Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Chiếc rìu, cái trống và bát sữa thần

của Kinh Bổn Sinh (Jataka)

⏱ 9 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 8.775 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Thuở đức Phật ở tinh xá Kỳ Viên, Ngài…
  2. 1:10Anh cần có lửa.
  3. 2:07Cuối cùng, Đế Thích tới thăm người út, cũng…
  4. 3:21Đang đi tìm hoa quả, gã trông thấy con…
  5. 5:16Thế là gã làm chủ cả bốn báu vật:…
  6. 7:01Vua Đa-đi Va-ha-na mỗi lần đem xoài làm quà…
  7. 7:55Người làm vườn mới tới làm cho khu vườn…
  8. 9:19Nói rồi, đức Bồ Tát cho nhổ hết những…

Thuở đức Phật ở tinh xá Kỳ Viên, Ngài dạy các vị tỳ kheo về chuyện chơi với bạn xấu:

— Này các tỳ kheo, bạn xấu là thứ độc hại, chỉ đem lại tai hại. Mà đâu chỉ con người mới chịu tác hại của bạn xấu. Ngày xưa, tới cả một cái cây, một cây xoài có quả ngọt đáng làm món ăn của thần tiên, mà chỉ vì ở cạnh một cây sầu đâu hôi hám, đắng nghét, cũng trở nên chua và đắng.

Rồi Ngài kể lại chuyện ngày xưa.

Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, có bốn anh em nhà bà-la-môn ở xứ Ca-thi bỏ đời, đi tu làm ẩn sĩ. Bốn anh em dựng bốn túp lều liền nhau trên vùng cao núi Tuyết, sống ở đó.

Người anh cả chết, được sinh lên làm Đế Thích. Biết rõ kiếp trước mình là ai, cứ bảy tám ngày, Đế Thích lại xuống thăm ba người em, giúp đỡ các em.

Một hôm, Ngài tới thăm người lớn nhất trong ba vị ẩn sĩ. Chào hỏi xong, Ngài ngồi xuống một bên, hỏi:

— Thưa anh, em có thể giúp anh việc gì?

Vị ẩn sĩ đang bị bệnh vàng da, đáp:

— Anh cần có lửa.

Đế Thích đưa cho anh một chiếc rìu dao. Gọi là rìu dao vì lắp vào cán kiểu này thì thành con dao cạo, lắp kiểu kia thì thành cái rìu.

— Ơ hay, vị ẩn sĩ nói, có cái này thì ai đi lấy củi cho anh?

— Thưa anh, Đế Thích đáp, nếu anh cần lửa, anh chỉ việc vỗ tay lên chiếc rìu mà bảo: "Đi lấy củi nhóm lửa!" Chiếc rìu sẽ tự đi lấy củi, nhóm lửa cho anh.

Cho người anh chiếc rìu dao xong, Đế Thích tới thăm người thứ hai, cũng hỏi:

— Thưa anh, em có thể giúp anh việc gì?

Cạnh túp lều của anh có một lối voi đi, lũ voi cứ quấy phá anh mãi. Anh bèn bảo Đế Thích rằng lũ voi quấy phá anh, anh muốn đuổi chúng đi. Đế Thích đưa cho anh một cái trống, dặn:

— Thưa anh, nếu anh đánh vào mặt này, kẻ thù của anh sẽ bỏ chạy. Còn nếu anh đánh vào mặt kia, chúng sẽ thành bạn thân của anh, và sẽ có cả một đạo quân bốn binh chủng vây quanh bảo vệ anh.

Cuối cùng, Đế Thích tới thăm người út, cũng hỏi như trước. Người út cũng bị bệnh vàng da, đáp:

— Em cho anh xin ít sữa chua.

Đế Thích đưa cho anh một cái bát đựng sữa, dặn:

— Khi nào anh cần gì, anh hãy úp ngược cái bát này xuống. Một dòng sông lớn sẽ tuôn ra, tràn ngập cả vùng, và nó còn có thể giành được cả một vương quốc cho anh.

Dặn xong, Đế Thích ra về.

Từ đó, chiếc rìu nhóm lửa cho người anh cả. Người thứ hai đánh vào một mặt trống, đuổi voi đi. Còn người út thì có sữa chua mà ăn.

Hồi ấy có một con lợn rừng sống trong một ngôi làng đổ nát, tình cờ nhặt được một viên ngọc có phép thần. Ngậm viên ngọc trong mồm, nhờ phép của nó, lợn rừng bay vút lên không trung. Từ xa, nó trông thấy một hòn đảo giữa biển khơi, bèn quyết định tới đó sống. Nó hạ xuống, chọn một chỗ đẹp dưới gốc một cây xoài, làm chỗ ở.

Một hôm, lợn rừng nằm ngủ dưới gốc cây, viên ngọc đặt ngay trước mặt. Bấy giờ có một gã người xứ Ca-thi, vì ăn chơi lêu lổng nên bị cha mẹ đuổi ra khỏi nhà. Gã lần ra một hải cảng, xin lên tàu làm chân sai vặt cho thuỷ thủ. Ra tới giữa biển thì tàu đắm, gã bám vào một tấm ván, trôi dạt vào hòn đảo này.

Đang đi tìm hoa quả, gã trông thấy con lợn rừng đang ngủ say. Gã lén lại gần, chộp lấy viên ngọc, và thấy mình bỗng bay vút lên không trung! Gã đậu xuống ngọn cây xoài, ngẫm nghĩ: "Nhờ phép của viên ngọc này mà con lợn rừng kia đi được trên trời. Chắc nhờ thế nên nó mới tới được đây. Được rồi! Mình phải giết nó, ăn một bữa no nê đã, rồi mới đi."

Gã bẻ một cành cây, thả rơi xuống đầu con lợn rừng. Lợn rừng tỉnh dậy, không thấy viên ngọc đâu, cuống cuồng chạy tới chạy lui. Gã ngồi trên cây phá lên cười. Lợn rừng ngẩng lên, trông thấy gã, liền lao đầu vào gốc cây, chết tươi.

Gã trèo xuống, nhóm lửa, nướng con lợn rừng ăn một bữa no nê. Rồi gã bay lên trời, tiếp tục cuộc hành trình.

Bay qua núi Tuyết, gã trông thấy chỗ ở của các vị ẩn sĩ. Gã hạ xuống, ở lại hai ba ngày trong túp lều của người anh cả, được tiếp đãi và cũng đãi lại chủ nhà, và gã biết được phép lạ của chiếc rìu. Gã quyết lấy cho bằng được chiếc rìu. Gã bèn khoe với vị ẩn sĩ phép lạ của viên ngọc, rồi xin đổi viên ngọc lấy chiếc rìu. Vị ẩn sĩ vẫn ao ước được bay đi trên không trung, nên bằng lòng đổi.

Gã cầm chiếc rìu ra đi. Nhưng đi chưa được bao xa, gã vỗ vào chiếc rìu, bảo:

— Rìu ơi! Hãy bổ vỡ đầu lão ẩn sĩ kia, rồi mang viên ngọc về cho ta!

Chiếc rìu bay vút đi, bổ vỡ đầu vị ẩn sĩ, mang viên ngọc về.

Gã giấu chiếc rìu đi, rồi tới thăm người em thứ hai. Gã ở lại với vị ẩn sĩ mấy ngày, chẳng mấy chốc đã biết phép lạ của cái trống. Gã lại đổi viên ngọc lấy cái trống như lần trước, và như lần trước, sai chiếc rìu bổ vỡ đầu người chủ cái trống. Sau đó, gã tới chỗ người út trong ba vị ẩn sĩ, biết được phép lạ của cái bát sữa, đem viên ngọc đổi lấy cái bát, rồi như lần trước, sai chiếc rìu bổ vỡ đầu vị ẩn sĩ.

Thế là gã làm chủ cả bốn báu vật: viên ngọc, chiếc rìu, cái trống và cái bát sữa.

Gã bay lên trời, đi tiếp. Dừng lại gần thành Ba-la-nại, gã viết một lá thư, nhờ người mang tới nhà vua, bảo vua hoặc ra đánh với gã, hoặc phải nộp nước.

Nhận được thư, nhà vua kéo quân ra, quyết "bắt lấy tên khốn kiếp". Nhưng gã đánh vào một mặt trống, lập tức một đạo quân bốn binh chủng hiện ra vây quanh gã. Thấy nhà vua đã dàn quân, gã úp ngược cái bát sữa xuống, một dòng sông lớn tuôn ra, bao nhiêu người chết đuối trong dòng sông sữa chua ấy. Rồi gã vỗ vào chiếc rìu.

— Mang đầu nhà vua về đây cho ta! Gã thét lên.

Chiếc rìu bay vút đi, rồi quay về, thả cái đầu của nhà vua xuống dưới chân gã. Chẳng ai dám giơ tay chống lại gã.

Thế là có cả một đạo quân hùng hậu vây quanh, gã tiến vào kinh thành, làm lễ rưới nước lên ngôi vua, lấy hiệu là vua Đa-đi Va-ha-na, nghĩa là vua Cưỡi Dòng Sữa Chua. Gã trị nước cũng công minh.

Một hôm, nhà vua đang quăng lưới dưới sông cho vui, thì vớt được một quả xoài ngon như món ăn của thần tiên, trôi xuống từ hồ Can-na-mun-đa. Kéo lưới lên, người ta thấy quả xoài, đem dâng vua. Đó là một quả xoài to bằng cái chậu, tròn trịa, vàng óng. Vua hỏi quả gì, những người đi rừng tâu là quả xoài. Vua ăn quả xoài, cho đem hột trồng trong vườn thượng uyển, tưới bằng nước pha sữa.

Hột xoài nảy mầm, lớn lên thành cây, ba năm sau thì ra quả. Cây xoài được tôn thờ vô cùng: người ta tưới nước pha sữa quanh gốc, treo lên cây những vòng hoa thơm, kết hoa quấn quanh thân, thắp một ngọn đèn đổ dầu thơm cháy suốt ngày đêm, quây quanh cây một tấm màn vải. Quả xoài ngọt lịm, vàng óng như vàng ròng.

Vua Đa-đi Va-ha-na mỗi lần đem xoài làm quà biếu các vua khác, đều lấy gai chích vào chỗ mầm sẽ mọc trên hột xoài, vì sợ người ta đem trồng mà có được cây giống thế. Các vua kia ăn xoài xong, đem hột trồng, nhưng không sao làm cho nó mọc rễ được. Họ dò hỏi nguyên do, và biết được chuyện ấy.

Có một ông vua hỏi người làm vườn của mình xem có cách nào làm cho xoài ấy mất ngon, làm cho quả đắng ngay trên cây không. Người làm vườn tâu là được. Ông vua bèn cho anh ta một nghìn đồng, sai đi làm việc ấy.

Vừa tới Ba-la-nại, người làm vườn cho người vào tâu vua rằng có một người làm vườn xin vào. Vua cho vào. Anh ta chào vua xong, vua hỏi:

— Ngươi là người làm vườn à?

— Tâu bệ hạ, vâng ạ.

Rồi anh ta bắt đầu tự khen tài mình.

— Được lắm, nhà vua bảo. Ngươi vào giúp người coi vườn của ta.

Từ đó, cả hai người cùng trông coi vườn thượng uyển.

Người làm vườn mới tới làm cho khu vườn đẹp hơn hẳn, ép cho hoa nở trái mùa, quả chín trái mùa. Vua hài lòng lắm, cho người coi vườn cũ nghỉ, giao hẳn khu vườn cho người mới. Vừa nắm được khu vườn trong tay, anh ta trồng ngay những cây sầu đâu và dây leo quanh cây xoài quý. Dần dần, cây sầu đâu mọc lên. Trên cũng như dưới, rễ quấn lấy rễ, cành quấn lấy cành, tất cả quấn chặt lấy cây xoài. Thế là cây xoài quả ngọt, chỉ vì ở cạnh thứ cây hôi hám, chua đắng ấy, mà quả cũng hoá đắng như lá sầu đâu. Biết quả xoài đã hoá đắng rồi, người làm vườn lập tức chuồn mất.

Vua Đa-đi Va-ha-na đi dạo trong vườn thượng uyển, cắn một miếng xoài. Nước xoài trong miệng đắng ngắt như lá sầu đâu, không sao nuốt nổi, vua phải ho sặc sụa mà nhổ ra.

Hồi ấy, đức Bồ Tát là vị quan cố vấn cả việc đời lẫn việc đạo của nhà vua. Vua quay sang hỏi chàng:

— Hỡi người hiền trí, cây này vẫn được chăm bón cẩn thận như xưa, vậy mà quả lại hoá đắng. Thế là nghĩa làm sao?

Rồi vua đọc câu kệ:

— Xưa vị xoài ngọt lịm, hương thơm ngát, màu vàng óng. Cớ sao nay đắng ngắt, khi ta vẫn chăm như cũ?

Đức Bồ Tát đọc câu kệ giải thích:

— Quanh thân cây quấn quýt, cành quấn cành, rễ quấn rễ, kìa cây đắng leo lên, chính nó làm hỏng quả. Bệ hạ thấy đấy, bạn xấu kéo cả người tốt theo mình.

Nói rồi, đức Bồ Tát cho nhổ hết những cây sầu đâu và dây leo, đào tận rễ. Chàng cho bới hết đất độc đi, thay vào đất ngọt, rồi cẩn thận tưới cho cây xoài bằng nước ngọt, nước pha sữa, nước thơm. Hút được ngần ấy vị ngọt, quả xoài lại ngọt như xưa.

Nhà vua giao lại khu vườn cho người coi vườn cũ, và khi hết đời thì ra đi theo nghiệp của mình.

Đức Phật kể xong chuyện này thì cho biết: vị quan hiền trí thuở ấy chính là Ngài.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKinh Bổn Sinh (Jataka)
Xuất bản lần đầu1895
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Dadhivahana-Jataka, Jataka số 186, Kinh Bổn Sinh (tạng Pali); dịch từ bản tiếng Anh The Jataka, or Stories of the Buddha's Former Births, tập 2, W. H. D. Rouse dịch, E. B. Cowell chủ biên, 1895
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →