Pê-rô-ních là một chàng ngốc nghèo khổ, chẳng thuộc về ai. Chàng hẳn đã chết đói nếu không nhờ lòng tốt của dân làng, ai cũng cho chàng ăn hễ chàng mở miệng xin. Còn giường ngủ thì khi đêm tới, buồn ngủ, chàng tìm một đống rơm, khoét một cái lỗ rồi chui vào như con thằn lằn. Ngốc thì ngốc, chàng chẳng bao giờ buồn khổ, lúc nào cũng biết ơn những người cho mình ăn, đôi khi còn dừng lại hát cho họ nghe một chút. Chàng nhại tiếng chim sơn ca khéo tới mức chẳng ai phân biệt được đâu là Pê-rô-ních, đâu là chim.
Một hôm chàng lang thang trong rừng mấy tiếng liền. Khi chiều xuống, chàng bỗng thấy đói cồn cào. May thay, đúng chỗ ấy cây cối thưa dần, chàng thấy cách đó một quãng có một trang trại nhỏ. Pê-rô-ních đi thẳng tới, thấy bà chủ trại đứng ở cửa, tay bưng cái bát to mà lũ con bà vừa ăn bữa tối. Chàng hỏi:
— Tôi đói, bà cho tôi cái gì ăn được không?
— Còn gì trong này thì cậu cứ ăn.
Bà đáp. Thật ra trong bát chẳng còn bao nhiêu, vì thìa của ai cũng đã nhúng vào. Nhưng Pê-rô-ních ăn hết chỗ còn lại một cách ngon lành, và nghĩ chưa bao giờ được ăn món gì ngon hơn.
"Món này làm bằng thứ bột mịn nhất, trộn với thứ sữa béo nhất, do bà nấu bếp giỏi nhất vùng khuấy," chàng nói. Chàng nói với chính mình, nhưng bà chủ trại nghe thấy.
"Tội nghiệp thằng ngây thơ," bà lẩm bẩm. "Nó chẳng biết nó nói gì, nhưng ta sẽ cắt cho nó một lát bánh mì mới."
Bà cắt cho chàng một lát. Pê-rô-ních ăn sạch không sót một mẩu, quả quyết chỉ có thợ làm bánh của đức giám mục mới nướng được như thế. Câu ấy làm bà chủ trại nở mũi tới mức cho chàng thêm ít bơ để phết lên bánh. Pê-rô-ních đang ngồi ăn trên bậc cửa thì có một hiệp sĩ mang vũ khí phi ngựa tới, hỏi:
— Bà chỉ đường cho tôi tới lâu đài Kéc-gla được không?
Bà chủ trại tái mặt:
— Tới Kéc-gla? Ngài định tới Kéc-gla thật sao?
Hiệp sĩ đáp:
— Phải. Muốn tới đó, tôi đã đi từ một xứ xa tới mức phải phi ngựa ròng rã ba tháng mới tới được đây.
Bà hỏi:
— Thế ngài tới Kéc-gla làm gì?
Hiệp sĩ đáp:
— Tôi đi tìm chiếc bát vàng và ngọn giáo kim cương ở trong lâu đài.
Bấy giờ Pê-rô-ních ngẩng lên, bỗng nói:
— Bát với giáo ấy là những thứ quý lắm.
Hiệp sĩ nói:
— Quý giá hơn mọi chiếc vương miện trên đời. Chiếc bát không những cho người ta thức ăn ngon nhất có thể mơ tới, mà uống nước trong bát thì bệnh nặng mấy cũng khỏi, thậm chí chạm vào miệng người chết thì người chết sống lại. Còn ngọn giáo kim cương thì đâm xuyên được mọi thứ đá, mọi thứ kim loại.
Pê-rô-ních sửng sốt hỏi:
— Thế những thứ kỳ diệu ấy là của ai?
Bà chủ trại đáp:
— Của một lão phù thuỷ tên là Rô-gi-a sống trong lâu đài. Ngày nào lão cũng đi qua đây, cưỡi một con ngựa cái đen, có một con ngựa non mười ba tháng tuổi chạy lon ton theo sau. Nhưng chẳng ai dám đánh lão, vì lão lúc nào cũng mang theo ngọn giáo.
Hiệp sĩ nói:
— Đúng thế. Nhưng lão bị một lời nguyền cấm dùng ngọn giáo trong lâu đài Kéc-gla. Lão vừa bước vào, chiếc bát và ngọn giáo đã được cất xuống một căn hầm tối, chỉ một chiếc chìa duy nhất mở được. Tôi muốn đấu với lão phù thuỷ ở chính nơi ấy.
Bà chủ trại lắc đầu:
— Ngài chẳng bao giờ thắng được lão đâu, thưa ngài hiệp sĩ. Hơn trăm vị quý tộc đã phi ngựa qua nhà này cũng vì việc ấy, chẳng một ai trở về.
Hiệp sĩ đáp:
— Tôi biết, bà ạ. Nhưng họ không được như tôi, được ông ẩn sĩ ở Bla-vê chỉ bảo.
Pê-rô-ních hỏi:
— Thế ông ẩn sĩ bảo ngài những gì?
Hiệp sĩ kể:
— Ông bảo tôi sẽ phải đi qua một khu rừng đầy đủ thứ bùa phép và tiếng nói, chúng sẽ tìm cách làm tôi sợ hãi, lạc đường. Phần lớn những người đi trước tôi đã lạc chẳng biết tới đâu, rồi chết vì rét, vì đói, vì kiệt sức.
Chàng ngốc hỏi:
— Thì cứ cho là ngài qua được an toàn đi?
Hiệp sĩ đáp:
— Nếu qua được, tôi sẽ gặp một thứ như tiên lùn, cầm cây kim lửa, chạm vào thứ gì là thứ ấy cháy thành tro. Gã lùn ấy đứng canh một cây táo, mà tôi phải hái cho bằng được một quả.
Pê-rô-ních hỏi:
— Rồi sao nữa?
Hiệp sĩ nói:
— Rồi tôi sẽ tìm thấy bông hoa biết cười, có một con sư tử bờm toàn rắn độc canh giữ. Tôi phải hái bông hoa ấy, rồi đi tiếp tới hồ rồng, đánh nhau với gã đen sì cầm quả cầu sắt ném đâu trúng đó, lại tự bay về tay chủ. Sau đó tôi vào thung lũng hoan lạc, nơi có những người đã vượt qua mọi chướng ngại khác mà vẫn bỏ xương lại. Nếu qua được chỗ ấy, tôi sẽ tới một con sông chỉ có một chỗ lội qua được, có một người đàn bà áo đen ngồi đó. Bà ta sẽ lên ngồi sau lưng tôi trên ngựa, rồi bảo tôi phải làm gì tiếp.
Chàng ngừng lời. Bà chủ trại lắc đầu:
— Ngài chẳng bao giờ làm nổi ngần ấy việc đâu.
Nhưng chàng hiệp sĩ bảo bà hãy nhớ rằng đó là việc của đàn ông, rồi phi ngựa theo con đường bà chỉ.
Bà chủ trại thở dài, cho Pê-rô-ních thêm ít đồ ăn, chúc chàng ngủ ngon. Chàng ngốc đứng dậy, đang mở cổng dẫn vào rừng thì chính ông chủ trại về tới.
Ông nói cộc lốc:
— Tôi cần một thằng chăn bò, vì thằng cũ bỏ trốn rồi. Cậu ở lại làm không?
Pê-rô-ních vốn yêu tự do, ghét làm lụng, nhưng chàng nhớ tới những món ăn ngon vừa được ăn, nên nhận lời ở lại.
Mặt trời mọc, chàng cẩn thận lùa đàn bò ra bãi cỏ tốt chạy dọc bìa rừng, chặt một cành phỉ làm roi để giữ chúng cho ngay hàng.
Việc ấy không dễ như vẻ ngoài, vì lũ bò cứ hay lạc vào rừng, chàng lùa được con này về thì con khác đã đi mất. Một hôm chàng đi khá sâu vào rừng, đuổi theo một con bò đen bướng bỉnh làm chàng khổ hơn cả đàn cộng lại, thì nghe tiếng vó ngựa. Ghé mắt qua kẽ lá, chàng thấy lão khổng lồ Rô-gi-a ngồi trên con ngựa cái, con ngựa non chạy lon ton phía sau. Quanh cổ lão treo chiếc bát vàng lủng lẳng bằng một sợi xích, tay lão nắm ngọn giáo kim cương sáng rực như lửa. Nhưng lão vừa khuất, chàng ngốc tìm mãi chẳng thấy dấu vết con đường lão vừa đi đâu.
Chuyện ấy xảy ra không chỉ một lần mà nhiều lần, tới mức Pê-rô-ních quen mặt lão, chẳng buồn nấp nữa. Nhưng lần nào thấy lão, lòng thèm muốn có được chiếc bát và ngọn giáo lại mạnh thêm.
Một buổi chiều, chàng ngồi một mình ở bìa rừng thì có một ông già râu trắng dừng lại bên cạnh.
Chàng ngốc hỏi:
— Ông có muốn biết đường tới Kéc-gla không?
Ông già đáp:
— Ta biết rõ lắm.
Pê-rô-ních kêu lên:
— Ông tới đó rồi mà không bị lão phù thuỷ giết ư?
Ông già nói:
— Ồ, lão chẳng phải sợ gì ta. Ta là anh trai của Rô-gi-a, phù thuỷ Bri-ác đây. Mỗi khi muốn tới thăm nó, ta đều đi đường này. Mà vì đến ta đi qua khu rừng bị yểm bùa cũng còn lạc, nên ta gọi con ngựa non tới dẫn đường.
Vừa nói lão vừa cúi xuống vẽ ba vòng tròn trên mặt đất, lẩm bẩm mấy câu thật khẽ, Pê-rô-ních không nghe được. Rồi lão nói to:
"Ngựa non tha hồ chạy, tha hồ ăn,
Ngựa non phi mau tới gặp ta."
Lập tức con ngựa non hiện ra, nhảy nhót tung tăng tới bên lão phù thuỷ. Lão quàng dây cương vào cổ nó, nhảy lên lưng.
Về trang trại, Pê-rô-ních chẳng kể với ai chuyện ấy. Nhưng chàng hiểu rất rõ rằng nếu muốn tới được Kéc-gla, trước hết phải bắt được con ngựa non biết đường. Khốn nỗi chàng không nghe được mấy câu thần chú lão phù thuỷ lẩm bẩm, cũng không vẽ nổi ba vòng tròn. Vậy muốn gọi được con ngựa non, chàng phải nghĩ ra cách khác.
Suốt ngày chăn bò, chàng nghĩ mãi, nghĩ mãi xem làm sao gọi được con ngựa non, vì chàng tin chắc một khi đã ngồi được lên lưng nó, chàng sẽ vượt qua được những hiểm nguy khác. Trong khi chờ đợi, chàng phải sẵn sàng phòng khi có dịp. Chàng sửa soạn ban đêm, khi mọi người đã ngủ. Nhớ những gì đã thấy lão phù thuỷ làm, chàng vá lại một sợi dây cương cũ treo trong góc chuồng ngựa, bện một sợi thừng gai để trói chân con ngựa non, và một tấm lưới như lưới bẫy chim. Tiếp đó chàng khâu vụng mấy mảnh vải làm thành một cái túi, nhét vào đó keo dính và lông chim sơn ca, một xâu hạt cườm, một cái còi bằng gỗ cơm cháy, và một lát bánh mì xoa mỡ thịt lợn muối. Rồi chàng ra con đường Rô-gi-a, con ngựa cái và con ngựa non vẫn đi qua, bóp vụn bánh mì rải xuống một bên đường.
Đúng giờ, cả ba xuất hiện. Pê-rô-ních nấp trong bụi rậm gần đó, nín thở theo dõi. Nhỡ vô ích thì sao? Nhỡ con ngựa cái, chứ không phải con ngựa non, ăn vụn bánh thì sao? Nhỡ... Nhưng không! Con ngựa cái và người cưỡi đi qua yên ổn, khuất sau khúc quanh, còn con ngựa non chạy lon ton, mũi dí sát đất, ngửi thấy mùi bánh mì, bắt đầu háu ăn liếm từng mẩu. Ôi, ngon quá! Sao chưa ai cho nó món này bao giờ nhỉ? Con vật nhỏ mải mê hít hít tìm thêm mấy mẩu nữa, tới mức chẳng nghe Pê-rô-ních bò tới, cho tới khi thấy dây cương tròng vào cổ, sợi thừng quấn quanh chân, và, chỉ một khoảnh khắc sau, có người ngồi trên lưng.
Đi nhanh hết mức đôi chân bị buộc cho phép, con ngựa non rẽ vào một vùng hoang vu nhất của khu rừng, còn người cưỡi thì run lẩy bẩy trước những cảnh lạ lùng mình thấy. Có lúc mặt đất như nứt toác ra trước mặt, chàng nhìn xuống một vực không đáy. Có lúc cây cối bốc cháy, chàng thấy mình đang ở giữa biển lửa. Nhiều khi đang lội qua suối, nước dâng lên như sắp cuốn chàng đi. Rồi dưới chân một ngọn núi, những tảng đá lớn lăn ầm ầm về phía chàng như muốn đè nát cả người lẫn ngựa. Tới lúc chết, Pê-rô-ních vẫn không biết những thứ ấy là thật hay chỉ do mình tưởng tượng. Nhưng chàng kéo sụp chiếc mũ len xuống che mắt, tin để con ngựa non đưa mình đi đúng đường.
Cuối cùng khu rừng đã lùi lại phía sau, họ ra tới một cánh đồng rộng, gió thổi mát rượi, lồng lộng. Chàng ngốc đánh liều ghé mắt nhìn ra, nhẹ cả người thấy bùa phép có vẻ đã hết. Nhưng chàng rùng mình kinh hãi khi thấy rải rác khắp cánh đồng những bộ xương người nằm bên xương ngựa. Còn những bóng xám đang chạy lúp xúp xa xa kia là gì thế? Có phải, có lẽ nào là sói?
Cánh đồng tuy mênh mông nhưng chẳng mấy chốc đã qua. Con ngựa non vào một khu vườn rợp bóng, giữa vườn có một cây táo duy nhất, cành trĩu quả rạp xuống tận đất. Đứng trước cây là một cô-ri-gan, một gã tiên lùn bé xíu, tay cầm thanh gươm lửa chạm vào đâu cháy thành tro đó. Thấy Pê-rô-ních, gã thét lên một tiếng chói tai, giơ gươm lên. Nhưng chàng trai chẳng tỏ vẻ gì ngạc nhiên, chỉ nhấc mũ chào, có điều vẫn cẩn thận đứng cách một quãng. Chàng nói:
— Xin ngài đừng hoảng, thưa hoàng thân. Tôi chỉ đang trên đường tới Kéc-gla, vì ngài Rô-gi-a cao quý nhờ tôi tới có việc.
Gã lùn nhắc lại:
— Nhờ mày tới? Thế mày là ai?
Pê-rô-ních đáp:
— Tôi là đầy tớ mới ngài vừa thuê, ngài biết rõ mà.
Gã cô-ri-gan hậm hực:
— Tao chẳng biết gì cả. Biết đâu mày là một tên trộm.
Pê-rô-ních đáp:
— Tôi rất tiếc. Có lẽ tôi tự xưng là đầy tớ là sai, vì tôi chỉ là người bẫy chim. Nhưng xin ngài đừng giữ tôi lại, vì ngài phù thuỷ đang chờ tôi. Ngài thấy đấy, ngài ấy còn cho tôi mượn con ngựa non để tới lâu đài cho nhanh.
Nghe vậy, gã cô-ri-gan lần đầu tiên đưa mắt nhìn con ngựa non. Gã biết nó là ngựa của lão phù thuỷ, bắt đầu nghĩ chàng trai nói thật. Xem xét con ngựa xong, gã ngắm người cưỡi. Chàng có vẻ ngây thơ, mà thật ra là ngây ngô, tới mức chẳng có vẻ gì bịa nổi một câu chuyện. Dù vậy gã lùn vẫn chưa thật yên tâm, hỏi lão phù thuỷ cần người bẫy chim làm gì.
Pê-rô-ních đáp:
— Nghe ngài ấy nói thì ngài ấy cần lắm, vì ngài bảo lúa má và trái cây trong vườn ở Kéc-gla bị chim ăn sạch cả.
Gã cô-ri-gan hỏi:
— Thế mày định chặn chúng thế nào, anh chàng tốt mã?
Pê-rô-ních cho gã xem chiếc lưới đã sửa soạn sẵn, bảo rằng chẳng con chim nào thoát được. Gã bảo:
— Đó đúng là điều tao muốn biết chắc. Táo của tao bị lũ sáo đen với hoạ mi ăn sạch sành sanh. Mày giăng lưới đi, nếu bắt được chúng thì tao cho mày qua.
Pê-rô-ních nói:
— Thế là công bằng.
Vừa nói Pê-rô-ních vừa nhảy xuống, buộc con ngựa non vào một gốc cây. Rồi chàng cúi xuống, buộc một đầu lưới vào thân cây táo, gọi gã cô-ri-gan giữ đầu kia trong khi chàng lấy cọc ra. Gã lùn làm như chàng bảo. Bất thình lình Pê-rô-ních quăng cái thòng lọng vào cổ gã, kéo thít lại. Thế là gã cô-ri-gan bị giữ chặt như bất kỳ con chim nào gã muốn bẫy.
Gã gào thét giận dữ, cố gỡ dây, nhưng càng gỡ nút càng thít chặt. Gã đã đặt thanh gươm xuống cỏ, còn Pê-rô-ních đã cẩn thận buộc lưới ở phía bên kia thân cây. Thế là giờ chàng dễ dàng hái một quả táo, lên ngựa, chẳng bị gã lùn cản trở gì, mặc gã cho số phận.
Ra khỏi cánh đồng, Pê-rô-ních và con ngựa của chàng thấy mình đang ở trong một thung lũng hẹp. Ở đó có một khu vườn đầy đủ thứ hoa thơm: hoa hồng đủ màu, kim tước vàng, kim ngân hồng. Cao hơn cả là một bông hoa păng-xê đỏ thắm kỳ diệu, trên mặt hoa có một vẻ lạ lùng. Đó là bông hoa biết cười, ai nhìn vào cũng không nhịn được cười theo. Tim Pê-rô-ních đập rộn khi nghĩ mình đã tới được thử thách thứ hai an toàn. Chàng điềm tĩnh nhìn con sư tử có bộ bờm toàn rắn độc uốn éo, vặn vẹo, đang đi đi lại lại trước khu vườn.
Chàng trai ghìm ngựa, nhấc mũ, vì ngốc thì ngốc, chàng biết khi phải giao thiệp với kẻ lớn hơn mình, cái mũ cầm trên tay có ích hơn đội trên đầu. Rồi sau khi chúc con sư tử và cả nhà nó đủ thứ may mắn, chàng hỏi mình có đi đúng đường tới Kéc-gla không.
Con sư tử gầm gừ, nhe răng:
— Mày tới Kéc-gla có việc gì?
Pê-rô-ních làm như sợ lắm:
— Kính thưa ngài, tôi là đầy tớ của một bà bạn của ngài Rô-gi-a cao quý. Bà gửi ngài ấy mấy con chim sơn ca để làm bánh nướng.
Con sư tử liếm bộ ria dài, kêu lên:
— Chim sơn ca ư? Ồ, hẳn đã cả trăm năm nay ta chưa được nếm con nào! Mày mang theo nhiều không?
— Đầy cái túi này đây.
Pê-rô-ních đáp, vừa nói vừa mở cái túi đã nhét đầy lông chim và keo. Để chứng tỏ mình nói thật, chàng quay lưng lại con sư tử, bắt đầu nhại tiếng hót sơn ca.
Con sư tử chảy nước miếng:
— Nào, cho ta xem mấy con chim! Ta muốn xem chúng có đủ béo cho chủ ta không.
Chàng ngốc đáp:
— Tôi rất sẵn lòng. Nhưng tôi mà mở túi ra là chúng bay hết mất.
— Thế thì mở vừa đủ cho ta nhìn vào.
Con sư tử nói, nhích lại gần hơn một chút.
Đó đúng là điều Pê-rô-ních mong. Chàng giữ cái túi trong khi con sư tử cẩn thận mở ra, thò hẳn cái đầu vào trong để đớp một miếng sơn ca cho đã. Nhưng đống lông chim và keo dính chặt lấy nó. Nó chưa kịp rút đầu ra, Pê-rô-ních đã kéo thít sợi dây, buộc một cái nút không ai gỡ nổi. Rồi chàng nhanh tay hái bông hoa biết cười, phi đi nhanh hết sức con ngựa non chạy được.
Chẳng mấy chốc con đường dẫn tới hồ rồng, chàng phải bơi qua. Con ngựa non vốn quen đường, chẳng ngần ngại lao xuống nước. Nhưng vừa thấy Pê-rô-ních, lũ rồng từ khắp nơi trong hồ kéo tới định ăn thịt chàng.
Lần này Pê-rô-ních chẳng buồn bỏ mũ. Chàng ném xâu hạt cườm mang theo xuống nước, như người ta ném thóc cho vịt. Con rồng nào nuốt một hạt cườm là lật ngửa bụng mà chết, thế là chàng ngốc sang tới bờ bên kia chẳng gặp rắc rối gì thêm.
Giờ trước mặt chàng là thung lũng có gã đen sì canh giữ. Từ xa Pê-rô-ních đã thấy gã. Một chân gã bị xích vào một tảng đá ở lối vào, tay cầm quả cầu sắt ném đâu trúng đó, lại tự bay về tay chủ. Trên đầu gã có sáu con mắt không bao giờ nhắm cùng một lúc, mà thay phiên nhau canh gác. Lúc này cả sáu mắt đều mở. Pê-rô-ních biết rõ hễ gã thoáng thấy mình là gã sẽ ném quả cầu. Thế là chàng giấu con ngựa non sau một bụi rậm, bò dọc theo một con mương, nép sát vào chính tảng đá xích gã.
Trời nóng, một lúc sau gã bắt đầu buồn ngủ. Hai con mắt nhắm lại. Pê-rô-ních khe khẽ hát. Một lát sau con mắt thứ ba nhắm, Pê-rô-ních vẫn hát tiếp. Mí con mắt thứ tư nặng trĩu sụp xuống, rồi tới mí mắt thứ năm, thứ sáu. Gã đen sì đã ngủ say.
Bấy giờ chàng ngốc nhón chân quay lại chỗ con ngựa non, dắt nó đi trên lớp rêu êm, qua mặt gã đen sì, vào thung lũng hoan lạc. Đó là một khu vườn tuyệt diệu, đầy trái cây lủng lẳng ngay trước miệng, những vòi nước chảy ra rượu, những bông hoa hát bằng giọng êm êm nho nhỏ. Xa hơn có những bàn bày đầy thức ăn, những cô gái đang múa trên cỏ gọi chàng vào cùng.
Pê-rô-ních nghe thấy. Gần như không biết mình đang làm gì, chàng ghìm con ngựa non đi chậm lại. Chàng hít hà mùi thức ăn, ngẩng đầu lên để nhìn các cô gái cho rõ. Chỉ một khoảnh khắc nữa là chàng sẽ dừng hẳn, và sẽ bỏ mạng như bao người trước. Thì bỗng chiếc bát vàng và ngọn giáo kim cương hiện ra trước mắt chàng như một ảo ảnh. Chàng rút cái còi trong túi ra thổi thật to cho át những âm thanh ngọt ngào xung quanh, rồi ăn nốt mẩu bánh mì mỡ còn lại để dập cơn thèm những trái cây có phép. Còn mắt chàng thì dán chặt vào hai tai con ngựa non để khỏi nhìn thấy các cô gái múa.
Nhờ thế chàng tới được cuối vườn, và cuối cùng trông thấy lâu đài Kéc-gla, giữa chàng và lâu đài là con sông chỉ có một chỗ lội qua. Liệu người đàn bà có ngồi đó như ông già nói không? Có, chắc chắn là bà ta rồi, đang ngồi trên một tảng đá, mặc áo sa tanh đen, mặt sạm đen. Chàng ngốc phi ngựa tới, nhấc mũ chào lễ phép hơn bao giờ hết, hỏi bà có muốn qua sông không.
Bà đáp:
— Ta đang chờ cậu giúp ta qua đây. Lại gần đây để ta lên ngồi sau lưng.
Pê-rô-ních làm như bà bảo. Nhờ cánh tay chàng đỡ, bà nhảy phóc lên lưng con ngựa non.
Đang lội qua sông, người đàn bà hỏi:
— Cậu có biết cách giết lão phù thuỷ không?
Pê-rô-ních đáp:
— Tôi tưởng lão là phù thuỷ thì bất tử, chẳng ai giết được.
Bà bảo:
— Cậu dỗ lão nếm quả táo kia, lão sẽ chết. Nếu chưa đủ thì ta sẽ chạm ngón tay vào lão, vì ta chính là Dịch Bệnh.
Pê-rô-ních hỏi:
— Nhưng giết lão rồi, làm sao tôi lấy được chiếc bát vàng và ngọn giáo kim cương cất dưới hầm, khi không có chìa khoá?
— Bông hoa biết cười mở được mọi cánh cửa, soi sáng mọi bóng tối.
Bà nói, và vừa lúc ấy họ tới bờ bên kia, đi về phía lâu đài.
Trước lối vào có một thứ như chiếc lều dựng trên mấy cây cột, lão khổng lồ đang ngồi dưới đó phơi nắng. Vừa thấy con ngựa non chở Pê-rô-ních và người đàn bà, lão ngẩng đầu lên, quát giọng như sấm:
— Ô hay, đúng là thằng ngốc, đang cưỡi con ngựa non mười ba tháng của ta!
Pê-rô-ních đáp:
— Thưa bậc phù thuỷ vĩ đại nhất, ngài nói đúng.
Lão hỏi:
— Thế mày bắt nó bằng cách nào?
Pê-rô-ních đáp:
— Bằng cách nhắc lại những gì tôi học được của anh ngài là ông Bri-ác ở bìa rừng. Tôi chỉ nói:
"Ngựa non tha hồ chạy, tha hồ ăn,
Ngựa non phi mau tới gặp ta."
thế là nó tới ngay.
Lão hỏi:
— Vậy là mày biết anh ta? Nói xem vì sao anh ta sai mày tới đây.
Pê-rô-ních đáp:
— Để mang tới cho ngài hai món quà ông vừa nhận được từ một xứ xa phương nam: quả táo hoan lạc và người đàn bà vâng lời. Ngài ăn quả táo thì sẽ chẳng thèm muốn gì khác nữa, còn nhận người đàn bà làm người hầu thì ngài sẽ chẳng bao giờ muốn ai khác.
Rô-gi-a bảo:
— Được, đưa quả táo đây, bảo người đàn bà xuống ngựa.
Chàng ngốc vâng lời. Nhưng vừa nếm miếng táo đầu tiên, lão khổng lồ đã loạng choạng, rồi khi ngón tay dài vàng vọt của người đàn bà chạm vào lão, lão ngã vật ra chết.
Để mặc lão phù thuỷ nằm đó, Pê-rô-ních vào lâu đài, mang theo bông hoa biết cười. Năm mươi cánh cửa mở toang trước mặt chàng. Cuối cùng chàng tới một dãy bậc thang dài dường như dẫn xuống tận lòng đất. Chàng đi xuống cho tới một cánh cửa bạc không then, không khoá. Chàng giơ cao bông hoa biết cười, cánh cửa từ từ mở ra, để lộ một cái hang sâu, sáng như ban ngày nhờ ánh chiếc bát vàng và ngọn giáo kim cương. Chàng ngốc vội chạy tới, đeo chiếc bát lên cổ bằng sợi xích gắn sẵn, cầm ngọn giáo trong tay. Ngay lúc ấy mặt đất rung chuyển dưới chân chàng, một tiếng ầm ầm khủng khiếp vang lên, toà lâu đài biến mất, và Pê-rô-ních thấy mình đang đứng sát bìa khu rừng nơi chàng vẫn lùa bò đi ăn cỏ.
Trời đã sắp tối, nhưng Pê-rô-ních chẳng nghĩ tới việc vào trang trại, mà đi theo con đường dẫn tới triều đình của công tước xứ Bờ-rơ-ta-nhơ. Đi qua thành Van, chàng dừng lại ở một hiệu may, mua một bộ áo nhung nâu tuyệt đẹp và một con ngựa trắng, trả bằng một vốc vàng chàng nhặt được ngoài hành lang lâu đài Kéc-gla. Cứ thế chàng tới thành Năng, lúc ấy đang bị quân Pháp vây hãm.
Còn cách một quãng, Pê-rô-ních dừng lại nhìn quanh. Hàng dặm quanh đó đất đai trơ trụi, vì quân địch đã chặt hết cây, đốt hết lúa. Ngốc thì ngốc, Pê-rô-ních cũng hiểu được rằng bên trong cổng thành người ta đang chết đói. Chàng còn đang kinh hãi nhìn thì một người lính kèn hiện ra trên tường thành, thổi một hồi kèn vang dội, rồi loan báo rằng công tước sẽ nhận làm người nối nghiệp kẻ nào đuổi được quân Pháp ra khỏi xứ.
Người lính kèn thổi ở cả bốn phía thành. Tới lần cuối, Pê-rô-ních đã phi ngựa tới gần hết mức có thể, đáp lại:
— Anh khỏi phải thổi nữa, vì chính tôi sẽ giải phóng thành khỏi quân thù.
Rồi chàng quay sang một người lính đang vung gươm chạy tới, chạm ngọn giáo thần vào người hắn. Hắn ngã vật ra chết ngay tại chỗ. Những tên lính chạy theo sau đứng sững, kinh ngạc. Áo giáp của đồng đội chúng không hề thủng, chúng chắc chắn thế, vậy mà hắn đã chết, như bị đâm trúng tim. Nhưng chúng chưa kịp hoàn hồn thì Pê-rô-ních đã kêu lên:
— Các người thấy kẻ thù của ta sẽ ra sao rồi đấy. Giờ hãy xem ta làm được gì cho bạn bè ta.
Chàng cúi xuống, đặt chiếc bát vàng vào miệng người lính, và người lính ngồi dậy lành lặn như trước. Rồi chàng cho ngựa nhảy qua chiến hào, vào cổng thành, lúc ấy đã mở vừa đủ cho chàng đi qua.
Tin về những điều kỳ diệu ấy nhanh chóng lan khắp thành, khiến quân giữ thành phấn chấn hẳn lên, tuyên bố sẵn sàng chiến đấu dưới quyền chỉ huy của chàng trai lạ. Vì chiếc bát làm cho mọi người Bờ-rơ-ta-nhơ đã chết sống lại, chẳng mấy chốc Pê-rô-ních đã có một đạo quân đủ đông để đuổi quân Pháp đi, giữ đúng lời hứa giải phóng quê hương.
Còn chiếc bát và ngọn giáo, chẳng ai biết về sau chúng ra sao. Có người bảo phù thuỷ Bri-ác đã tìm cách lấy trộm lại được, và ai muốn có chúng thì phải đi tìm như Pê-rô-ních đã đi.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích