Ngày xưa, ở miền Bắc Ấn, trong xứ Cam-xa, tại thành A-xi-ta-an-gia-na, có một ông vua tên là Ma-ha-cam-xa trị vì. Vua có hai người con trai là Cam-xa và U-pa-cam-xa, và một người con gái tên là Đê-va-gáp-ba.
Đúng ngày công chúa ra đời, các thầy bà-la-môn đoán vận mệnh nói:
— Con trai do cô gái này sinh ra, một ngày kia sẽ phá tan đất nước và dòng họ Cam-xa.
Vua thương con gái quá, không nỡ giết. Vua để mặc hai người con trai sau này tự liệu, sống trọn những ngày còn lại rồi qua đời.
Vua cha mất, Cam-xa lên làm vua, U-pa-cam-xa làm phó vương. Hai anh em nghĩ rằng nếu giết em gái thì người ta sẽ dị nghị, bèn quyết không gả em cho ai, cứ để em ở vậy mà canh giữ. Họ xây một ngọn tháp tròn chỉ có một cột cho em ở.
Công chúa có một người hầu gái tên là Nan-đa-gô-pa. Chồng của người hầu gái là An-đa-ca-ven-hu, người đầy tớ được giao canh giữ công chúa.
Thuở ấy, ở thành Bắc Ma-đu-ra có vua Ma-ha-xa-ga-ra trị vì. Vua có hai con trai là Xa-ga-ra và U-pa-xa-ga-ra. Vua cha mất, Xa-ga-ra lên ngôi, U-pa-xa-ga-ra làm phó vương. Chàng U-pa-xa-ga-ra này là bạn thân của U-pa-cam-xa, hai người lớn lên cùng nhau, học cùng một thầy. Nhưng chàng lén lút tư tình với một người trong hậu cung của anh mình, bị phát giác, phải bỏ trốn sang nương nhờ U-pa-cam-xa ở xứ Cam-xa. U-pa-cam-xa dẫn chàng vào ra mắt vua Cam-xa, và vua rất trọng đãi chàng.
Trong những lần vào chầu vua, U-pa-xa-ga-ra để ý tới ngọn tháp nơi công chúa Đê-va-gáp-ba ở. Hỏi ra, chàng được nghe kể đầu đuôi câu chuyện, và đem lòng yêu cô gái.
Một hôm, Đê-va-gáp-ba cũng trông thấy chàng đang cùng U-pa-cam-xa vào chầu vua. Nàng hỏi người ấy là ai. Nan-đa-gô-pa thưa rằng đó là U-pa-xa-ga-ra, con của vua Ma-ha-xa-ga-ra. Thế là nàng cũng đem lòng yêu chàng.
U-pa-xa-ga-ra đem quà biếu Nan-đa-gô-pa, nói:
— Chị ơi, chị thu xếp cho tôi được gặp công chúa Đê-va-gáp-ba nhé.
— Chuyện ấy dễ thôi.
Nan-đa-gô-pa đem chuyện thưa với công chúa. Nàng vốn đã yêu chàng, nên bằng lòng ngay. Một đêm, Nan-đa-gô-pa thu xếp cho hai người hẹn hò, đưa U-pa-xa-ga-ra lên tháp. Chàng ở lại đó với Đê-va-gáp-ba. Hai người gặp nhau luôn, và chẳng bao lâu công chúa có mang.
Dần dần người ta biết chuyện công chúa có mang. Hai anh tra hỏi Nan-đa-gô-pa. Bà bắt họ hứa tha tội cho mình rồi mới kể hết đầu đuôi. Nghe xong, hai anh em nghĩ: "Ta không thể giết em gái mình. Nếu nó sinh con gái, ta tha cho cả đứa bé. Nếu sinh con trai, ta sẽ giết."
Rồi họ gả Đê-va-gáp-ba cho U-pa-xa-ga-ra.
Đến ngày sinh nở, nàng sinh được một con gái. Hai anh nghe tin thì mừng lắm, đặt tên cho bé là An-gia-na. Họ cấp cho vợ chồng nàng một ngôi làng làm thái ấp, tên là làng Gô-vát-đa-ma-na. U-pa-xa-ga-ra đưa Đê-va-gáp-ba về sống ở làng ấy.
Đê-va-gáp-ba lại có mang. Cũng đúng ngày hôm ấy, Nan-đa-gô-pa cũng có mang. Đến ngày sinh, hai người cùng sinh một ngày: Đê-va-gáp-ba sinh con trai, Nan-đa-gô-pa sinh con gái. Sợ con trai mình bị giết, Đê-va-gáp-ba lén gửi con sang cho Nan-đa-gô-pa, rồi nhận đứa con gái của Nan-đa-gô-pa về nuôi.
Người ta báo tin sinh nở cho hai anh.
— Con trai hay con gái?
— Con gái ạ.
— Thế thì nuôi nấng cho tử tế.
Cứ như thế, Đê-va-gáp-ba sinh được mười người con trai, và Nan-đa-gô-pa sinh được mười người con gái. Các con trai ở với Nan-đa-gô-pa, các con gái ở với Đê-va-gáp-ba, và không một ai biết điều bí mật ấy.
Người con trai cả của Đê-va-gáp-ba tên là Va-su-đê-va, người thứ hai là Ba-la-đê-va, người thứ ba là Chan-đa-đê-va, người thứ tư là Su-ri-a-đê-va, người thứ năm là Ác-ghi-đê-va, người thứ sáu là Va-ru-na-đê-va, người thứ bảy là A-giu-na, người thứ tám là Pa-giu-na, người thứ chín là Ga-ta, người được gọi là hiền giả Ga-ta, và người thứ mười là An-cu-ra. Ai cũng tưởng họ là con của người đầy tớ An-đa-ca-ven-hu, và gọi họ là Mười anh em nhà đầy tớ.
Năm tháng qua đi, mười anh em lớn lên, sức vóc phi thường, tính lại hung hăng dữ tợn. Họ đi khắp nơi cướp bóc, đến cả lễ vật người ta đem dâng vua họ cũng cướp. Dân chúng kéo nhau tới sân chầu kêu oan:
— Mười anh em con lão An-đa-ca-ven-hu cướp phá khắp nơi!
Vua cho gọi An-đa-ca-ven-hu tới, quở trách ông sao để con cái đi cướp bóc. Dân kêu tới ba bốn lần như thế, và vua doạ trị tội ông. Sợ mất mạng, ông xin vua tha chết rồi khai ra điều bí mật: những người ấy không phải con ông, mà là con của U-pa-xa-ga-ra.
Vua hoảng sợ, hỏi các quan:
— Làm sao bắt được chúng bây giờ?
— Tâu bệ hạ, bọn chúng là đô vật. Ta hãy mở một cuộc thi đấu vật trong thành. Khi chúng vào sới, ta sẽ bắt mà giết đi.
Vua cho gọi hai đô vật là Cha-nu-ra và Mút-thi-ca tới, rồi sai đánh trống rao khắp thành rằng bảy ngày nữa sẽ có cuộc thi đấu vật.
Sới vật được dựng trước cổng cung vua. Có rào bao quanh khu thi đấu, sới vật trang hoàng rực rỡ, cờ chiến thắng đã buộc sẵn. Cả kinh thành náo động. Ghế ngồi xếp thành từng dãy, từng tầng chồng lên nhau. Cha-nu-ra và Mút-thi-ca bước xuống sới, nghênh ngang đi lại, vừa nhảy vừa hò hét, vỗ tay bồm bộp.
Mười anh em cũng tới. Dọc đường, họ cướp phá cả phố thợ giặt, khoác lên mình những bộ áo sặc sỡ. Họ lấy trộm nước hoa trong các hiệu nước hoa, lấy trộm vòng hoa trong các hàng hoa. Mình xoa đầy dầu thơm, đầu đội vòng hoa, tai đeo khuyên, họ nghênh ngang bước vào sới, vừa nhảy vừa hò hét, vừa vỗ tay.
Lúc ấy Cha-nu-ra đang đi đi lại lại, vỗ tay. Ba-la-đê-va thấy hắn thì nghĩ: "Ta chẳng thèm động tay vào thằng kia!"
Chàng chộp lấy một sợi dây da to trong chuồng voi, vừa nhảy vừa hét, quàng sợi dây quanh bụng Cha-nu-ra, chập hai đầu lại mà siết chặt. Rồi chàng nhấc bổng hắn lên, quay tít trên đầu, quật xuống đất, lăn hắn ra ngoài sới.
Cha-nu-ra chết rồi, vua cho gọi Mút-thi-ca. Mút-thi-ca đứng dậy, vừa nhảy vừa hét, vừa vỗ tay. Ba-la-đê-va đánh cho hắn một đòn, làm vỡ cả hai mắt. Hắn kêu lên:
— Tôi không phải đô vật! Tôi không phải đô vật!
Ba-la-đê-va trói tay hắn lại, nói:
— Đô vật hay không đô vật, với ta cũng thế cả thôi.
Rồi chàng quật hắn xuống đất mà giết, ném xác ra ngoài sới.
Trong cơn hấp hối, Mút-thi-ca thề nguyền: "Cầu cho ta hoá thành quỷ dữ mà ăn thịt nó!" Và hắn hoá thành quỷ dữ, ở trong khu rừng gọi là rừng Ca-la-mát-ti-a.
Vua ra lệnh:
— Bắt lấy Mười anh em nhà đầy tớ!
Đúng lúc ấy, Va-su-đê-va ném ra một chiếc vòng sắt sắc, chém đứt đầu cả hai người cậu, vua Cam-xa và U-pa-cam-xa. Đám đông kinh hãi, phủ phục dưới chân chàng, xin chàng che chở cho họ.
Thế là Mười anh em giết hai người cậu, nắm lấy quyền cai trị thành A-xi-ta-an-gia-na, rồi đón cha mẹ về đó.
Rồi họ lên đường, định chinh phục cả cõi Ấn Độ. Ít lâu sau, họ tới thành A-giô-gia, kinh đô của vua Ca-la-xê-na. Họ vây chặt thành, phá trụi rừng cây quanh thành, phá thủng tường thành, bắt sống nhà vua, chiếm lấy quyền cai trị.
Từ đó họ tiến tới thành Đơ-va-ra-va-ti. Thành này một bên là biển, một bên là núi. Người ta bảo thành có quỷ canh giữ. Có một con quỷ được đặt ra canh gác. Hễ thấy quân thù, nó hoá làm con lừa mà cất tiếng kêu của loài lừa. Tức thì, nhờ phép quỷ, cả toà thành bay bổng lên không, đậu xuống một hòn đảo giữa biển. Quân thù đi rồi, thành lại bay về đậu đúng chỗ cũ.
Lần này cũng vậy. Con lừa vừa trông thấy Mười anh em tới, liền cất tiếng kêu như lừa. Cả toà thành bay lên không, đậu xuống hòn đảo. Mười anh em chẳng thấy thành đâu, đành quay về. Thế là thành lại bay về chỗ cũ. Họ quay lại, con lừa lại làm như trước. Họ không sao chiếm được thành Đơ-va-ra-va-ti.
Thế là họ tìm tới nhà tu khổ hạnh Can-ha Đi-pa-gia-na, thưa:
— Thưa thầy, chúng con không sao chiếm được thành Đơ-va-ra-va-ti. Xin thầy chỉ cho chúng con cách nào.
Nhà tu bảo:
— Ở một con hào, chỗ nọ chỗ kia, có một con lừa đi đi lại lại. Hễ thấy quân thù là nó kêu, và lập tức cả thành bay lên. Các con phải ôm lấy chân nó mà van xin. Đó là cách để các con được việc.
Họ từ biệt nhà tu, cả mười anh em cùng tới chỗ con lừa, phủ phục dưới chân nó, van xin:
— Thưa ngài, ngoài ngài ra chúng tôi không còn ai giúp nữa! Khi chúng tôi tới đánh thành, xin ngài đừng kêu!
Con lừa đáp:
— Tôi không thể không kêu được. Nhưng nếu các anh đến trước, bốn người trong các anh mang theo bốn cái cày bằng sắt thật lớn, rồi ở bốn cổng thành, đóng xuống đất bốn cái cọc sắt thật to. Khi thành bắt đầu bay lên, các anh móc sợi xích sắt buộc vào cày lên cọc, thì thành sẽ không bay lên được.
Họ cảm ơn con lừa. Con lừa im lặng không kêu một tiếng, trong khi họ mang cày tới, đóng cọc xuống đất ở bốn cổng thành rồi đứng chờ. Rồi con lừa kêu lên, toà thành bắt đầu bay lên. Nhưng những người đứng ở bốn cổng với bốn cái cày đã móc xích sắt buộc vào cày lên cọc, nên thành không sao bay lên được. Mười anh em kéo vào thành, giết vua, chiếm lấy vương quốc.
Cứ thế, họ chinh phục cả cõi Ấn Độ. Ở sáu mươi ba nghìn thành trì, họ dùng chiếc vòng sắt sắc giết hết các vua. Rồi họ ở lại thành Đơ-va-ra-va-ti, chia vương quốc làm mười phần.
Nhưng họ đã quên mất cô em gái, nàng An-gia-na. Họ bảo nhau:
— Ta hãy chia làm mười một phần.
An-cu-ra nói:
— Các anh cứ cho em gái phần của em, còn em sẽ đi buôn bán làm ăn. Chỉ xin các anh, ai ở xứ nấy, thì miễn thuế cho em.
Các anh bằng lòng, đem phần của An-cu-ra cho em gái. Thế là chín người làm vua, cùng em gái ở lại thành Đơ-va-ra-va-ti, còn An-cu-ra thì đi buôn bán.
Năm tháng trôi qua, các anh em ai nấy đều đông đàn con trai con gái. Rất lâu sau, cha mẹ họ qua đời. Người ta kể rằng thời ấy, đời người dài tới hai mươi nghìn năm.
Rồi một người con trai rất mực yêu quý của vua Va-su-đê-va qua đời. Vua đau đớn tưởng chết đi được, bỏ bê mọi việc, nằm vật ra mà than khóc, tay bám chặt lấy thành giường.
Bấy giờ hiền giả Ga-ta nghĩ thầm: "Ngoài ta ra, chẳng ai làm nguôi được nỗi đau của anh ta. Ta phải tìm cách xoa dịu nỗi đau cho anh."
Thế là chàng giả làm người điên, đi khắp kinh thành, ngửa mặt nhìn trời mà kêu:
— Cho tôi con thỏ! Cho tôi con thỏ!
Cả kinh thành xôn xao: "Hiền giả Ga-ta hoá điên rồi!"
Đúng lúc ấy, một viên quan tên là Rô-hi-nây-gia vào gặp vua Va-su-đê-va. Người ta vẫn gọi vua là Can-ha, nghĩa là Đen, và gọi là Kê-xa-va, nghĩa là người tóc dài. Viên quan nói:
— Can-ha Đen ơi, dậy đi! Sao ngài cứ nhắm mắt nằm đó? Người em ruột của ngài kìa, gió đã cuốn mất trí khôn của cậu ấy rồi! Ga-ta đang nói sảng kìa, hỡi người tóc đen dài!
Kê-xa-va tóc dài vừa nghe tiếng Rô-hi-nây-gia kêu, liền ngồi dậy, lòng đầy lo lắng, đau xót vì nỗi khốn khổ của Ga-ta.
Vua vội vã rời phòng, đi xuống, tới chỗ hiền giả Ga-ta, nắm chặt lấy em bằng cả hai tay, hỏi:
— Sao em lại như người điên, đi khắp thành Đơ-va-ra-va-ti mà kêu "thỏ ơi, thỏ ơi"? Nói đi, ai đã lấy mất của em con thỏ nào?
Chàng chẳng đáp gì, chỉ kêu đi kêu lại mãi một câu ấy. Vua lại nói:
— Bằng vàng hay bằng ngọc, bằng đồng hay bằng bạc, tuỳ em thích, bằng vỏ ốc, bằng đá hay bằng san hô, anh cũng sẽ làm cho em một con thỏ. Mà trong rừng sâu còn bao nhiêu con thỏ khác nữa. Anh sẽ cho người bắt chúng về. Nói đi, em muốn con nào?
Nghe vua nói, chàng hiền giả đáp:
— Em chẳng thèm thỏ nào ở dưới đất này. Em muốn con thỏ ở trên mặt trăng kia. Kê-xa-va ơi, hãy mang nó xuống cho em! Em chẳng xin gì khác cả!
Nghe vậy, vua nghĩ: "Đúng là em ta hoá điên rồi." Lòng đau đớn vô cùng, vua nói:
— Em ơi, xin một điều mà chẳng người nào xin được, đòi con thỏ thần trên mặt trăng như thế, thì em sẽ chết mất thôi.
Nghe anh nói, hiền giả Ga-ta đứng sững lại, nói:
— Anh ơi, anh biết rằng người đòi con thỏ trên mặt trăng mà không có được thì sẽ chết. Vậy sao anh còn khóc thương đứa con đã chết của anh? Can-ha ơi, nếu anh đã biết điều ấy, đã biết khuyên giải nỗi khổ của người khác, thì sao anh còn khóc mãi đứa con đã khuất từ lâu?
Rồi chàng đứng ngay giữa phố mà nói tiếp:
— Anh ơi, em chỉ đòi thứ có thật, còn anh lại khóc thương thứ không còn nữa. "Con tôi đã sinh ra, xin đừng để nó chết!" Cả người lẫn thần chẳng ai được ban điều ấy. Thế thì sao lại đòi thứ không bao giờ có được? Chẳng bùa phép nào, chẳng rễ cây thần nào, chẳng thảo dược nào, chẳng tiền bạc nào gọi được hồn người chết trở về, cái hồn mà anh đang khóc thương đó, Can-ha ạ.
Nghe vậy, vua nói:
— Em thân yêu, em có ý tốt. Em làm thế là để gỡ nỗi đau cho anh.
Rồi vua ngợi khen hiền giả Ga-ta:
— Anh có biết bao người khôn ngoan, giỏi giang để khuyên bảo anh. Nhưng hôm nay hiền giả Ga-ta đã mở mắt cho anh biết bao! Anh đang bừng bừng như ngọn lửa bị người ta đổ dầu vào. Em đã mang nước tới, dập tắt nỗi đau khát khao trong anh. Nỗi thương con như một mũi tên độc cắm sâu trong tim anh. Em đã an ủi anh, đã rút mũi tên ra. Mũi tên đã rút ra, anh không còn đau đớn, lòng anh lại thanh thản, bình yên. Nghe những lời chân thật của em, anh không còn buồn rầu, không còn khóc nữa.
Người có lòng thương người, người thật sự khôn ngoan, là như thế đó. Họ gỡ cho người khác khỏi nỗi đau, như Ga-ta đã gỡ cho người anh cả của mình.
Vua Va-su-đê-va được hoàng tử Ga-ta an ủi như thế.
Rất lâu sau đó, trong khi vua vẫn trị vì, con cái của mười anh em bàn nhau: "Người ta đồn rằng nhà tu Can-ha Đi-pa-gia-na có thiên nhãn, nhìn thấu mọi điều. Ta hãy thử ông ấy xem."
Họ kiếm một chàng trai trẻ, cho ăn mặc như đàn bà, lấy một cái gối buộc quanh bụng cho trông như người có mang. Rồi họ dẫn chàng tới trước mặt nhà tu, hỏi:
— Thưa thầy, bao giờ người đàn bà này sinh nở?
Nhà tu nhìn thấu rằng ngày diệt vong của mười anh em nhà vua đã tới. Rồi ông nhìn xem tuổi thọ của chính mình còn bao nhiêu, và thấy rằng mình sẽ chết ngay trong ngày hôm ấy. Ông nói:
— Các cậu ơi, người này là gì của các cậu?
— Cứ trả lời chúng tôi đi!
Họ cứ khăng khăng như thế. Ông đáp:
— Bảy ngày nữa, người này sẽ đẻ ra một mấu gỗ keo. Chính mấu gỗ ấy sẽ diệt cả dòng họ Va-su-đê-va, dù các cậu có lấy nó đem đốt đi, rồi rắc tro xuống sông.
— Đồ nhà tu dối trá! Đàn ông làm sao mà đẻ được!
Rồi họ xông vào giết chết nhà tu ngay tại chỗ.
Các vua cho gọi bọn con cháu tới, hỏi vì sao lại giết nhà tu. Nghe hết đầu đuôi, các vua hoảng sợ. Họ cho người canh giữ chàng trai kia. Đến ngày thứ bảy, quả nhiên chàng trai thải ra từ bụng một mấu gỗ keo. Họ đem đốt đi, rắc tro xuống sông. Tro trôi theo dòng nước, dạt vào bờ bên cạnh một cửa thành nhỏ, và từ chỗ ấy mọc lên một khóm cây ê-ra-ca.
Một hôm, các vua bàn nhau đi tắm sông vui chơi. Họ tới đúng cái cửa thành nhỏ ấy, cho dựng một cái rạp lớn, rồi ăn uống trong cái rạp lộng lẫy. Rồi trong lúc đùa nghịch, họ nắm tay nắm chân nhau, chia làm hai phe, và dần dần cãi cọ dữ dội.
Cuối cùng, một người không tìm được gì tốt hơn để làm gậy, bèn ngắt một chiếc lá cây ê-ra-ca. Vừa ngắt xong, chiếc lá đã hoá thành một cây chuỳ gỗ keo trong tay người ấy. Người ấy cầm chuỳ đánh bao nhiêu người. Những người khác cũng ngắt lá, và lá vừa vào tay đã hoá thành chuỳ. Họ cầm chuỳ đánh nhau cho tới khi chết hết.
Trong lúc họ chém giết lẫn nhau, chỉ có bốn người là Va-su-đê-va, Ba-la-đê-va, nàng An-gia-na em gái họ, và vị thầy tế của triều đình nhảy lên xe ngựa chạy trốn. Còn tất cả đều chết sạch.
Bốn người trên xe chạy mãi, tới rừng Ca-la-mát-ti-a. Ở đó, gã đô vật Mút-thi-ca đã tái sinh, hoá thành quỷ dữ đúng như lời hắn thề nguyền. Thấy Ba-la-đê-va tới, hắn làm hiện ra một ngôi làng ngay tại chỗ ấy, rồi đội lốt một đô vật, nhảy nhót, búng tay tanh tách mà hét:
— Ai dám vật với ta nào?
Ba-la-đê-va vừa thấy hắn liền nói:
— Anh ơi, để em vật với gã này một keo.
Va-su-đê-va gắng hết sức can ngăn, nhưng Ba-la-đê-va vẫn nhảy xuống xe, búng tay tanh tách mà đi tới chỗ hắn. Gã quỷ chỉ việc chộp lấy chàng trong lòng bàn tay, rồi nuốt chửng như nuốt một củ cải.
Va-su-đê-va biết em đã chết, bèn cùng em gái và vị thầy tế chạy suốt đêm. Sáng ra, họ tới một ngôi làng nơi biên giới. Vua nằm nghỉ dưới bóng một bụi cây, sai em gái và vị thầy tế vào làng nấu cơm mang ra cho mình.
Có một người thợ săn tên là Gia-ra, nghĩa là Tuổi Già, thấy bụi cây rung rinh. Anh nghĩ: "Chắc chắn là một con lợn rừng." Anh phóng một ngọn giáo, đâm trúng chân vua.
— Ai đâm ta đấy?
Va-su-đê-va kêu lên. Người thợ săn biết mình đã đâm phải người, sợ quá bỏ chạy. Vua định thần lại, đứng dậy gọi người thợ săn:
— Này bác, lại đây, đừng sợ!
Người thợ săn tới. Va-su-đê-va hỏi:
— Bác là ai?
— Thưa ngài, tên tôi là Gia-ra.
Vua nghĩ: "Người xưa vẫn nói, ai bị Tuổi Già đâm thì sẽ chết. Hẳn hôm nay ta phải chết rồi."
Rồi vua bảo:
— Bác đừng sợ. Lại đây buộc vết thương cho ta.
Buộc miệng vết thương xong, vua cho người thợ săn đi. Những cơn đau dữ dội ập tới, vua không sao ăn nổi chỗ cơm hai người kia mang về. Vua bảo hai người:
— Hôm nay ta sẽ chết. Các người vốn quen sống êm ấm, sẽ chẳng bao giờ học được nghề gì khác mà kiếm sống. Vậy hãy học lấy môn này của ta.
Nói rồi vua dạy cho họ một môn nghề, cho họ đi, và chết ngay sau đó.
Người ta kể rằng như thế, trừ nàng An-gia-na, tất cả đều chết hết.
Đức Phật kể chuyện này cho một người cư sĩ đang đau buồn vì mất con, để ông biết rằng người xưa nhờ nghe lời người hiền mà nguôi được nỗi đau mất con. Kể xong, Ngài cho biết: viên quan Rô-hi-nây-gia thuở ấy là A-nan, vua Va-su-đê-va là Xá Lợi Phất, những người khác là chúng đệ tử của Ngài, còn hiền giả Ga-ta chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích