua Ba-la-nại. Nàng được nhà vua yêu quý hết mực, đứng đầu mười sáu nghìn bà vợ của vua. Nàng nhớ lại được những kiếp trước, nghĩ thầm: "Lời ta khấn nguyện đã thành. Giờ ta sẽ sai người mang cặp ngà của con voi ấy về đây."
Rồi nàng xoa lên mình thứ dầu tầm thường, mặc một bộ áo bẩn, nằm trên giường giả vờ ốm. Vua hỏi:
— Thiện Hiền đâu?
Nghe nói nàng ốm, vua vào phòng riêng, ngồi xuống giường, vuốt lưng nàng mà hỏi:
— Hỡi hoàng hậu mắt to tuyệt sắc của ta, sao nàng xanh xao, buồn rầu, héo hon như vòng hoa bị giẫm dưới chân thế này?
Nghe vậy, nàng đáp:
— Hình như trong một giấc mơ, thiếp khao khát một điều. Mong ước ấy không thành, nên thiếp buồn.
Vua nói:
— Mọi niềm vui mà người trần trong cõi đời này có thể ước mong, dù là gì, ta cũng ban được cả. Hãy nói cho ta biết nàng muốn gì.
Hoàng hậu đáp:
— Tâu đại vương, điều thiếp mong khó lòng mà có được. Bây giờ thiếp chưa nói ra đâu. Thiếp muốn tất cả thợ săn trong vương quốc của đại vương tụ hội về đây. Bấy giờ, giữa họ, thiếp sẽ nói ra.
Vua bằng lòng. Ra khỏi phòng, vua truyền cho các quan:
— Hãy đánh trống rao khắp nơi, tất cả thợ săn trong vương quốc Ca-thi rộng ba trăm dặm phải tụ hội về đây.
Các quan làm theo. Chẳng bao lâu, thợ săn ở khắp xứ Ca-thi, mỗi người mang theo một món quà tuỳ sức, kéo về tâu với vua rằng mình đã tới. Cả thảy chừng sáu mươi nghìn người. Nghe tin họ đã tới, vua đứng bên một cửa sổ mở toang, đưa tay chỉ cho hoàng hậu, nói:
— Kìa, những người thợ săn gan dạ của chúng ta đây. Họ thạo nghề săn bắn, giỏi giết thú dữ, và ai nấy đều sẵn lòng chết vì ta.
Hoàng hậu nói với họ:
— Hỡi những người thợ săn gan dạ đang tụ hội nơi đây, hãy lắng nghe lời ta. Trong giấc mơ, ta thấy một con voi có sáu ngà, trắng tinh không một vết. Ta khao khát cặp ngà của nó. Ngoài cặp ngà ấy, không gì cứu được mạng ta.
Những người thợ săn đáp:
— Từ thời ông cha chúng thần tới giờ, chưa ai từng thấy một con voi sáu ngà. Xin hoàng hậu cho chúng thần biết con vật hiện ra trong giấc mơ của hoàng hậu là con vật thế nào. Người ta thấy được bốn phương đông, tây, nam, bắc, lại có bốn hướng ở giữa, thêm hướng trên trời và hướng dưới đất nữa là mười. Vậy con voi chúa hiện ra trong giấc mơ của hoàng hậu ở hướng nào trong mười hướng ấy?
Nghe vậy, Thiện Hiền đưa mắt nhìn khắp những người thợ săn. Nàng để ý thấy trong đám có một gã chân bè, bắp chân phình như cái giỏ khất thực, đầu gối và sườn to bè, râu rậm, răng vàng, mặt đầy sẹo, nổi bật giữa đám đông vì vẻ xấu xí, to lớn, kềnh càng. Gã tên là Sô-nút-ta-ra, từng là kẻ thù của bậc Đại Sĩ. Nàng nghĩ: "Gã này sẽ làm được việc ta sai." Được vua cho phép, nàng dẫn gã theo, trèo lên tầng cao nhất của cung điện bảy tầng, mở toang một cửa sổ hướng về phía bắc, đưa tay chỉ về dãy núi Tuyết phía bắc, nói:
— Cứ đi thẳng về phía bắc, vượt qua bảy ngọn núi lớn, cuối cùng sẽ tới vách núi Vàng, một đỉnh núi có loài quỷ thần trú ngụ, hoa nở rực rỡ từ chân tới đỉnh. Dưới chân đỉnh núi ấy có một khối xanh thẫm như đám mây, đó là một cây đa chúa, rễ cây nuôi tám nghìn chồi non. Ở đó có con voi trắng sáu ngà, sức mạnh không ai địch nổi, cùng một đàn tám nghìn con sẵn sàng chiến đấu. Ngà của chúng như những càng xe. Chúng nhanh như gió khi canh giữ hay khi xông tới. Chúng đứng đó thở phì phò, trừng mắt dữ tợn, chỉ một làn gió nhẹ cũng đủ khiến chúng nổi giận. Hễ thấy bóng người, cơn giận của chúng sẽ thiêu rụi kẻ ấy.
Nghe vậy, Sô-nút-ta-ra sợ chết khiếp, nói:
— Tâu hoàng hậu, ngọc lam, ngọc trai lấp lánh, cùng biết bao đồ trang sức bằng vàng, trong cung vua chúa đâu thiếu gì. Hoàng hậu cần ngà voi làm gì? Hay hoàng hậu định giết những người thợ săn trung thành này?
Hoàng hậu đáp:
— Ta đang bị nỗi đau và lòng hờn giận thiêu đốt, mỗi khi nhớ lại mối hận của mình. Hỡi người thợ săn, hãy cho ta điều ta mong muốn, ta sẽ ban cho ngươi năm ngôi làng trù phú.
Rồi nàng nói thêm:
— Này anh thợ săn, khi ta cúng dường các vị Phật Độc Giác, ta đã khấn nguyện được giết con voi sáu ngà này và có được cặp ngà của nó. Đây không phải chỉ là điều ta thấy trong mơ đâu. Lời ta khấn nguyện rồi sẽ thành. Anh cứ đi, đừng sợ.
Nàng trấn an gã như vậy. Gã nghe theo lời nàng, đáp:
— Vâng, thưa hoàng hậu. Nhưng trước hết xin hoàng hậu nói rõ cho thần biết nó sống ở đâu. Nó ở đâu, tìm nó ở đâu được? Nó đi tắm theo đường nào? Nó bơi ở chỗ nào? Xin hoàng hậu chỉ cho chúng thần cách bắt nó.
Nhờ nhớ lại kiếp trước, nàng thấy rõ nơi ấy, bèn chỉ cho gã:
— Chỗ nó tắm không xa đâu, đó là một cái hồ vừa sâu vừa đẹp. Ong bay từng đàn, hoa nở khắp nơi, và con voi chúa ấy thường ở đó. Đầu đội vòng sen, vừa tắm xong, nó thong thả trở về chỗ ở. Thân hình cao lớn, trắng như hoa huệ, nó bước đi phía sau bà voi chúa nó yêu thương.
Nghe vậy, Sô-nút-ta-ra nhận lời:
— Thưa hoàng hậu, thần sẽ giết con voi ấy, mang ngà về dâng hoàng hậu.
Mừng rỡ, nàng cho gã một nghìn đồng tiền, bảo:
— Bây giờ anh hãy về nhà đã, bảy ngày nữa thì lên đường.
Cho gã về rồi, nàng cho gọi thợ rèn tới, dặn:
— Các ngươi hãy làm cho ta một cái rìu, một cái thuổng, một cái khoan, một cái búa, một con dao chặt tre, một cái liềm cắt cỏ, một cây gậy sắt, một cái cọc, một cái móc sắt ba chạc. Làm cho thật nhanh rồi mang tới đây.
Nàng lại cho gọi thợ da tới, dặn:
— Các ngươi hãy làm cho ta một cái túi da đựng được một thùng lớn, mấy sợi dây da, mấy cái quai da, một đôi giày to vừa chân voi, và một tấm da để đón gió. Làm cho thật nhanh rồi mang tới đây.
Thợ rèn và thợ da đều làm thật nhanh, mang tới dâng nàng. Nàng sắm sửa đủ mọi thứ cần cho chuyến đi, cả củi đuốc và những thứ khác, cho hết đồ nghề và lương ăn đường như bột rang vào trong túi da. Cả túi nặng chừng một thùng lớn.
Sô-nút-ta-ra sắp đặt mọi việc xong xuôi, đúng ngày thứ bảy thì tới, kính cẩn đứng trước mặt hoàng hậu. Nàng bảo:
— Này anh, mọi thứ cho chuyến đi của anh đã sẵn sàng. Hãy mang lấy cái túi này.
Gã là một tên vạm vỡ, khoẻ bằng năm con voi, chộp lấy cái túi như chộp một túi bánh, đặt lên hông, đứng đó như người tay không. Tiểu Thiện Hiền giao lương thực cho đám người theo hầu gã thợ săn, tâu vua, rồi cho Sô-nút-ta-ra lên đường.
Gã cúi chào vua và hoàng hậu, xuống khỏi cung điện, chất đồ lên xe, cùng đông người tuỳ tùng ra khỏi kinh thành. Đi qua hết làng này tới xóm nọ, gã tới vùng biên giới. Tới đó, gã cho người trong nước quay về, chỉ đi tiếp với dân miền biên giới cho tới khi vào rừng. Ra khỏi chốn người ở, gã cho cả dân biên giới quay về, rồi một mình đi tiếp ba mươi dặm đường. Gã băng qua những bãi cỏ cu-sa dày đặc, những bụi húng, những đám lau sậy, những bụi gai rậm rạp, những đám mây, những bụi cây hỗn tạp, những rừng lau rừng mây, những khu rừng rậm tới mức rắn cũng không chui lọt, những rừng cây rừng tre, những vùng bùn lầy nước đọng, những vùng núi non, cả thảy mười tám vùng, vùng này tiếp vùng kia.
Gặp cỏ rậm, gã dùng liềm phát. Gặp bụi húng và những thứ như thế, gã dùng dao chặt tre mà dọn. Gặp cây thì gã lấy rìu đốn, cây to quá thì gã khoan thủng trước rồi mới đốn. Tới rừng tre, gã làm một cái thang, trèo lên ngọn bụi tre, đặt một cây tre vừa chặt bắc sang bụi tre kế bên, rồi cứ thế bò trên ngọn các bụi tre mà đi, cho tới một vùng đầm lầy. Gã trải một tấm ván khô lên bùn, bước lên đó, rồi ném một tấm ván khác ra phía trước, cứ thế mà qua đầm. Rồi gã làm một chiếc xuồng để vượt qua vùng nước ngập, cuối cùng tới được chân núi.
Gã buộc chiếc móc sắt ba chạc vào một sợi dây, ném lên cao cho móc mắc chặt vào vách núi. Gã đu dây trèo lên, lấy cây gậy sắt bịt kim cương khoan vào vách núi, đóng cọc vào lỗ khoan rồi đứng lên đó. Gã rút chiếc móc ra, lại ném lên cao hơn cho mắc vào vách núi. Từ chỗ ấy, gã thả sợi dây da xuống, bám lấy mà tụt xuống, buộc dây vào cái cọc ở dưới. Rồi tay trái nắm dây, tay phải cầm búa, gã đập một nhát vào sợi dây cho bật cái cọc ra, rồi lại trèo lên. Cứ thế, gã lên tới đỉnh ngọn núi thứ nhất.
Rồi để xuống phía bên kia, gã đóng một cái cọc trên đỉnh núi thứ nhất như trước, buộc dây vào túi da, quấn dây quanh cọc, rồi ngồi vào trong túi mà thả mình xuống, tháo dây dần dần như con nhện nhả tơ. Gã lại giương tấm da đón gió, rồi lướt xuống như một con chim, ít ra người ta kể như thế.
Cứ như thế, theo lời Thiện Hiền, gã thợ săn rời kinh thành, băng qua mười bảy vùng đất khác nhau, tới vùng núi non, vượt qua sáu ngọn núi rồi trèo lên tới đỉnh vách núi Vàng. Lên tới đỉnh núi có quỷ thần trú ngụ, gã thấy một khối xanh thẫm như mây hiện ra trước mắt. Đó là cây đa chúa, rễ cây đỡ tám nghìn cành lá xum xuê. Ở đó có con voi trắng sáu ngà, sức mạnh không ai địch nổi, cùng một đàn tám nghìn con sẵn sàng chiến đấu, ngà như càng xe, nhanh như gió khi canh giữ hay khi xông tới. Gần đó là một cái hồ đầy nước, chỗ tắm xứng với voi chúa, bờ hồ hoa nở khắp nơi, ong bay vo ve quanh quẩn.
Người ta kể rằng gã thợ săn phải mất bảy năm, bảy tháng và bảy ngày mới tới được chỗ ở của bậc Đại Sĩ như đã kể. Gã ghi nhớ chỗ voi ở, ghi nhớ con đường voi thường đi tắm, rồi nghĩ: "Ta sẽ đứng ở đây, bắn con voi chúa cho tới chết." Sắp đặt xong, gã vào rừng đốn cây làm cọc, chuẩn bị rất nhiều vật liệu.
Rồi khi đàn voi đi tắm, ngay chỗ voi chúa thường đứng, gã lấy một cái mai lớn đào một cái hố vuông. Đất đào lên, gã rắc xuống mặt nước như người gieo hạt. Gã dựng cọc trên những hòn đá như những cái cối, lắp đối trọng và dây thừng, rồi trải ván lên trên. Gã khoét một lỗ vừa bằng một mũi tên, rồi phủ đất và rác lên trên. Ở một bên, gã chừa một lối ra vào cho mình.
Hố đào xong, lúc trời vừa rạng, gã gắn một búi tóc giả, khoác áo màu vàng như người tu hành, cầm cung và một mũi tên tẩm thuốc độc, rồi xuống đứng trong hố.
Khi voi chúa đi ngang qua, gã bắn một mũi tên thật mạnh. Con voi trúng tên rống lên vì đau đớn, cả đàn voi cũng rống theo. Cành cây gãy rạp, cỏ bị giẫm nát, đánh dấu đường cả đàn hoảng hốt bỏ chạy. Voi chúa điên cuồng vì đau, suýt nữa đã giết chết kẻ thù, thì bỗng thấy tấm áo vàng, tấm áo của bậc tu hành, thứ áo mà người hiền trí xem là bất khả xâm phạm. Voi chúa nói với gã thợ săn:
— Kẻ mang lòng đầy tội lỗi, chẳng có sự thật, chẳng biết giữ mình, thì dù khoác áo vàng, cũng chẳng xứng với sự thánh thiện. Chỉ người lòng sạch tội lỗi, chân thật, biết giữ mình, đứng vững trong lẽ phải, mới xứng đáng khoác tấm áo vàng.
Nói rồi, bậc Đại Sĩ dập tắt hết lòng giận dữ với gã, hỏi:
— Vì sao ngươi bắn ta? Vì lợi riêng của ngươi, hay có kẻ nào sai khiến? Ngươi giết ta để làm gì, và ai đã xúi ngươi?
Gã thợ săn kể lại:
— Hoàng hậu Thiện Hiền, người vợ được vua xứ Ca-thi yêu quý, bảo rằng bà đã thấy ngài trong giấc mơ. Bà bảo: ta muốn có cặp ngà của nó, hãy đi mang về cho ta.
Nghe vậy, biết đây là việc của Tiểu Thiện Hiền, voi chúa nhẫn nại chịu đựng đau đớn mà nghĩ: "Nàng ấy đâu cần ngà của ta. Nàng sai gã tới đây là vì muốn giết ta." Rồi voi chúa nói:
— Ta có nhiều ngà đẹp lắm, là di vật của tổ tiên ta đã khuất. Mụ đàn bà đáng nguyền rủa ấy biết rõ điều đó. Mụ chỉ muốn lấy mạng ta thôi. Này thợ săn, hãy đứng dậy, trước khi ta chết, hãy cưa lấy đôi ngà này đi. Hãy về bảo người đàn bà cay nghiệt ấy cứ vui lên: con voi đã chết, ngà nó đây.
Nghe voi nói, gã thợ săn đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cầm cưa tới gần để cưa ngà. Nhưng con voi cao lớn như một ngọn núi tám mươi khuỷu tay, gã với không tới ngà mà cưa. Bậc Đại Sĩ bèn cúi mình về phía gã, nằm xuống, đầu chúc xuống đất. Gã thợ săn giẫm lên chiếc vòi như sợi dây bạc của bậc Đại Sĩ mà trèo lên, đứng trên trán voi như đứng trên một đỉnh núi tuyết. Rồi gã tụt xuống, đưa lưỡi cưa vào miệng voi mà cưa.
Bậc Đại Sĩ đau đớn tột cùng, miệng đầy máu. Gã thợ săn xoay xở hết chỗ này tới chỗ kia mà vẫn không cưa đứt được ngà. Bậc Đại Sĩ để máu nhỏ giọt khỏi miệng, cam chịu nỗi đau, hỏi:
— Này anh, anh không cưa được à?
— Không được.
Bậc Đại Sĩ trấn tĩnh lại, bảo:
— Thế thì, vì ta không còn đủ sức nhấc vòi lên, anh hãy nhấc nó lên giúp ta, rồi đặt đầu cưa vào vòi ta.
Gã làm theo. Bậc Đại Sĩ lấy vòi nắm lấy chiếc cưa, kéo tới kéo lui, và đôi ngà đứt lìa ra dễ dàng như người ta bẻ những mầm non. Rồi bậc Đại Sĩ bảo gã cầm lấy đôi ngà, nói:
— Này anh thợ săn, ta cho anh đôi ngà này không phải vì ta không quý chúng, cũng không phải vì ta mong được làm vua cõi trời. Nhưng đôi ngà của trí tuệ thấu suốt mọi điều còn quý với ta gấp trăm nghìn lần đôi ngà này. Mong rằng việc làm tốt đẹp này sẽ giúp ta đạt tới trí tuệ ấy.
Trao đôi ngà cho gã, voi chúa hỏi:
— Anh đi tới đây mất bao lâu?
— Bảy năm, bảy tháng và bảy ngày.
— Vậy thì anh hãy đi đi. Nhờ phép màu của đôi ngà này, anh sẽ về tới Ba-la-nại trong bảy ngày.
Voi chúa chúc cho gã được đi đường bình an, rồi để gã ra đi. Gã đi rồi, trước khi đàn voi và Đại Thiện Hiền kịp quay về, voi chúa đã qua đời.
Gã thợ săn cưa lấy đôi ngà từ hàm của con vật cao quý ấy, rồi mang báu vật sáng lấp lánh có một không hai ấy vội vã ra về.
Gã đi rồi, đàn voi không còn thấy kẻ thù nữa, mới quay trở lại. Đau buồn vì voi chúa chết và còn đầy kinh hãi, đàn voi đã hoảng hốt bỏ chạy, nay không thấy dấu vết của kẻ thù độc ác, bèn quay về, thấy chúa của mình đã nằm xuống.
Đại Thiện Hiền cũng về cùng đàn voi. Tất cả ngay tại đó khóc lóc than van, rồi tìm tới các vị Phật Độc Giác vốn thân thiết với bậc Đại Sĩ, thưa:
— Thưa các ngài, người vẫn cúng dường các ngài đã chết vì mũi tên tẩm độc. Xin các ngài tới xem nơi thi thể của người đang nằm.
Năm trăm vị Phật Độc Giác bay qua không trung, đáp xuống nơi ấy. Bấy giờ hai chú voi non lấy ngà nâng thi thể voi chúa lên, như để voi chúa cúi chào các vị Phật Độc Giác, rồi đặt lên giàn hoả mà thiêu. Suốt đêm, các vị Phật Độc Giác tụng kinh ở nơi hoả táng. Tám nghìn con voi dập tắt lửa, tắm rửa xong, rồi theo Đại Thiện Hiền dẫn đầu trở về chỗ ở.
Người ta kể rằng đàn voi khóc lóc than van, con nào cũng vốc đất bụi rắc lên đầu mình, rồi lững thững trở về, theo sau bà voi chúa hiền hậu.
Còn Sô-nút-ta-ra, chỉ trong bảy ngày đã mang đôi ngà về tới Ba-la-nại. Gã vội tới xứ Ca-thi, mang theo báu vật sáng lấp lánh có một không hai, đôi ngà của con vật cao quý, ánh vàng làm say lòng người, rồi tâu với hoàng hậu:
— Ngà của nó đây, con voi đã chết rồi.
Dâng ngà lên hoàng hậu, gã nói:
— Thưa hoàng hậu, con voi mà hoàng hậu mang lòng hờn giận chỉ vì một lỗi nhỏ, đã bị thần giết chết rồi.
— Ngươi bảo nó chết rồi ư?
Gã trao đôi ngà cho hoàng hậu, nói:
— Xin hoàng hậu cứ tin rằng nó đã chết. Ngà của nó đây.
Hoàng hậu đỡ lấy đôi ngà toả ánh sáng sáu màu trên chiếc quạt nạm ngọc, đặt lên lòng, ngắm nhìn cặp ngà của người mà kiếp trước từng là người chồng yêu dấu của mình. Nàng nghĩ: "Gã này mang về đôi ngà cưa từ con voi tốt lành mà gã đã giết bằng mũi tên tẩm độc." Nhớ tới bậc Đại Sĩ, nàng đau đớn khôn cùng, không sao chịu nổi. Trái tim nàng vỡ tan ngay lúc ấy, và nàng chết ngay trong ngày hôm đó.
Về sau, khi đức Phật kể lại chuyện này, Ngài cho biết: nàng hoàng hậu thuở ấy là một vị ni cô trẻ đang ngồi nghe Ngài giảng, gã thợ săn Sô-nút-ta-ra là Đề-bà-đạt-đa, còn voi chúa Sáu Ngà chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích