Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Chuyện rừng Tôn-tla

của Andrew Lang

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 19.109 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày xửa ngày xưa, giữa một xứ sở đầy…
  2. 3:06Im nào.
  3. 4:49Cô con gái bảo En-xa:
  4. 6:20Nhưng En-xa chẳng biết bài hát nào, nên cô…
  5. 8:00Nghe vậy, En-xa quỳ sụp xuống, hôn tay hôn…
  6. 10:04Con đừng sợ. Hình nhân bằng đất sét này…
  7. 13:32Con yêu dấu của ta, đã tới lúc chúng…
  8. 16:13Sáng ra người ta thấy bác cũng chết, người…

Ngày xửa ngày xưa, giữa một xứ sở đầy hồ nước, có một vùng đất hoang mênh mông tên là rừng Tôn-tla, nơi chưa người nào dám đặt chân tới. Thỉnh thoảng cũng có vài kẻ gan dạ vì tò mò mà mò tới ven rừng. Lúc về, họ kể đã thoáng thấy một ngôi nhà đổ nát giữa một lùm cây rậm rạp, xung quanh có một đám đông những sinh vật trông giống người, lúc nhúc trên cỏ như bầy ong. Đàn ông thì bẩn thỉu, rách rưới, ngoài ra còn có cả một lũ bà già và trẻ con nửa trần nửa truồng.

Một đêm nọ, có bác nông dân đi ăn cỗ về, lạc vào rừng Tôn-tla sâu hơn một chút, và lúc về cũng kể y như thế. Vô số đàn bà và trẻ con quây quanh một đống lửa khổng lồ, người ngồi bệt dưới đất, người nhảy những điệu nhảy kỳ quặc trên bãi cỏ phẳng. Một mụ già cầm một cái muôi sắt to bản, chốc chốc lại khều lửa. Nhưng hễ mụ chạm vào đống tro hồng là lũ trẻ chạy tán loạn, rít lên như cú đêm, mãi lâu sau mới dám rón rén quay lại.

Chưa hết, đã một hai lần người ta thấy một ông lão bé loắt choắt, râu dài, lom khom bò ra khỏi rừng, vác một cái bao to hơn cả người. Đám đàn bà trẻ con chạy theo bên cạnh, khóc lóc, cố giằng cái bao khỏi lưng lão, nhưng lão hất họ ra rồi cứ thế đi. Lại còn chuyện về một con mèo đen oai vệ to bằng con ngựa non. Có điều người ta không tin nổi hết những chuyện kỳ lạ bác nông dân kể, và khó mà phân biệt trong chuyện của bác đâu là thật, đâu là bịa.

Dù sao thì ở đó quả có xảy ra những điều kỳ lạ. Vua Thuỵ Điển, chủ của vùng đất này, đã hơn một lần ra lệnh đốn sạch khu rừng ma ám ấy, nhưng chẳng ai đủ gan tuân lệnh. Cuối cùng có một người gan hơn cả bổ rìu vào một gốc cây. Nhưng nhát rìu vừa bổ xuống thì máu tuôn ra thành dòng, kèm theo những tiếng thét như tiếng người đau đớn. Bác tiều phu kinh hãi bỏ chạy nhanh hết sức chân. Từ đó, chẳng mệnh lệnh hay lời đe doạ nào lùa được ai tới vùng đất bị yểm bùa ấy nữa.

Cách rừng Tôn-tla vài dặm có một ngôi làng lớn. Trong làng có một bác nông dân vừa lấy vợ mới còn trẻ. Như chuyện vẫn thường xảy ra trong những trường hợp như thế, chị vợ làm đảo lộn cả nhà, hai vợ chồng cãi nhau, đánh nhau suốt ngày.

Với người vợ trước, bác nông dân có một cô con gái tên là En-xa. Cô là một cô bé ngoan ngoãn, hiền lành, chỉ mong được sống yên ổn, nhưng mẹ kế không để cô yên. Mụ đánh, mụ tát đứa trẻ tội nghiệp từ sáng tới tối. Mà mụ lại nắm đằng chuôi với chồng, nên chẳng có cách gì cứu được.

En-xa chịu cảnh hành hạ ấy suốt hai năm. Rồi một hôm, cô đi hái dâu tây với lũ trẻ trong làng. Chúng vô tư đi mãi, tới tận bìa rừng Tôn-tla, nơi mọc những quả dâu ngon nhất, đỏ rực cả thảm cỏ. Lũ trẻ sà xuống đất, ăn tới chán chê rồi mới bắt đầu hái đầy giỏ. Bỗng một cậu lớn tuổi hơn cả hét lên:

— Chạy đi, chạy nhanh lên! Chúng mình đang ở rừng Tôn-tla!

Nhanh hơn chớp, lũ trẻ bật dậy, cắm đầu chạy như điên. Chỉ trừ En-xa. Cô đã đi xa hơn những đứa khác, và vừa tìm thấy một khóm dâu tuyệt đẹp ngay dưới tán cây. Cô cũng nghe tiếng cậu bé hét, nhưng không nỡ rời đám dâu. Cô nghĩ:

— Mà thôi, có sao đâu? Người ở rừng Tôn-tla chắc cũng chẳng ác hơn mẹ kế mình.

Ngẩng lên, cô thấy một con chó nhỏ lông đen, cổ đeo chiếc chuông bạc, sủa ăng ẳng chạy về phía mình. Theo sau là một cô bé mặc toàn lụa.

Cô bé bảo con chó:

— Im nào.

Rồi cô quay sang En-xa:

— Mình mừng quá, bạn không bỏ chạy theo lũ trẻ kia. Ở lại đây làm bạn với mình đi, mình sẽ cùng chơi những trò thật vui, ngày nào cũng đi hái dâu. Mình mà bảo đừng thì chẳng ai dám đánh bạn đâu. Đi nào, mình đưa bạn tới gặp mẹ mình.

Cô bé nắm tay En-xa dắt vào sâu trong rừng, con chó đen nhỏ nhảy cẫng bên cạnh, sủa lên vui sướng.

Ôi, bao nhiêu điều kỳ diệu, lộng lẫy hiện ra trước đôi mắt sững sờ của En-xa! Cô tưởng mình đang ở trên thiên đàng thật. Cây ăn trái và bụi cây trĩu quả đứng trước mặt, trên cành là những con chim sặc sỡ hơn cả cánh bướm rực rỡ nhất, hót vang khắp không gian. Lũ chim chẳng sợ người, để hai cô bé nâng lên tay, vuốt ve bộ lông vàng lông bạc. Giữa khu vườn là ngôi nhà ở, lấp lánh kính và đá quý. Ở ngưỡng cửa có một người đàn bà áo quần sang trọng đang ngồi. Bà quay sang cô bạn của En-xa hỏi:

— Con mang về cho mẹ vị khách nào thế này?

— Con thấy bạn ấy một mình trong rừng, nên đưa về làm bạn với con. Mẹ cho bạn ấy ở lại nhé?

Người mẹ cười, nhưng không nói gì, chỉ nhìn En-xa từ đầu tới chân thật kỹ. Rồi bà bảo cô bé lại gần, vuốt má cô, dịu dàng hỏi cha mẹ cô có còn sống không, cô có thật lòng muốn ở lại với họ không. En-xa cúi xuống hôn tay bà, rồi quỳ xuống, úp mặt vào lòng bà mà nức nở:

— Mẹ con đã nằm dưới đất nhiều năm rồi. Cha con còn sống, nhưng với cha con chẳng là gì cả, còn mẹ kế thì đánh con suốt ngày. Con làm gì cũng chẳng vừa ý mẹ kế. Con xin bà cho con ở lại với bà. Con sẽ chăn đàn gia súc, hay bà bảo việc gì con cũng làm. Bà nói gì con cũng nghe, chỉ xin bà đừng trả con về với mẹ kế. Mẹ kế sẽ đánh con gần chết vì không về cùng lũ trẻ kia.

Người đàn bà mỉm cười:

— Được rồi, để xem ta làm gì được cho con.

Rồi bà đứng dậy, đi vào nhà.

Cô con gái bảo En-xa:

— Đừng sợ gì cả, mẹ mình sẽ là bạn của bạn. Nhìn cách mẹ nhìn bạn là mình biết, nghĩ kỹ rồi mẹ sẽ bằng lòng thôi.

Cô dặn En-xa đứng chờ, rồi vào nhà tìm mẹ. En-xa đứng đó, lòng lúc hy vọng lúc lo sợ, thấy như cô bé kia sẽ chẳng bao giờ ra nữa.

Cuối cùng En-xa thấy cô bạn băng qua bãi cỏ đi tới, tay cầm một chiếc hộp.

— Mẹ mình bảo hôm nay hai đứa mình cứ chơi với nhau, vì mẹ còn phải nghĩ xem nên làm gì với bạn. Nhưng mình mong bạn ở đây mãi mãi, mình không chịu được nếu bạn đi đâu. Bạn đã ra biển bao giờ chưa?

En-xa tròn mắt hỏi:

— Biển? Biển là gì? Mình chưa nghe nói tới thứ ấy bao giờ!

— Ồ, mình cho bạn xem ngay đây.

Cô bé mở nắp hộp. Dưới tận đáy có một mẩu áo choàng, một vỏ trai và hai cái vảy cá. Trên mẩu áo có hai giọt nước long lanh. Cô bé rảy hai giọt nước xuống đất. Ngay tức khắc khu vườn, bãi cỏ và mọi thứ biến mất hoàn toàn, như thể đất nứt ra nuốt chửng tất cả. Mắt nhìn tới đâu cũng chỉ thấy nước, nước tới tận chân trời, như chạm vào tận trời xanh. Chỉ dưới chân hai cô bé còn một khoảng khô bé tí.

Cô bé đặt chiếc vỏ trai lên mặt nước, tay cầm hai cái vảy cá. Vỏ trai lớn dần, lớn dần, biến thành một con thuyền nhỏ xinh xắn chở được cả chục đứa trẻ. Hai cô bé bước xuống thuyền. En-xa bước rất rón rén, bị cô bạn cười cho một trận. Cô bạn dùng hai cái vảy cá làm bánh lái. Sóng khẽ đu đưa hai cô bé như nằm trong nôi, và họ trôi mãi cho tới khi gặp những con thuyền khác chở đầy người, đang ca hát vui đùa.

Cô bé nói:

— Mình phải hát đáp lại họ một bài.

Nhưng En-xa chẳng biết bài hát nào, nên cô bé phải hát một mình. En-xa không hiểu bài hát nào của những người kia cả, nhưng cô để ý thấy có một từ cứ lặp đi lặp lại, đó là "Ki-xi-ca". En-xa hỏi từ ấy nghĩa là gì, cô bé đáp đó là tên của cô.

Vui quá chừng, hai cô bé có lẽ ở đó mãi mãi nếu không có một giọng gọi:

— Các con ơi, tới giờ về nhà rồi!

Ki-xi-ca lấy chiếc hộp nhỏ trong túi ra, mẩu vải vẫn nằm trong đó. Cô nhúng mẩu vải xuống nước, và kìa! Hai cô bé đã đứng ngay cạnh ngôi nhà lộng lẫy giữa khu vườn. Mọi thứ quanh họ lại khô ráo, vững chãi, chẳng còn chút nước nào. Vỏ trai và vảy cá được cất lại vào hộp, rồi hai cô bé vào nhà.

Họ bước vào một gian sảnh lớn. Hai mươi bốn người đàn bà áo quần lộng lẫy ngồi quanh một chiếc bàn, trông như sắp đi dự đám cưới. Ở đầu bàn, bà chủ nhà ngồi trên một chiếc ghế bằng vàng.

En-xa chẳng biết nhìn vào đâu, vì cái gì đập vào mắt cũng đẹp hơn cả những gì cô dám mơ. Nhưng cô vẫn ngồi xuống cùng mọi người, ăn mấy thứ quả ngon tuyệt, và nghĩ chắc mình đang ở trên thiên đàng. Khách khứa nói chuyện khe khẽ, nhưng thứ tiếng của họ lạ hoắc với En-xa, cô chẳng hiểu gì cả.

Rồi bà chủ quay lại thì thầm gì đó với một cô hầu đứng sau ghế. Cô hầu đi ra, lúc quay lại dẫn theo một ông lão bé nhỏ có bộ râu dài hơn cả người. Ông cúi chào bà chủ thật thấp, rồi đứng yên lặng gần cửa.

Bà chủ nhà chỉ vào En-xa:

— Ông thấy cô bé này chứ? Ta muốn nhận cô bé làm con nuôi. Ông nặn cho ta một bản sao của cô bé, để gửi về làng thay cho cô bé.

Ông lão nhìn En-xa từ đầu tới chân như đang đo người, lại cúi chào bà chủ, rồi đi ra khỏi sảnh.

Ăn xong, bà chủ dịu dàng bảo En-xa:

— Ki-xi-ca xin ta cho con ở lại với nó, còn con thì bảo nó rằng con muốn sống ở đây. Có đúng thế không?

Nghe vậy, En-xa quỳ sụp xuống, hôn tay hôn chân bà để tạ ơn bà đã cứu cô khỏi người mẹ kế độc ác. Nhưng bà chủ đỡ cô dậy, xoa đầu cô:

— Mọi chuyện sẽ ổn cả, chừng nào con còn là một đứa trẻ ngoan ngoãn, biết vâng lời. Ta sẽ chăm sóc con, lo cho con chẳng thiếu thứ gì, cho tới khi con khôn lớn, tự lo được cho mình. Cô hầu của ta vẫn dạy Ki-xi-ca đủ thứ việc thêu thùa khéo léo, cô ấy cũng sẽ dạy con.

Ít lâu sau, ông lão quay lại, vai vác một cái khuôn đầy đất sét, tay trái xách một chiếc giỏ nhỏ có nắp đậy. Ông đặt khuôn và giỏ xuống đất, bốc một nắm đất sét, nặn thành một con búp bê to như người thật. Nặn xong, ông khoét một cái lỗ trên ngực búp bê, nhét vào một mẩu bánh mì. Rồi ông lôi trong giỏ ra một con rắn, bắt nó chui vào trong cái thân rỗng.

Ông nói với bà chủ:

— Giờ chỉ còn thiếu một giọt máu của cô bé.

Nghe thế, En-xa tái mặt vì kinh hãi, vì cô tưởng mình đang bán linh hồn cho quỷ dữ.

Bà chủ vội nói:

— Đừng sợ! Chúng ta không lấy máu của con để làm điều gì xấu đâu, mà là để đem lại cho con tự do và hạnh phúc.

Rồi bà lấy một cây kim vàng bé xíu, chích nhẹ vào tay En-xa, rồi đưa cây kim cho ông lão. Ông cắm nó vào giữa tim con búp bê. Xong xuôi, ông đặt hình nhân vào giỏ, hứa rằng hôm sau mọi người sẽ được xem ông đã làm xong một tác phẩm đẹp đẽ thế nào.

Sáng hôm sau, En-xa thức dậy trên chiếc giường lụa với những chiếc gối trắng mềm mại. Cô thấy một bộ áo đẹp vắt trên lưng ghế, chờ cô mặc vào. Một cô hầu bước vào chải mái tóc dài cho cô, mang tới thứ vải lanh mịn nhất cho cô dùng. Nhưng chẳng gì khiến En-xa vui sướng bằng đôi giày thêu nhỏ xinh cô đang cầm trên tay, vì từ trước tới giờ mẹ kế độc ác bắt cô đi chân đất.

Mừng quá, cô chẳng mảy may nhớ tới bộ quần áo thô ráp mình mặc hôm qua, giờ đã biến mất trong đêm như có phép. Ai lấy mất nhỉ? À, rồi cô sẽ biết. Nhưng chúng ta thì đoán được rằng người ta đã mặc nó cho con búp bê sẽ về làng thay cô. Tới lúc mặt trời mọc, con búp bê đã lớn đủ cỡ, và chẳng ai phân biệt được cô gái này với cô gái kia. En-xa giật mình lùi lại khi đối diện với chính mình, đúng như mình của ngày hôm qua.

Thấy cô hoảng sợ, bà chủ bảo:

— Con đừng sợ. Hình nhân bằng đất sét này không làm hại gì con được đâu. Nó là để dành cho mẹ kế con, để mụ đánh nó thay vì đánh con. Mụ có quất nó mạnh tới đâu, nó cũng chẳng bao giờ thấy đau. Còn nếu một ngày nào đó người đàn bà độc ác ấy không chịu hối cải, thì cuối cùng bản sao của con sẽ trừng phạt mụ đích đáng.

Từ đó, đời En-xa là đời của một đứa trẻ sung sướng bình thường, như một đứa trẻ từ thuở lọt lòng đã được ru ngủ trong chiếc nôi vàng xinh đẹp. Cô chẳng có nỗi lo nỗi buồn nào, việc học mỗi ngày một dễ hơn, những năm tháng trước kia càng ngày càng giống một cơn ác mộng. Nhưng càng sung sướng, cô càng thắc mắc về mọi thứ quanh mình, càng tin chắc rằng hẳn có một quyền năng lớn lao bí ẩn nào đứng sau tất cả.

Giữa sân, cách nhà chừng hai mươi bước, có một khối đá hoa cương khổng lồ. Tới giờ ăn, ông lão râu dài lại tới chỗ khối đá, rút ra một cây gậy bạc nhỏ, gõ vào đá ba lần, tiếng vang xa tít. Tới tiếng gõ thứ ba, một con gà trống vàng to lớn nhảy ra, đứng trên tảng đá. Hễ nó gáy và vỗ cánh là tảng đá mở ra, và có thứ gì đó từ trong đá đi ra.

Đầu tiên là một chiếc bàn dài bày sẵn bát đĩa, vừa đủ cho số người sẽ ngồi quanh, và chiếc bàn tự bay vào nhà. Gà trống gáy lần thứ hai, một loạt ghế hiện ra, bay theo chiếc bàn. Rồi rượu, táo và đủ thứ hoa quả, chẳng ai phải mó tay vào. Khi mọi người ăn uống no nê, ông lão lại gõ vào tảng đá. Con gà vàng lại gáy, và bát đĩa, bàn ghế lại bay hết vào giữa khối đá.

Nhưng tới lượt món thứ mười ba, món chẳng bao giờ có ai muốn ăn, thì một con mèo đen khổng lồ chạy tới, đứng trên tảng đá sát cạnh con gà trống, còn món ăn thì ở phía bên kia. Chúng cứ đứng yên như thế cho tới khi ông lão tới. Ông một tay nhấc đĩa thức ăn, một tay cắp con mèo vào nách, bảo con gà trống nhảy lên vai, rồi cả bốn biến mất vào trong tảng đá. Mà tảng đá kỳ diệu ấy không chỉ chứa thức ăn, mà cả áo quần và mọi thứ người ta có thể cần trong nhà.

Thoạt đầu, trong bữa ăn người ta thường nói một thứ tiếng lạ với En-xa. Nhưng nhờ bà chủ và cô con gái giúp, cô dần dần hiểu được, dù phải mất nhiều năm cô mới nói được.

Một hôm, cô hỏi Ki-xi-ca vì sao ngày nào món thứ mười ba cũng được bưng lên bàn rồi lại bưng đi nguyên vẹn, nhưng Ki-xi-ca cũng chẳng biết gì hơn cô. Có điều hẳn cô bé đã kể lại với mẹ những gì En-xa nói, vì mấy hôm sau, bà chủ nghiêm trang bảo En-xa:

— Con đừng tự làm khổ mình bằng những thắc mắc vô ích. Con muốn biết vì sao chúng ta không bao giờ ăn món thứ mười ba à? Con yêu ạ, đó là món của những phúc lành ẩn giấu, và nếu nếm vào thì cuộc sống hạnh phúc của chúng ta ở đây sẽ chấm dứt. Thế gian này sẽ tốt đẹp hơn nhiều nếu con người, vì lòng tham, không tìm cách giành giật mọi thứ về mình, mà biết chừa lại một phần làm lễ tạ ơn đấng ban phúc. Lòng tham là thói xấu tệ hại nhất của con người.

Năm tháng trôi qua với En-xa nhanh như gió. Cô lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp, hiểu biết nhiều điều mà ở làng quê cô chẳng bao giờ học được. Nhưng Ki-xi-ca thì vẫn là cô bé như hôm đầu tiên gặp En-xa. Sáng nào hai người cũng học đọc học viết một giờ như vẫn làm xưa nay. En-xa háo hức học được càng nhiều càng tốt, còn Ki-xi-ca thì thích những trò trẻ con hơn mọi thứ. Hễ nổi hứng, cô bé lại vứt bài vở sang một bên, cầm chiếc hộp báu vật, đi chơi ngoài biển, và chẳng bao giờ gặp điều gì không hay.

Cô bé thường bảo En-xa:

— Tiếc ghê, bạn lớn quá mất rồi, chẳng chơi với mình được nữa.

Chín năm trôi qua như thế. Rồi một hôm, bà chủ gọi En-xa vào phòng. En-xa ngạc nhiên vì lời gọi ấy, bởi chuyện này hiếm khi có, và tim cô thắt lại, vì cô sợ có điều gì chẳng lành sắp tới. Vừa bước qua ngưỡng cửa, cô thấy má bà ửng đỏ, mắt đầy lệ. Bà vội lau đi như muốn giấu cô.

— Con yêu dấu của ta, đã tới lúc chúng ta phải chia tay.

En-xa kêu lên, úp đầu vào lòng bà:

— Chia tay? Không đâu bà ơi, chừng nào cái chết chưa chia lìa chúng ta thì không bao giờ có chuyện ấy. Bà đã có lần dang tay đón con, giờ bà không thể đẩy con đi được.

— Ôi, im đi con. Con đâu biết ta sẵn lòng làm những gì để con được hạnh phúc. Giờ con đã là một thiếu nữ, ta không có quyền giữ con ở đây nữa. Con phải trở về thế giới loài người, nơi niềm vui đang chờ con.

En-xa lại van xin:

— Bà ơi, con xin bà đừng đuổi con đi. Con không cần hạnh phúc nào khác ngoài được sống và chết bên bà. Bà cho con làm hầu gái của bà, hay sai con bất cứ việc gì bà muốn, nhưng đừng ném con ra ngoài đời. Thà ngày ấy bà để con ở lại với mẹ kế, còn hơn đưa con lên thiên đàng rồi lại đẩy con về một nơi tệ hơn.

— Đừng nói thế, con yêu. Con đâu biết hết những gì phải làm để con được hạnh phúc, dù ta có phải chịu khổ tới đâu. Nhưng chuyện phải thế. Con chỉ là một người trần mắt thịt, một ngày nào đó sẽ phải chết, con không thể ở đây lâu hơn nữa. Chúng ta tuy có thân hình như người, nhưng chẳng phải là người, dù con khó mà hiểu được vì sao. Một ngày nào đó con sẽ gặp một người chồng được tạo ra chỉ để dành cho con, và con sẽ sống hạnh phúc bên người ấy cho tới khi cái chết chia lìa. Xa con, ta đau lòng lắm, nhưng chuyện phải thế, con phải chấp nhận thôi.

Rồi bà nhẹ nhàng lấy chiếc lược vàng chải tóc cho En-xa, bảo cô đi ngủ. Nhưng cô gái tội nghiệp chẳng ngủ được mấy! Cuộc đời trải ra trước mặt cô như một đêm tối mịt không sao.

Giờ hãy ngoảnh lại một chút, xem suốt những năm ấy, ở làng quê của En-xa đã xảy ra những gì, và bản sao của cô ra sao. Ai cũng biết, một người đàn bà độc ác hiếm khi tốt lên khi về già, và mẹ kế của En-xa cũng chẳng phải ngoại lệ. Nhưng hình nhân thay chỗ cô gái không biết đau, nên những trận đòn trút xuống nó cả ngày lẫn đêm chẳng hề hấn gì. Nếu người cha có lúc định bênh con, mụ vợ lại quay ra đánh chồng, và mọi chuyện còn tệ hơn trước.

Một hôm, mẹ kế đánh cô gái một trận khủng khiếp, rồi doạ sẽ giết luôn. Điên tiết, mụ đưa cả hai tay bóp cổ hình nhân. Lập tức một con rắn đen từ miệng hình nhân chui ra, mổ vào lưỡi mụ, và mụ ngã vật xuống chết không kịp kêu một tiếng.

Tối đến, người chồng về nhà thấy vợ nằm chết dưới đất, người sưng phù, biến dạng, còn cô con gái thì chẳng thấy đâu. Bác kêu thét lên, hàng xóm từ các nhà chạy sang, nhưng chẳng ai giải thích được mọi chuyện xảy ra thế nào. Họ bảo quả là khoảng giữa trưa có nghe ầm ĩ lắm, nhưng ngày nào chẳng thế, nên họ chẳng để ý. Suốt phần còn lại của ngày thì yên ắng, nhưng chẳng ai thấy cô con gái đâu cả.

Người ta khâm liệm thi thể người đàn bà để mai táng. Người chồng mệt mỏi đi ngủ, trong lòng mừng thầm vì đã thoát khỏi cái mồi lửa làm nhà cửa chẳng lúc nào yên. Trên bàn bác thấy một mẩu bánh mì, đang đói, bác ăn luôn rồi mới ngủ.

Sáng ra người ta thấy bác cũng chết, người sưng phù như vợ, vì mẩu bánh mì ấy chính là mẩu bánh ông lão đã nhét vào thân hình nhân lúc nặn nó. Mấy hôm sau, bác được chôn cạnh vợ, còn cô con gái thì không ai nghe tin tức gì nữa.

Cả đêm sau buổi nói chuyện với bà chủ, En-xa khóc than cho số phận cay đắng của mình, bị đẩy ra khỏi mái nhà cô yêu thương.

Sáng hôm sau, khi cô thức dậy, bà chủ đeo vào ngón tay cô một chiếc nhẫn ấn bằng vàng, xỏ một chiếc hộp vàng nhỏ vào một dải ruy băng rồi quàng vào cổ cô. Rồi bà gọi ông lão tới, cố nén nước mắt từ biệt En-xa. Cô gái định nói, nhưng chưa kịp nức nở nói lời cảm tạ thì ông lão đã khẽ chạm cây gậy bạc lên đầu cô ba lần.

Ngay tức khắc, En-xa biết mình đang hoá thành chim. Đôi cánh mọc ra dưới cánh tay, chân thành chân đại bàng với những móng vuốt dài, mũi cong lại thành chiếc mỏ sắc, lông vũ phủ kín người. Rồi cô bay vút lên cao, lượn về phía những đám mây, như thể cô vốn sinh ra là một con đại bàng.

Mấy ngày liền cô bay đều về phương nam, thỉnh thoảng nghỉ chân khi mỏi cánh, còn đói thì cô chẳng bao giờ thấy đói. Rồi một hôm, cô đang bay qua một khu rừng rậm, bên dưới bầy chó săn sủa dữ dội, vì chúng không có cánh nên chẳng với tới cô. Bỗng một cơn đau nhói xuyên qua người, cô rơi xuống đất, bị một mũi tên xuyên trúng.

Khi En-xa tỉnh lại, cô thấy mình nằm dưới một bụi cây, đã trở lại hình dạng thật của mình. Chuyện gì đã xảy ra, làm sao cô tới được đây, tất cả lùi lại phía sau như một giấc mơ dữ.

Cô đang băn khoăn không biết phải làm gì tiếp thì hoàng tử con vua cưỡi ngựa đi ngang qua. Thấy En-xa, chàng nhảy xuống ngựa, nắm tay cô:

— Ôi! Thật là một dịp may đã đưa ta tới đây sáng nay. Suốt nửa năm nay, đêm nào ta cũng mơ rằng một ngày kia ta sẽ tìm thấy nàng trong khu rừng này. Ta đã đi qua đây hàng trăm lần mà chẳng thấy gì, nhưng chưa bao giờ ta mất hy vọng. Hôm nay ta đi tìm một con đại bàng lớn ta vừa bắn trúng, và thay cho con đại bàng, ta đã tìm thấy nàng.

Rồi chàng đỡ En-xa lên ngựa, đưa cô về kinh thành, nơi ông vua già ân cần đón tiếp cô.

Mấy hôm sau, đám cưới được cử hành. Khi En-xa đang sửa tấm khăn voan trên tóc thì có năm mươi cỗ xe tới, chở đầy những vật đẹp đẽ mà bà chủ rừng Tôn-tla gửi tặng En-xa. Sau khi vua băng hà, En-xa trở thành hoàng hậu. Lúc về già, bà đã kể lại câu chuyện này. Nhưng đó là lần cuối cùng người ta còn nghe nói tới rừng Tôn-tla.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1866
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện dân gian E-xtô-ni-a, F. R. Kreutzwald sưu tầm, theo bản Đức Ehstnische Märchen, 1869; dịch từ bản tiếng Anh A Tale of the Tontlawald, Andrew Lang, The Violet Fairy Book, 1901
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →