Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Vua rắn thần Xăng-kha-pa-la và ông A-la-ra

của Kinh Bổn Sinh (Jataka)

⏱ 16 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 15.912 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Ngày xưa, có một vị vua xứ Ma-ga-đa trị…
  2. 1:51Thấy vẻ huy hoàng lộng lẫy của vị rắn…
  3. 3:25Đức Bồ Tát làm cho thân mình to như…
  4. 5:32Hôm sau, ông vào thành khất thực, tới trước…
  5. 7:06Tôi bảo: "Nếu con rắn lớn vừa bắt được…
  6. 9:50Theo lệnh chàng, một tiên nữ khác vội mang…
  7. 12:51Tôi hỏi: "Tôi thấy ngài nằm dài trên con…
  8. 14:43Những ham muốn của con người là vô thường,…

Ngày xưa, có một vị vua xứ Ma-ga-đa trị vì thành Vương Xá. Thuở ấy, đức Bồ Tát sinh làm con của hoàng hậu chính cung, được đặt tên là Đu-giô-đa-na. Tới tuổi trưởng thành, chàng tới thành Tắc-ca-si-la học các môn nghệ thuật, rồi về nhà thăm cha. Vua cha trao vương quốc cho chàng, còn mình thì xuất gia làm nhà tu, ở trong vườn ngự.

Mỗi ngày ba lần, đức Bồ Tát tới thăm cha, nhờ thế cha được biếu xén rất nhiều và được trọng vọng lắm. Nhưng chính vì vướng bận như thế, ông không làm nổi cả những việc chuẩn bị đầu tiên để tu thiền định. Ông nghĩ: "Ta được biếu xén và trọng vọng quá nhiều. Chừng nào còn ở đây, ta không sao diệt được lòng ham muốn của mình. Ta sẽ đi nơi khác mà chẳng nói gì với con trai."

Thế là không cho ai hay biết, ông rời vườn ngự, vượt qua biên giới xứ Ma-ga-đa, tới vương quốc Ma-him-xa-ca, dựng một túp lều lá gần núi Chan-đa-ca, ở một khúc quanh của sông Can-na-pen-na, nơi dòng sông chảy ra từ hồ Xăng-kha-pa-la. Ông ở đó, làm các việc chuẩn bị, tu được thiền định, sống bằng những gì nhặt nhạnh được.

Có một vua rắn thần tên là Xăng-kha-pa-la, thỉnh thoảng lại cùng một đoàn rắn thần đông đảo từ sông Can-na-pen-na lên thăm nhà tu, và nhà tu giảng đạo cho vua rắn thần nghe.

Người con trai mong gặp cha lắm, nhưng không biết cha đi đâu. Chàng cho người dò hỏi khắp nơi, và khi biết cha đang ở chỗ nọ, chàng dẫn một đoàn tuỳ tùng đông đảo tới thăm. Dừng lại cách đó một quãng, chàng cùng mấy viên quan đi về phía am tu.

Lúc ấy, Xăng-kha-pa-la đang cùng đoàn tuỳ tùng đông đảo ngồi nghe giảng. Thấy nhà vua tới, vua rắn thần đứng dậy, chào nhà tu rồi ra về.

Nhà vua lạy chào cha, hỏi han thăm hỏi xong, liền hỏi:

— Thưa cha, vị vua vừa tới thăm cha là vua nào thế?

— Con ạ, đó là Xăng-kha-pa-la, vua rắn thần.

Thấy vẻ huy hoàng lộng lẫy của vị rắn thần, chàng đem lòng mong muốn được sinh vào cõi rắn thần. Ở lại đó ít ngày, chàng lo cho cha đủ cơm ăn, rồi trở về kinh thành.

Về tới nơi, chàng cho dựng nhà bố thí ở bốn cổng thành, bố thí rộng rãi tới mức vang động cả cõi Ấn Độ. Mong được sinh vào cõi rắn thần, chàng luôn giữ giới và giữ ngày trai, và khi mãn đời thì tái sinh ở cõi rắn thần, làm vua rắn thần Xăng-kha-pa-la.

Năm tháng trôi qua, chàng chán cảnh huy hoàng ấy. Từ đó, mong được sinh làm người, chàng giữ ngày trai. Nhưng vì ở trong cõi rắn thần, việc giữ ngày trai của chàng không trọn vẹn, giới hạnh sa sút dần.

Từ đó chàng rời cõi rắn thần, tới một chỗ không xa sông Can-na-pen-na, cuộn mình quanh một gò mối nằm giữa đường cái và một lối mòn, quyết giữ ngày trai ở đó, nguyện giữ giới. Chàng nói:

— Ai muốn lấy da ta, hay muốn lấy cả da lẫn thịt ta, ta bảo, cứ việc lấy hết.

Hiến mình làm món quà bố thí như thế, chàng nằm trên đỉnh gò mối, ở đó suốt ngày mười bốn và ngày rằm, rồi đến ngày đầu mỗi nửa tháng thì trở về cõi rắn thần.

Một hôm, khi chàng đang nằm đó giữ giới, có một bọn mười sáu người ở một làng gần đấy, thèm ăn thịt, cầm vũ khí đi lùng khắp rừng. Chẳng săn được gì, lúc quay về họ thấy chàng nằm trên gò mối. Họ bảo nhau:

— Hôm nay đến con thằn lằn non mình cũng chẳng bắt được. Ta giết con rắn chúa này mà ăn thịt.

Nhưng sợ vì nó quá to lớn, dù có bắt được nó cũng sẽ vùng thoát, họ định nhân lúc nó đang nằm cuộn tròn, lấy cọc nhọn đâm cho nó què quặt rồi mới bắt. Thế là họ cầm cọc tiến lại gần.

Đức Bồ Tát làm cho thân mình to như chiếc thuyền độc mộc, trông rất đẹp, như một tràng hoa nhài đặt trên mặt đất, mắt đỏ như hạt cam thảo dây, đầu đỏ như hoa dâm bụt. Nghe tiếng chân mười sáu người, chàng rút đầu ra khỏi vòng cuộn, mở đôi mắt rực lửa, thấy họ đang cầm cọc đi tới. Chàng nghĩ: "Hôm nay, nằm ở đây, ước nguyện của ta sẽ thành. Ta sẽ vững vàng giữ lời nguyện mà hiến mình cho họ. Dù họ lấy giáo đâm ta, khiến ta đầy thương tích, ta cũng không mở mắt nhìn họ bằng cơn giận."

Vì sợ phá giới, chàng quyết như thế, rồi rụt đầu vào trong mang mà nằm yên.

Họ tới gần, túm đuôi chàng lôi đi trên mặt đất. Rồi họ thả chàng xuống, lấy cọc nhọn đâm chàng ở tám chỗ, cắm những que tre đen còn nguyên gai vào các vết thương, rồi lấy dây buộc vào tám chỗ ấy mà kéo chàng đi.

Từ lúc bị cọc đâm, bậc Đại Sĩ không hề mở mắt, không hề nhìn họ bằng cơn giận. Nhưng bị kéo đi bằng tám cái que, đầu chàng rũ xuống, đập vào mặt đất. Thấy đầu rắn rũ xuống, họ đặt chàng nằm giữa đường cái, lấy một cái cọc mảnh xuyên thủng lỗ mũi chàng, xỏ một sợi dây vào, thắt nút ở đầu, nâng đầu chàng lên, rồi lại lên đường.

Đúng lúc ấy, có một người chủ đất tên là A-la-ra, sống ở thành Mi-thi-la nước Vi-đê-ha, đang ngồi trên một cỗ xe êm ái, đi cùng năm trăm cỗ xe hàng. Thấy bọn người hung tợn kia đang kéo bậc Đại Sĩ đi, ông cho cả mười sáu người, mỗi người một con bò, một nắm tiền vàng, mỗi người cả áo trong lẫn áo ngoài, lại cho vợ họ đồ trang sức để đeo, và nhờ thế mà họ chịu thả con rắn ra.

Đức Bồ Tát trở về cung điện rắn thần, rồi không chậm trễ, dẫn một đoàn tuỳ tùng đông đảo trở ra, tới gặp A-la-ra, ca ngợi cung điện rắn thần, rồi đưa ông về đó. Chàng đối đãi ông hết sức trọng hậu, cho ba trăm thiếu nữ rắn thần hầu hạ, cho ông hưởng đủ mọi thú vui cõi trời.

A-la-ra ở trong cung điện rắn thần trọn một năm, hưởng những thú vui cõi trời. Rồi ông nói với vua rắn thần:

— Bạn ơi, tôi muốn đi tu.

Mang theo đủ các vật dụng của người tu, ông rời cõi rắn thần, lên miền núi Tuyết, xuất gia, ở đó rất lâu. Về sau ông đi du hành, tới Ba-la-nại, ở lại trong vườn ngự của nhà vua.

Hôm sau, ông vào thành khất thực, tới trước cửa cung vua. Vua Ba-la-nại thấy phong thái của ông thì mến mộ lắm, cho mời vào, mời ngồi lên một chỗ ngồi riêng, dâng đủ món ăn ngon. Rồi vua ngồi xuống một chiếc ghế thấp, lạy chào ông, trò chuyện cùng ông:

— Ngài có dáng vẻ khôi ngô, phong thái hoà nhã, tôi đoán ngài thuộc dòng dõi cao sang. Vậy cớ sao ngài từ bỏ thú vui trần thế và của cải, mà khoác áo nhà tu, sống theo giới luật khắt khe?

Nhà tu đáp:

— Tâu bậc chúa tể muôn người, tôi vẫn còn nhớ rõ chốn ở của vị vua rắn thần đầy uy lực ấy. Tôi đã thấy quả ngọt giàu có mọc lên từ đời sống thánh thiện, và tôi tin ngay, nên khoác áo nhà tu.

Vua nói:

— Nỗi sợ, lòng ham muốn hay cơn giận cũng không thể khiến một bậc thánh thiện rời bỏ lời chân thật. Xin ngài hãy nói cho tôi biết điều tôi đang muốn biết, để niềm tin và sự bình an lớn lên trong lòng tôi.

Nhà tu kể:

— Tâu nhà vua, hôm ấy tôi đang trên đường đi buôn. Tôi gặp mấy gã hung tợn trên đường. Chúng đang kéo đi một con rắn lớn bị trói chặt, hớn hở đắc thắng mà trở về nhà. Tâu nhà vua, khi đuổi kịp chúng, tôi kêu lên, vừa kinh ngạc vừa sợ hãi: "Này các ông, các ông kéo con vật khủng khiếp này đi đâu? Các ông định làm gì nó?"

— Chúng đáp: "Con rắn lớn bị trói mà ông thấy đây, thân hình to lớn của nó sẽ cho chúng tôi một bữa no. Thưa ông A-la-ra, ông khó mà mong được nếm một món ngon hơn, đậm đà hơn thế này. Chúng tôi sẽ về nhà ngay, rồi chỉ trong chớp mắt, mỗi người cầm dao xẻo một miếng ngon, vui vẻ mà ăn thịt nó. Ông biết đấy, loài rắn bao giờ cũng là kẻ thù chết người của chúng tôi."

— Tôi bảo: "Nếu con rắn lớn vừa bắt được trong rừng này đang bị kéo đi làm thức ăn, thì tôi xin đổi cho mỗi người một con bò, mỗi người một con, nếu các ông chịu tháo xích cho con rắn."

— Chúng đáp: "Thịt bò, chúng tôi thề là nghe ngon lắm. Thịt rắn thì chúng tôi đã ăn khối lần rồi. Thưa ông A-la-ra, chúng tôi xin làm theo lời ông. Từ nay xin cho tình bạn ngự trị giữa đôi bên."

— Thế là chúng tháo sợi dây xuyên qua mũi con rắn, đã thắt nút giữ chặt nó. Vua rắn thần thoát khỏi cảnh tù đày khốn nạn, quay về phía đông, dừng lại một lát. Rồi vẫn quay mặt về phía đông, sắp sửa trốn đi, nó ngoái lại nhìn tôi bằng đôi mắt đẫm lệ. Còn tôi đi theo nó một quãng, chắp tay giơ ra như người sắp cầu nguyện, bảo nó: "Bạn ơi, hãy đi cho nhanh như người đang vội, kẻo lại rơi vào tay kẻ thù lần nữa. Hãy tránh xa ngay cả bóng dáng những kẻ côn đồ như thế, kẻo bạn phải chịu khổ dù chẳng muốn."

— Rồi nó lao tới một cái hồ trong vắt, đẹp đẽ, hai bên bờ phủ đầy trúc và cây mận hồng. Lòng vui mừng, chẳng còn sợ hãi gì nữa, nó lặn xuống làn nước xanh thẳm rồi mất hút.

— Con rắn vừa biến mất, thì nó lại hiện ra rõ ràng trong hình thần thánh. Nó đối với tôi bằng những việc làm hiếu nghĩa như con với cha, và những lời biết ơn của nó làm tôi xúc động. Nó nói: "Ông đã cứu mạng tôi, ông còn thân thiết với tôi hơn cả cha mẹ, ông là người bạn chân thành tới tận đáy lòng. Nhờ ông mà tôi lại được hưởng niềm hạnh phúc cũ. Vậy xin mời ông A-la-ra tới thăm chốn tôi cai trị ngày xưa, một nơi đầy ắp thức ăn, như thành Ma-xác-ca-xa-ra lừng danh của thần In-đra."

Nhà tu kể tiếp rằng vua rắn thần nói xong lời ấy, lại còn ca ngợi chốn ở của mình:

— Trong cõi của tôi có biết bao chốn đẹp đẽ, đất mềm dưới chân, quanh năm xanh tốt. Trên đường đi chẳng có bụi, chẳng có sỏi, và ở đó những tâm hồn hạnh phúc bỏ lại sau lưng mọi nỗi buồn. Giữa những khoảng sân bằng phẳng có tường ngọc lam bao quanh, những vườn xoài xinh tươi mọc khắp bốn phía, trên cây trĩu những chùm quả chín quanh năm suốt tháng, mùa nào cũng có. Giữa những vườn cây ấy, ông sẽ thấy một toà lâu đài làm bằng vàng, then cài bằng bạc, rực rỡ hơn cả tia chớp loé ngang trời. Toà lâu đài làm bằng ngọc và vàng, đẹp như cõi thần tiên, trang trí bằng bao bức tranh quý hiếm, đông nghịt những tiên nữ ăn mặc lộng lẫy, ai nấy đeo dây chuyền vàng trên ngực.

Nhà tu kể tiếp:

— Rồi Xăng-kha-pa-la vội vã leo lên ngọn tháp cao, nơi sừng sững trên một nghìn cây cột là cung điện của hoàng hậu, vợ cưới của chàng. Ngay lập tức, một thiếu nữ trong đoàn cầm trên tay một viên ngọc quý, một viên ngọc lam hiếm có đầy phép mầu, chẳng đợi ai bảo đã mời tôi ngồi. Rắn thần nắm tay tôi, dẫn tới một chiếc ghế cao sang, đúng là ghế của bậc vua chúa, nói: "Xin ông ngồi đây bên tôi, vì ông đối với tôi như cha mẹ."

— Theo lệnh chàng, một tiên nữ khác vội mang tới một bát nước, rửa chân cho tôi, ân cần hầu hạ như hoàng hậu hầu vị vua yêu quý của mình. Rồi trong chớp mắt, một thiếu nữ khác bưng tới trong đĩa vàng một món cơm cà ri, nêm đủ thứ nước chấm, như muốn khơi dậy cơn thèm ăn của khách. Rồi biết ý chủ, các nàng cất tiếng nhạc du dương, muốn làm lòng tôi xao động, còn chính nhà vua thì chẳng bao giờ thôi khơi dậy trong tâm hồn tôi những ước muốn cõi trời.

— Rắn thần lại gần tôi, nói: "Thưa ông A-la-ra, tôi có ba trăm người vợ ở đây, ai nấy eo thon, nhan sắc hơn cả hoa sen. Ông xem, họ chỉ sống để làm theo ý ông. Xin ông nhận lấy món quà tôi tặng."

Nhà tu kể tiếp:

— Một năm trời tôi được hưởng những thú vui cõi trời. Rồi tôi hỏi vua rắn: "Hỡi rắn thần, toà cung điện đẹp đẽ này làm sao thành nhà của ngài, làm sao nó về phần ngài? Ngài có được chốn đẹp này là do tình cờ, do chính tay ngài làm ra, hay là quà các vị thần ban? Tôi xin hỏi ngài, vua rắn thần, hãy nói thật: làm sao ngài được tới ở chốn đẹp đẽ này?"

— Rắn thần đáp: "Chẳng phải do tình cờ hay do lẽ tự nhiên mà có, cũng chẳng phải tôi làm ra, chẳng phải quà của các vị thần. Ông phải biết rằng tôi có được những toà điện đẹp này là nhờ việc lành và phúc đức của chính tôi."

— Tôi hỏi: "Lời nguyện thánh thiện nào, đời sống trong sạch nào, kho phúc đức nào đem lại được niềm hạnh phúc như thế? Xin vua rắn thần hãy nói cho tôi nghe, vì tôi rất muốn biết làm sao ngài có được toà lâu đài đẹp đẽ này."

— Rắn thần đáp: "Ngày xưa tôi là vua xứ Ma-ga-đa, tên là Đu-giô-đa-na, một vị vua danh tiếng lẫy lừng. Tôi biết mạng sống của mình mong manh, chẳng bền chắc gì. Tôi thành kính cúng dường đồ ăn thức uống, bố thí cho hết thảy mọi người gần xa. Nhà tôi như một quán trọ, ai tới, dù là bậc hiền hay bậc thánh, cũng được nghỉ ngơi bồi bổ tấm thân mệt mỏi. Vì giữ những lời nguyện như thế, sống cuộc đời như thế, tích được kho phúc đức như thế, mà rốt cuộc tôi có được lâu đài này, có được thức ăn thức uống dồi dào."

— Tôi hỏi: "Cuộc sống này dù rực rỡ bao ngày với ca múa, cũng chẳng kéo dài mãi mãi. Những sinh linh yếu ớt đã quấy nhiễu ngài dù ngài hùng mạnh như thế, những kẻ hèn kém đã làm kẻ mạnh phải bỏ chạy. Sao ngài, vũ khí đầy mình, lại để rơi vào tay những kẻ ăn mày khốn nạn kia trong một cuộc chiến chẳng cân sức như thế? Nỗi sợ khủng khiếp nào đã quật ngã ngài? Nọc độc của ngài đi đâu cả rồi? Sao ngài, đầy vũ khí và hùng mạnh như thế, lại phải chịu tổn hại vì những kẻ hèn mọn như thế?"

— Rắn thần đáp: "Chẳng có nỗi sợ khủng khiếp nào quật ngã được tôi, cũng chẳng ai đè bẹp được sức mạnh của tôi. Ai cũng thừa nhận giá trị của việc lành, ranh giới của nó, như bờ biển, không bao giờ bị vượt qua. Mỗi tháng hai lần tôi giữ ngày trai. Chính lúc ấy, thưa ông A-la-ra, có hai lần tám gã hung tợn đi ngang đường tôi, tay cầm một sợi dây cùng một cái thòng lọng thắt nút bằng thứ sợi chắc nhất. Bọn côn đồ đâm thủng mũi tôi, xỏ dây qua lỗ thủng, rồi theo đó mà kéo tôi đi. Tôi đã phải chịu nỗi đau ấy, ôi số phận tàn nhẫn, chỉ vì giữ ngày trai cho trọn vẹn."

— Tôi hỏi: "Tôi thấy ngài nằm dài trên con đường vắng ấy, một sinh linh đẹp đẽ và sức mạnh vô song. Hỡi bậc khôn ngoan và vinh hiển, sao ngài lại tự nhận lấy lời nguyện khắc khổ như thế?"

— Rắn thần đáp: "Tôi chẳng mong con cái, chẳng mong của cải, cũng chẳng cầu được sống lâu. Tôi chỉ mong được sống giữa cõi người, và vì mục đích ấy tôi gắng gỏi như một anh hùng."

— Tôi hỏi: "Râu tóc cắt tỉa gọn gàng, thân hình vạm vỡ khoác áo lộng lẫy, đôi mắt rực lửa, mình xoa dầu đàn hương đỏ, ngài như toả sáng từ xa như một vị vua thần tiên. Được ban những món quà cõi trời một cách nhiệm mầu, muốn gì có nấy, tôi xin hỏi ngài, vua rắn thần, hãy nói thật: sao ngài lại muốn sống ở cõi người?"

— Rắn thần đáp: "Tôi nghĩ ngoài cõi người ra, chẳng nơi nào có được sự trong sạch và sự tự chế. Chỉ cần một lần được thở giữa loài người, tôi sẽ chấm dứt được vòng sinh tử."

— Tôi nói: "Thưa vua rắn thần, được ngài đãi đằng hậu hĩ, tôi đã ở với ngài một năm. Giờ tôi phải từ biệt mà đi, tôi không thể xa nhà lâu hơn nữa."

— Rắn thần nói: "Vợ con tôi và đám người hầu đều đã được dạy để luôn làm theo lệnh ông. Tôi mong chẳng ai trong số họ coi nhẹ ông, vì tôi quý ông lắm, ông A-la-ra ạ. Có cha mẹ hiền thì nhà tràn ngập niềm vui, mà có đứa con trai được nâng niu thì còn vui hơn thế. Nhưng niềm hạnh phúc lớn nhất tôi tìm thấy chính ở đây, vì ông, ông A-la-ra ạ, luôn quý mến tôi. Tôi có một viên ngọc quý có đốm đỏ như máu, đem lại của cải lớn cho người chưa có. Xin ông cầm lấy mà về nhà, và khi ông đã giàu rồi, xin gửi trả nó lại cho tôi."

A-la-ra kể tiếp với nhà vua:

— Tâu nhà vua, bấy giờ tôi nói với vua rắn: "Thưa ngài, tôi chẳng cần của cải, tôi chỉ mong được đi tu." Tôi xin đủ các vật dụng của người tu, cùng vua rắn rời khỏi cung điện rắn thần. Tiễn vua rắn quay về rồi, tôi vào miền núi Tuyết xuất gia.

Nói xong, ông giảng đạo cho vua Ba-la-nại:

— Những ham muốn của con người là vô thường, chẳng bao giờ kết thành điều gì bền vững. Thấy được bao nỗi khổ nảy sinh từ dục vọng tội lỗi, niềm tin đã dẫn tôi đi tu, tâu nhà vua. Con người rụng xuống như quả chín, rồi tan rữa ngay. Mọi thân xác, trẻ hay già, đều phải hư hoại. Chỉ trong đời tu tôi mới tìm được sự yên nghỉ, con đường chân thật cho tất cả mọi người là con đường tốt nhất.

Nghe vậy, nhà vua nói:

— Những bậc khôn ngoan, học rộng, những người suy ngẫm về những điều lớn lao, chúng ta đều nên gần gũi. Nghe lời rắn thần và lời ngài, thưa ông A-la-ra, tôi sẽ làm mọi việc lành.

Nhà tu đem hết sức mình nói lời cuối:

— Những bậc khôn ngoan, học rộng, những người suy ngẫm về những điều lớn lao, chúng ta đều nên gần gũi. Nghe lời rắn thần và lời tôi, tâu nhà vua, xin ngài hãy làm mọi việc lành.

Ông giảng đạo cho nhà vua như thế. Ở lại chỗ ấy suốt bốn tháng mùa mưa, ông lại trở về núi Tuyết, suốt đời tu tập bốn tâm vô lượng, rồi được sinh về cõi Phạm Thiên. Còn Xăng-kha-pa-la thì suốt đời giữ ngày trai, và nhà vua, sau một đời bố thí làm việc thiện, đi theo nghiệp của mình.

Đức Phật kể chuyện này để khen những người cư sĩ giữ ngày trai. Kể xong, Ngài cho biết: người cha xuất gia làm nhà tu thuở ấy là Ca Diếp, vua Ba-la-nại là A-nan, ông A-la-ra là Xá Lợi Phất, còn vua rắn thần Xăng-kha-pa-la chính là Ngài.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKinh Bổn Sinh (Jataka)
Xuất bản lần đầu1905
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Samkhapala-Jataka, Jataka số 524, Kinh Bổn Sinh (tạng Pali); dịch từ bản tiếng Anh The Jataka, or Stories of the Buddha's Former Births, tập 5, H. T. Francis dịch, E. B. Cowell chủ biên, 1905
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →