Ngày xưa có một ông vua và một bà hoàng hậu sống trong toà lâu đài tráng lệ, cai trị một xứ sở rộng lớn, tươi đẹp, giàu có và yên vui. Ngay từ buổi đầu, hai người đã thương nhau hết mực, sống với nhau rất hạnh phúc, chỉ phải một nỗi là không có người nối dõi.
Lấy nhau đã bảy năm mà chẳng có con trai cũng chẳng có con gái, điều đó khiến cả hai buồn khổ vô cùng. Đã không ít lần, lúc nóng giận, nhà vua trút cả lên đầu bà hoàng hậu đáng thương. Vua bảo vợ chồng đã già cả rồi mà mình không có con, vương quốc không có người kế vị, tất cả là tại bà. Nghe thế cay đắng lắm, bà hoàng hậu chỉ biết đi ra một chỗ mà khóc, mà tự dằn vặt mình.
Cuối cùng, một hôm nhà vua bảo hoàng hậu:
— Thế này thì không chịu nổi nữa. Ta cứ phải sống không con, mà lỗi là ở bà. Ta sẽ đi xa một năm. Khi ta về mà bà có con, thì mọi chuyện êm đẹp, ta sẽ thương bà hơn tất thảy, không bao giờ nói nặng với bà một lời. Nhưng nếu ta về mà tổ vẫn trống không như cũ, thì ta đành phải bỏ bà.
Vua đi rồi, hoàng hậu một mình thui thủi, càng buồn khổ, càng dằn vặt hơn bao giờ hết. Một hôm, cô hầu gái thưa với bà:
— Con nghĩ là có cách giúp được, nếu lệnh bà chịu tìm.
Rồi cô kể về một bà lão thông thái trong xứ, đã giúp được nhiều người gặp cảnh khó y như thế, và chắc chắn cũng giúp được hoàng hậu, nếu hoàng hậu cho mời bà tới. Hoàng hậu cho mời. Bà lão thông thái tới, và hoàng hậu giãi bày hết nỗi buồn của mình: bà không có con, nhà vua và vương quốc không có người nối dõi.
Bà lão biết cách giúp. Bà nói:
— Ngoài vườn thượng uyển, dưới gốc sồi lớn đứng bên tay trái, ngay chỗ người ta bước ra khỏi lâu đài, có một bụi cây nhỏ, màu nâu nhiều hơn màu xanh, lá có lông, gai dài. Trên bụi cây ấy lúc này có đúng ba cái nụ. Nếu lệnh bà đi một mình ra đó, bụng đói, trước lúc mặt trời mọc, hái cái nụ ở giữa mà ăn, thì sáu tháng nữa lệnh bà sẽ sinh một nàng công chúa. Công chúa vừa sinh ra phải có một bà vú, để tôi lo người. Bà vú này sẽ sống cùng đứa bé ở một góc khuất trong cung, không ai khác được tới thăm. Cả nhà vua lẫn hoàng hậu đều không được nhìn mặt con cho tới khi nó tròn mười bốn tuổi, nếu không sẽ gây ra đau thương và tai hoạ lớn.
Hoàng hậu trọng thưởng bà lão. Sáng hôm sau, khi mặt trời chưa mọc, bà đã ra vườn, tìm ngay ra bụi cây nhỏ có ba cái nụ, hái cái nụ ở giữa mà ăn. Nếm vào thì ngọt, nhưng nuốt xong lại đắng như mật. Sáu tháng sau, bà sinh một bé gái. Bà vú do bà lão thông thái gửi tới đã chờ sẵn. Người ta dọn cho bà vú sống với đứa bé, chỉ hai người với nhau, trong một chái khuất của lâu đài, nhìn ra khu vườn ngự uyển. Hoàng hậu làm đúng như lời bà lão dặn: bà trao con đi ngay, bà vú bế đứa bé về đó mà ở.
Nhà vua về, nghe tin mình có con gái thì dĩ nhiên vui mừng lắm, đòi xem mặt con ngay. Hoàng hậu đành phải kể với vua một phần câu chuyện: rằng đã có lời báo trước, nếu vua hay bà nhìn thấy con trước khi nó tròn mười bốn tuổi thì sẽ gây ra đau thương và tai hoạ lớn.
Phải chờ lâu quá. Nhà vua nóng lòng được nhìn con gái lắm, hoàng hậu cũng không kém gì vua. Nhưng bà biết đứa bé không giống những đứa trẻ khác: nó vừa lọt lòng đã biết nói, lại khôn ngoan như người lớn. Chuyện ấy bà vú kể lại, vì thỉnh thoảng hoàng hậu vẫn nói chuyện với bà vú, còn công chúa thì chưa ai từng nhìn thấy. Hoàng hậu cũng đã thấy tận mắt tài của bà lão thông thái, nên bà nhất mực đòi phải nghe theo lời bà lão. Nhà vua nhiều phen mất kiên nhẫn, nhất quyết đòi đi xem con, nhưng lần nào hoàng hậu cũng gạt đi được. Cứ thế cho tới đúng ngày hôm trước sinh nhật mười bốn tuổi của công chúa.
Hôm ấy vua và hoàng hậu đang dạo ngoài vườn, nhà vua nói:
— Giờ thì ta không thể chờ, mà cũng không thèm chờ nữa. Ta phải xem mặt con gái ta ngay. Sớm muộn vài giờ thì có khác gì đâu.
Hoàng hậu năn nỉ vua kiên nhẫn đến sáng mai. Đã chờ được ngần ấy năm, thì chờ thêm một ngày nữa chắc cũng được. Nhưng nhà vua nhất định không nghe lẽ phải. Vua bảo:
— Đừng nói nhảm. Nó là con ta cũng như con bà, ta phải được xem mặt nó.
Nói rồi vua đi thẳng lên phòng công chúa.
Vua đạp tung cửa, gạt phăng bà vú đang cố ngăn lại, và nhìn thấy con gái mình. Nàng là một nàng công chúa đẹp nhất đời, da trắng má hồng như sữa với máu, mắt xanh trong, tóc vàng óng. Có điều, ngay giữa trán nàng mọc một chỏm tóc nhỏ màu nâu.
Công chúa bước tới đón cha, ôm lấy cổ cha mà hôn. Nhưng rồi nàng nói:
— Ôi cha ơi, cha ơi! Cha vừa làm gì thế này? Ngày mai con phải chết. Còn cha thì phải chọn một trong ba điều: hoặc là cả xứ bị dịch hạch đen hoành hành, hoặc là cha phải đánh một cuộc chiến dài đẫm máu, hoặc là con vừa chết, cha phải đặt con vào một chiếc hòm gỗ trơn, để trong nhà thờ, và suốt một năm ròng, đêm nào cũng phải đặt một người lính gác bên hòm.
Nhà vua sợ hãi lắm, tưởng con đang mê sảng. Nhưng để chiều lòng con, vua bảo:
— Thôi được, trong ba điều ấy ta chọn điều sau cùng. Nếu con chết, ta sẽ đặt con ngay vào một chiếc hòm gỗ trơn, để trong nhà thờ, và đêm nào ta cũng đặt một người lính gác bên cạnh. Nhưng con sẽ không chết đâu, dù bây giờ con có đang ốm.
Vua lập tức triệu tất cả những thầy thuốc giỏi nhất trong nước. Họ kéo tới với đủ thứ đơn thuốc, đủ thứ lọ thuốc. Nhưng sáng hôm sau, công chúa đã cứng đờ, lạnh ngắt. Các thầy thuốc ai nấy đều xác nhận nàng đã chết, cùng ký tên, đóng dấu, thế là họ đã làm hết phần mình.
Nhà vua giữ lời. Ngay hôm ấy, thi hài công chúa được đặt vào một chiếc hòm gỗ trơn, đưa vào nhà nguyện của lâu đài. Đêm ấy và mọi đêm sau đó, một người lính gác được cắt đặt trong nhà thờ để canh chiếc hòm.
Buổi sáng đầu tiên, người ta tới mở cửa cho người lính gác ra, thì chẳng thấy người lính nào nữa. Họ nghĩ chắc anh ta sợ quá bỏ chạy, nên tối hôm sau đặt một người khác vào. Sáng ra, người này cũng biến mất. Đêm nào cũng thế. Sáng nào người ta tới mở cửa cho lính gác ra, cũng chẳng thấy ai, và có bỏ trốn thì cũng không sao biết được họ trốn lối nào. Mà cớ gì ai cũng bỏ trốn, để rồi từ lúc được đặt canh bên chiếc hòm công chúa, chẳng còn ai nghe tin hay thấy mặt họ nữa?
Rồi khắp nơi đồn rằng hồn công chúa hiện về, ăn thịt hết những ai canh hòm nàng. Chẳng bao lâu không còn ai chịu nhận việc ấy, lính của nhà vua đào ngũ trước khi tới lượt mình làm cận vệ cho công chúa. Nhà vua bèn treo một món thưởng lớn cho người lính nào tình nguyện nhận gác. Được một dạo, vì vẫn còn vài gã liều lĩnh muốn kiếm món tiền hậu hĩnh ấy. Nhưng chẳng ai lĩnh được tiền, vì sáng ra họ cũng biến mất như những người khác.
Cứ thế gần trọn một năm. Đêm nào cũng có một người lính được đặt bên hòm, người thì bị ép, người thì tự nguyện, nhưng chẳng một ai còn thấy mặt, cả ngày hôm sau lẫn mãi mãi về sau. Một đêm như thế vừa qua, lại thêm một người biến mất, thì đúng sáng hôm ấy, có một anh thợ rèn trẻ tuổi vui tính đi lang thang tới thành phố có lâu đài của nhà vua. Đây là kinh đô, người khắp nơi đổ về kiếm việc. Anh thợ rèn tên là Kri-xti-an, cũng tới đây vì thế. Ở quê anh không có việc, nên anh lên kinh đô tìm chỗ làm.
Anh vào một quán trọ, ngồi xuống gian phòng chung, gọi chút gì ăn. Trong quán có mấy viên hạ sĩ quan đang đi tìm người nhận gác. Ngày nào họ cũng phải đi như thế, và trước giờ lúc nào cũng vớ được một gã liều nào đó. Nhưng hôm nay họ chưa tìm được ai. Chuyện lính gác ở chỗ ấy biến mất ai cũng biết cả rồi, nên người nào họ gạ cũng cảm ơn mà từ chối. Họ ngồi xuống cạnh Kri-xti-an, gọi rượu, uống cùng anh. Kri-xti-an vốn là gã vui tính, thích có bạn. Anh uống được, hát được, lại nói hay và khoác lác giỏi khi đã ngà ngà hơi men. Anh bảo mấy viên hạ sĩ quan rằng anh thuộc hạng người không bao giờ biết sợ là gì. Họ bảo thế thì đúng là người họ cần, anh có thể kiếm bộn tiền ngay trong ngày, vì nhà vua trả một trăm đồng bạc cho ai chịu đứng gác suốt đêm trong nhà thờ, bên chiếc hòm của con gái vua.
Kri-xti-an chẳng sợ chuyện ấy, anh có biết sợ cái gì đâu. Thế là họ uống thêm một chai rượu nữa cho việc ấy, rồi Kri-xti-an theo họ lên gặp viên đại tá. Người ta mặc quân phục cho anh, đưa súng và đủ thứ khác, rồi nhốt anh vào nhà thờ để đứng gác đêm ấy.
Anh nhận gác lúc tám giờ. Giờ đầu, anh rất tự hào về lòng gan dạ của mình. Giờ thứ hai, anh khoái chí vì món tiền lớn sắp lĩnh. Nhưng sang giờ thứ ba, khi đã gần mười một giờ, hơi rượu tan đi, anh bắt đầu thấy bứt rứt. Anh đã nghe nói về chỗ gác này: chưa ai từng sống sót mà ra, ít ra là người ta biết vậy. Mà cũng chẳng ai biết những người lính gác kia đã đi đâu. Hết rượu rồi, ý nghĩ ấy cứ lởn vởn trong đầu, khiến anh lục khắp nơi tìm đường trốn. Cuối cùng, lúc mười một giờ, anh tìm thấy một cửa ngách nhỏ dưới tháp chuông không khoá, bèn lách ra, định bỏ chạy.
Vừa đặt chân ra khỏi cửa nhà thờ, anh thấy đứng trước mặt mình một người đàn ông nhỏ thó. Người ấy nói:
— Chào Kri-xti-an. Anh đi đâu đấy?
Lập tức anh thấy chân mình như mọc rễ, không nhúc nhích nổi.
Anh đáp:
— Chẳng đi đâu cả.
Người nhỏ thó bảo:
— Có đấy. Anh vừa định bỏ trốn. Nhưng anh đã nhận đứng gác trong nhà thờ đêm nay, thì anh phải ở đó.
Kri-xti-an khúm núm thưa rằng anh không dám, nên mới muốn đi, và xin được thả cho đi.
Người nhỏ thó nói:
— Không được, anh phải giữ chỗ gác. Nhưng ta sẽ cho anh một lời khuyên tốt. Anh hãy leo lên bục giảng mà đứng ở đó. Thấy gì nghe gì cũng mặc, nó không làm hại anh được, miễn là anh cứ đứng nguyên chỗ cho tới khi nghe tiếng nắp hòm sập xuống sau lưng người chết. Lúc đó mọi nguy hiểm đã qua, anh muốn đi đâu trong nhà thờ cũng được.
Nói rồi người nhỏ thó đẩy anh vào trong cửa, khoá lại sau lưng. Kri-xti-an vội leo lên bục giảng, đứng đó, chẳng thấy gì lạ cho tới khi đồng hồ điểm mười hai tiếng. Bỗng nắp hòm công chúa bật tung, và từ trong hòm hiện ra một thứ gì đó trông giống công chúa, khoác tấm áo liệm trắng. Nó gào thét, rú rít:
— Lính gác đâu rồi? Lính gác đâu rồi? Không ra đây thì mày sẽ phải chết một cái chết thảm khốc nhất đời!
Nó đi vòng khắp nhà thờ. Cuối cùng khi thấy anh thợ rèn trên bục giảng, nó lao bổ tới, leo lên bậc. Nhưng nó không leo lên hết được, dù vươn người, dù gắng sức đến mấy cũng không chạm được vào Kri-xti-an, lúc ấy đang đứng run cầm cập trên bục giảng. Khi đồng hồ điểm một tiếng, cái bóng ấy phải quay về hòm, và Kri-xti-an nghe nắp hòm sập lại sau nó. Rồi nhà thờ im phăng phắc. Anh nằm xuống ngay chỗ mình đứng mà ngủ thiếp đi, mãi tới khi trời sáng bạch, nghe tiếng chân bên ngoài và tiếng chìa khoá tra vào ổ mới tỉnh. Anh bèn leo xuống bục giảng, ôm súng đứng trước chiếc hòm công chúa.
Chính viên đại tá dẫn đội tuần tra tới. Thấy anh lính mới vẫn nguyên lành, ông không khỏi kinh ngạc. Ông muốn anh báo cáo, nhưng Kri-xti-an chẳng nói gì. Ông bèn đưa anh thẳng lên gặp vua, và lần đầu tiên ông được tâu với vua rằng người lính đứng gác trong nhà thờ đêm qua vẫn còn đây. Nhà vua lập tức ra khỏi giường, đặt lên bàn một trăm đồng bạc cho anh, rồi muốn hỏi chuyện. Vua hỏi:
— Ngươi có thấy gì không? Ngươi có thấy con gái ta không?
Anh thợ rèn đáp:
— Thần đã đứng đúng chỗ gác, thế là đủ. Thần đâu có nhận làm gì hơn.
Anh không chắc mình có dám kể những gì đã thấy, đã nghe không. Vả lại anh cũng hơi vênh váo, vì mình đã làm được việc chưa ai làm được, chưa ai đủ gan làm. Nhà vua tỏ ra hoàn toàn hài lòng, hỏi anh có chịu nhận gác thêm đêm sau không. Kri-xti-an đáp:
— Thôi, xin cảm ơn, thần chừa rồi!
Nhà vua bảo:
— Tuỳ ngươi. Ngươi đã cư xử như một tay gan dạ. Giờ ngươi sẽ được ăn sáng. Qua một trận như thế chắc ngươi cần ăn gì cho lại sức.
Vua sai dọn bữa sáng cho anh, và đích thân ngồi cùng bàn với anh. Vua cứ rót rượu đầy ly cho anh mãi, khen anh, nâng ly chúc sức khoẻ anh. Kri-xti-an chẳng cần ai mời ép, ăn uống hết mình, nhất là uống. Cuối cùng anh đâm bạo miệng, nói rằng nếu nhà vua trả hai trăm đồng bạc, thì đêm sau anh sẽ lại đứng gác.
Thoả thuận xong, Kri-xti-an chào vua, xuống chỗ đám lính gác, rồi ra phố cùng những người lính và hạ sĩ quan khác. Túi đầy tiền, anh khao họ, uống với họ, khoác lác, chế giễu lũ vô tích sự không dám đứng gác vì sợ công chúa chết ăn thịt. Xem đây, nàng có ăn thịt anh đâu! Cả ngày cứ vui vẻ hớn hở như thế, nhưng tám giờ tối, Kri-xti-an lại bị nhốt vào nhà thờ một mình.
Ở trong đó chưa được hai tiếng, anh đã chán, chỉ nghĩ cách chuồn đi. Anh tìm thấy một cánh cửa nhỏ sau bàn thờ không khoá, mười giờ thì lách ra, co giò chạy về phía bờ biển. Mới được nửa đường, bỗng người nhỏ thó kia lại đứng chắn trước mặt anh, nói:
— Chào Kri-xti-an. Anh đi đâu đấy?
Anh thợ rèn đáp:
— Tôi được phép đi đâu tuỳ thích.
Nhưng cùng lúc ấy anh thấy mình không nhấc nổi chân. Người nhỏ thó bảo:
— Không được, anh đã nhận gác cả đêm nay nữa, anh phải làm cho tròn.
Rồi người ấy nắm lấy anh, và dù không muốn chút nào, Kri-xti-an vẫn phải theo người ấy quay về đúng cánh cửa nhỏ anh vừa lẻn ra. Tới nơi, người nhỏ thó bảo anh:
— Bây giờ anh vào đứng trước bàn thờ, cầm lấy cuốn sách để trên đó. Anh cứ đứng nguyên đó cho tới khi nghe nắp hòm sập xuống trên người chết. Làm thế thì anh không việc gì đâu.
Nói rồi người nhỏ thó đẩy anh vào trong cửa, khoá lại. Kri-xti-an lập tức tới đứng trước bàn thờ, cầm cuốn sách lên tay, đứng yên như thế cho tới khi đồng hồ điểm mười hai tiếng và cái bóng kia nhảy ra khỏi hòm. Nó rú lên:
— Lính gác đâu rồi? Lính gác đâu rồi?
Rồi nó lao tới bục giảng, leo tót lên. Nhưng đêm nay trên đó không có ai. Nó lại gào thét:
— Cha ta không đặt lính gác canh, đêm nay dịch bệnh với chiến tranh!
Đúng lúc ấy, nó thấy anh thợ rèn đứng trước bàn thờ, bèn lao về phía anh, rít lên:
— Mày ở đó à? Giờ thì tao bắt được mày rồi!
Nhưng nó không bước lên được qua bậc thềm trước bàn thờ, cứ đứng đó mà gào, mà thét, mà doạ, cho tới khi đồng hồ điểm một tiếng thì phải về hòm, và Kri-xti-an nghe nắp hòm sập lại trên nó. Có điều, đêm nay trông nó không giống đêm trước, nó đã bớt xấu xí đi.
Khi nhà thờ yên ắng trở lại, anh thợ rèn nằm xuống trước bàn thờ, ngủ ngon lành tới sáng, cho tới khi viên đại tá tới đón. Anh lại được đưa lên gặp vua, và mọi chuyện diễn ra y như hôm trước. Anh lĩnh tiền, nhưng nhất định không chịu nói mình có thấy con gái vua hay không, và anh bảo sẽ không nhận gác nữa. Nhưng ăn một bữa sáng no nê, nếm đủ các thứ rượu ngon của vua xong, anh lại nhận gác đêm thứ ba. Có điều anh bảo lần này không thể lấy ít hơn nửa vương quốc, vì chỗ gác ấy nguy hiểm lắm. Nhà vua đành phải đồng ý, hứa cho anh như thế.
Phần còn lại của ngày trôi qua y như hôm trước. Anh lại đóng vai anh lính khoác lác, anh thợ rèn vui tính, bạn bè chén chú chén anh nhiều vô kể. Tám giờ tối, anh lại phải mặc quân phục, bị nhốt vào nhà thờ. Ở trong đó chưa được một tiếng, anh đã tỉnh hẳn ra, bụng bảo dạ: "Thôi, đang thắng thì nên dừng là hơn." Đêm thứ ba, anh chắc mẩm, sẽ là đêm khủng khiếp nhất. Lúc hứa anh đang say, mà nửa vương quốc thì nhà vua đời nào lại cho thật! Thế là anh quyết định chuồn, không chờ lâu như mấy đêm trước, để thoát được người nhỏ thó vẫn rình anh.
Cửa lớn cửa ngách đều khoá cả, nhưng cuối cùng anh nghĩ ra cách leo lên một ô cửa sổ, mở nó ra. Đồng hồ vừa điểm chín giờ, anh trèo ra ngoài. Cửa sổ khá cao trên tường, nhưng anh xuống được tới đất mà không gãy cái xương nào, rồi cắm đầu chạy. Anh chạy xuống tận bờ biển mà không gặp ai, nhảy lên một chiếc thuyền, đẩy ra xa bờ. Anh cười khoái trá một mình, nghĩ mình thật khôn khéo, đã lừa được người nhỏ thó kia. Đúng lúc ấy, anh nghe một giọng nói từ trên bờ:
— Chào Kri-xti-an. Anh đi đâu đấy?
Anh không đáp, bụng nghĩ: "Đêm nay chân ngươi đuổi không kịp ta đâu." Và anh ra sức chèo. Nhưng rồi anh thấy có cái gì túm lấy chiếc thuyền, kéo tuột thẳng vào bờ, mặc cho anh ngồi đó vật lộn với mái chèo.
Người nhỏ thó túm lấy anh, nói:
— Anh phải giữ chỗ gác như đã hứa.
Và dù muốn hay không, Kri-xti-an cũng đành theo người ấy đi suốt quãng đường quay về nhà thờ.
Kri-xti-an bảo anh không bao giờ trèo vào lại được ô cửa sổ ấy, nó cao quá.
Người nhỏ thó bảo:
— Anh phải vào đó, và anh sẽ vào đó.
Nói rồi người ấy nhấc bổng anh lên bậu cửa sổ, dặn:
— Nghe cho kỹ những gì anh phải làm. Tối nay anh phải nằm dài sát bên trái chiếc hòm. Nắp hòm mở về phía phải, còn nàng thì bước ra phía trái. Khi nàng đã ra khỏi hòm, bước qua người anh, thì anh phải chui ngay vào hòm mà nằm, thật nhanh, đừng để nàng nhìn thấy. Anh cứ nằm yên trong đó cho tới khi trời rạng. Dù nàng doạ hay nàng van nài, anh cũng không được ra, cũng không được đáp lời nàng. Như thế nàng không làm gì được anh, và cả anh lẫn nàng đều được giải thoát.
Anh thợ rèn đành chui vào qua ô cửa sổ, đúng như lúc trèo ra, rồi tới nằm duỗi thẳng người sát bên trái chiếc hòm công chúa, nằm im như đá cho tới khi đồng hồ điểm mười hai tiếng. Nắp hòm bật mở về phía phải, công chúa bước ra, ngay trên người anh, lao vòng quanh nhà thờ, gào thét:
— Lính gác đâu rồi? Lính gác đâu rồi?
Nàng đi về phía bàn thờ, tới tận nơi, nhưng chẳng có ai. Nàng lại thét lên:
— Cha ta không đặt lính gác canh, giờ đây dịch bệnh với chiến tranh!
Rồi nàng đi khắp nhà thờ, lên rồi lại xuống, vừa thở dài vừa khóc:
— Cha ta không đặt lính gác canh, giờ đây dịch bệnh với chiến tranh!
Rồi nàng lại đi, và cùng lúc ấy đồng hồ trên tháp điểm một tiếng.
Bấy giờ anh thợ rèn nghe trong nhà thờ vang lên một khúc nhạc dịu dàng, mỗi lúc một to dần, chẳng mấy chốc tràn ngập cả toà nhà. Anh còn nghe vô số tiếng bước chân, như thể nhà thờ đang chật dần người. Anh nghe vị linh mục làm lễ trước bàn thờ, nghe tiếng hát hay hơn mọi tiếng hát anh từng được nghe. Rồi anh nghe vị linh mục dâng lời tạ ơn, vì đất nước đã thoát khỏi chiến tranh và dịch bệnh, thoát khỏi mọi tai ương, và con gái nhà vua đã được giải thoát khỏi quỷ dữ. Bao nhiêu giọng hoà theo, một bài thánh ca ngợi khen vang lên. Rồi anh lại nghe giọng vị linh mục, nghe tên mình và tên công chúa, và anh nghĩ người ta đang làm lễ cưới cho anh với nàng. Nhà thờ chật ních người, nhưng anh chẳng thấy gì cả. Rồi anh lại nghe bao nhiêu tiếng chân, như người ta đang ra khỏi nhà thờ, trong khi tiếng nhạc nhỏ dần, nhỏ dần, rồi tắt hẳn. Khi mọi thứ lặng im, ánh ngày bắt đầu lọt qua các ô cửa sổ.
Anh thợ rèn nhảy ra khỏi hòm, quỳ xuống tạ ơn Chúa. Nhà thờ vắng tanh. Nhưng trên bậc trước bàn thờ, công chúa đang nằm đó, má hồng da trắng, như một người sống thật, có điều nàng đang nức nở khóc, run rẩy vì lạnh trong tấm vải liệm trắng. Anh thợ rèn cởi chiếc áo khoác lính gác của mình, quấn quanh người nàng. Nàng lau nước mắt, nắm lấy tay anh mà cảm ơn. Nàng bảo nhờ anh mà nàng đã thoát khỏi mọi phép yêu thuật đeo bám nàng từ lúc lọt lòng, và đã quay lại hành nàng khi cha nàng phá lời răn, nhìn mặt nàng trước khi nàng tròn mười bốn tuổi.
Nàng nói thêm rằng nếu người đã cứu nàng chịu cưới nàng, thì nàng xin làm vợ người ấy. Bằng không, nàng sẽ vào tu viện, còn anh thì không thể cưới ai khác chừng nào nàng còn sống, vì anh đã được thành hôn với nàng bằng chính buổi lễ của người chết mà anh vừa nghe thấy.
Giờ nàng là nàng công chúa trẻ đẹp nhất mà ai cũng mơ được thấy, còn anh giờ đã là chủ nửa vương quốc, phần thưởng hứa cho đêm gác thứ ba. Thế là hai người thuận lấy nhau, và thương nhau suốt đời.
Tia nắng đầu tiên vừa lên, đội gác tới mở cửa nhà thờ. Không chỉ có viên đại tá, mà chính nhà vua cũng tới, xem người lính gác ra sao. Vua thấy hai người đang ngồi tay trong tay trên bậc thềm trước bàn thờ, nhận ra con gái mình ngay, ôm chầm lấy nàng, tạ ơn Chúa và tạ ơn người đã cứu nàng. Vua chẳng phản đối gì điều hai người đã thuận với nhau. Thế là anh thợ rèn Kri-xti-an làm lễ cưới với công chúa, được ngay nửa vương quốc, và khi nhà vua băng hà thì được cả vương quốc.
Còn những người lính gác khác ư? Nhà thờ có bao nhiêu cửa lớn cửa sổ để mở như thế, hẳn là họ đã bỏ trốn cả, sang đầu quân cho nước Phổ rồi. Còn những gì Kri-xti-an kể là đã thấy, thì ấy là vì hôm ấy anh đã uống quá chén.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích