Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Liễu Nghị đưa thư cho Long nữ

của Truyền kỳ đời Đường (nhiều tác giả)

⏱ 24 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 22.437 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Trong khoảng năm Nghi Phượng, có một nho sinh…
  2. 3:14Là loài sấm sét.
  3. 5:00Người võ phu đáp:
  4. 7:14Long quân đáp:
  5. 9:57Ban nãy giờ Thìn em ra khỏi điện Linh…
  6. 12:14Trời xanh xe duyên, sống chết có đường. Kẻ…
  7. 17:01Liễu Nghị đến chợ châu báu ở Quảng Lăng…
  8. 21:41Rồi hai vợ chồng cùng về Động Đình thăm…

Trong khoảng năm Nghi Phượng, có một nho sinh tên là Liễu Nghị, đi thi không đỗ, sắp trở về quê bên bờ sông Tương. Chàng nhớ có người đồng hương đang ở trọ đất Kinh Dương, bèn ghé qua từ biệt.

Đi được sáu bảy dặm, chim chợt vụt bay lên, ngựa giật mình phóng lệch sang bên đường. Chạy thêm sáu bảy dặm nữa mới chịu dừng. Chàng thấy có một người đàn bà đang chăn dê bên vệ đường. Nhìn kỹ, thấy nàng đẹp lạ lùng. Thế nhưng đôi mày chau lại, khăn áo xơ xác, nàng đứng lặng như đang nghe ngóng, như đang chờ đợi điều gì.

Liễu Nghị hỏi:

— Nàng khổ sở chuyện gì mà phải tự hạ mình thế này?

Thoạt đầu nàng ngập ngừng tạ lời, rồi sau khóc mà đáp:

— Thiếp vô phúc, hôm nay để bậc trưởng giả phải hỏi đến. Nhưng mối hận đã thấu tận xương, đâu còn ngại ngùng mà giấu, xin ngài nghe cho. Thiếp là con gái út của Long quân hồ Động Đình. Cha mẹ gả thiếp cho con trai thứ của thần sông Kinh. Nhưng chồng thiếp chỉ mải chơi bời, bị bọn tì thiếp mê hoặc, ngày càng ruồng rẫy thiếp. Thiếp định kêu với cha mẹ chồng, nhưng cha mẹ chồng thương con, không ngăn được. Đến khi thiếp kêu ca nhiều lần, lại mang tội với cha mẹ chồng. Cha mẹ chồng hắt hủi, đày thiếp ra đến nông nỗi này.

Nói xong, nàng nức nở rơi lệ, đau đớn khôn cầm. Rồi nàng lại nói:

— Động Đình cách đây chẳng biết bao xa. Trời dài mù mịt, tin tức không thông. Lòng đã tan nát, mắt đã mỏi mòn, mà chẳng ai hay nỗi khổ. Nghe nói ngài sắp về đất Ngô, đi ngang gần Động Đình. Thiếp muốn gửi một bức thư nhờ người hầu của ngài đem giúp, chẳng biết có được chăng?

Liễu Nghị đáp:

— Ta là kẻ trọng nghĩa. Nghe nàng nói, máu trong người sôi lên, chỉ giận không có lông cánh để bay đi ngay. Còn nói gì được hay không được nữa. Nhưng Động Đình là chốn nước sâu, ta đi trên mặt đất, làm sao tới mà báo tin? Chỉ sợ đường âm dương cách trở, không thông được, phụ lòng nàng nhờ cậy, lại trái điều nàng mong mỏi. Nàng có phép gì chỉ đường cho ta không?

Nàng vừa khóc vừa tạ:

— Ngài nhận lời gánh vác, thiếp chẳng dám nói thêm. Nếu được tin về, dù chết thiếp cũng báo đáp. Ngài chưa nhận lời thì thiếp đâu dám nói. Nay ngài đã nhận lời mà hỏi đến, thì đường xuống Động Đình cũng chẳng khác gì đường lên kinh đô. Phía bắc hồ Động Đình có một cây quýt lớn, người làng gọi là cây quýt thần. Ngài hãy cởi dây lưng này ra, buộc bằng thứ khác, rồi gõ vào cây ba lần, sẽ có người ra đáp. Ngài cứ theo người ấy mà đi, chẳng có gì trở ngại. Ngoài những lời trong thư, xin ngài đem cả những lời tận đáy lòng của thiếp mà nói lại, nghìn vạn lần xin đừng sai lời.

Liễu Nghị nói:

— Xin kính vâng lời nàng.

Nàng bèn lấy bức thư từ trong vạt áo ra, lạy hai lạy rồi đưa cho chàng. Nàng nhìn về phía đông mà khóc, như không sao cầm lòng được. Liễu Nghị cũng xót xa cho nàng lắm. Chàng cất thư vào túi, rồi hỏi thêm:

— Ta không hiểu nàng chăn dê để làm gì? Chẳng lẽ thần thánh cũng giết dê mà ăn ư?

Nàng đáp:

— Đây không phải là dê, đây là thợ làm mưa.

Liễu Nghị hỏi:

— Thợ làm mưa là gì?

— Là loài sấm sét.

Chàng nhìn kỹ lại mấy lần, thấy con nào cũng ngẩng đầu ngoái nhìn, bước đi hùng hổ, cách uống nước ăn cỏ cũng rất lạ. Nhưng to nhỏ, lông, sừng thì chẳng khác gì dê thường. Liễu Nghị lại nói:

— Ta đã làm sứ giả cho nàng, mai này về Động Đình, mong nàng đừng tránh mặt ta.

Nàng đáp:

— Đâu chỉ không tránh mặt, thiếp sẽ coi ngài như người thân thích.

Nói xong, chàng từ biệt đi về phía đông. Chưa được mấy chục bước, quay lại nhìn thì cả người lẫn dê đều đã biến mất.

Tối hôm ấy, chàng đến huyện thành, chia tay người bạn. Hơn một tháng sau về tới quê nhà, chàng liền tìm đến Động Đình. Phía bắc hồ quả có cây quýt thần. Chàng thay dây lưng, quay mặt về phía cây, gõ ba tiếng rồi dừng. Chốc lát có một người võ phu từ trong sóng nước hiện ra, lạy hai lạy mà hỏi:

— Quý khách từ đâu tới đây?

Liễu Nghị không nói thật, chỉ đáp:

— Ta đến yết kiến Đại vương.

Người võ phu rẽ nước chỉ đường, dẫn chàng đi vào, rồi bảo:

— Khách hãy nhắm mắt, thở vài hơi là tới.

Chàng làm theo lời, liền tới cung điện. Thoạt nhìn, lầu gác đối nhau, cửa ngõ có đến nghìn vạn, cỏ lạ cây quý thứ gì cũng có. Người võ phu cho chàng dừng lại ở góc một gian nhà lớn mà nói:

— Khách hãy ở đây chờ.

Liễu Nghị hỏi:

— Đây là chỗ nào?

Người võ phu đáp:

— Đây là điện Linh Hư.

Chàng nhìn kỹ thì thấy châu báu cõi người đều dồn cả về đây. Cột bằng ngọc bích trắng, thềm lát ngọc xanh, giường bằng san hô, rèm bằng pha lê. Mi cửa xanh biếc chạm lưu ly, xà nhà như cầu vồng nạm hổ phách. Lạ lùng, đẹp đẽ, thâm u, không sao tả xiết. Nhưng chờ mãi không thấy vua ra. Liễu Nghị hỏi người võ phu:

— Quân vương Động Đình đang ở đâu?

Người võ phu đáp:

— Vua tôi đang ngự ở gác Huyền Châu, cùng đạo sĩ Thái Dương bàn về Hoả kinh, lát nữa sẽ xong.

— Hoả kinh là gì?

— Vua tôi là rồng. Rồng lấy nước làm thần, một giọt có thể nhấn chìm cả gò cả núi. Đạo sĩ là người. Người lấy lửa làm thiêng, một ngọn đèn có thể đốt cháy cung A Phòng. Phép thiêng mỗi bên một khác, cách biến hoá mỗi bên một riêng. Đạo sĩ Thái Dương tinh thông lẽ đời người, nên vua tôi mời đến nghe giảng.

Nói vừa xong thì cửa cung mở. Bóng người theo nhau như mây tụ, thấy một người mặc áo tía, cầm hốt ngọc xanh. Người võ phu nhảy lên:

— Đây là vua tôi!

Rồi anh ta bước tới tâu. Long quân nhìn Liễu Nghị mà hỏi:

— Chẳng phải người ở cõi trần đó sao?

Liễu Nghị đáp:

— Thưa vâng.

Liễu Nghị bèn vái lạy, Long quân cũng đáp lễ, mời chàng ngồi trong điện Linh Hư, rồi nói:

— Thuỷ phủ thâm u, quả nhân tối tăm. Phu tử không quản nghìn dặm tới đây, có việc gì chăng?

Liễu Nghị thưa:

— Tôi là người cùng quê với Đại vương, lớn lên ở đất Sở, đi học ở đất Tần. Vừa rồi thi trượt, đang thả ngựa bên bờ sông Kinh, thấy con gái yêu của Đại vương chăn dê ngoài đồng, tóc rối vì gió, tóc mai ướt vì mưa, tôi không nỡ nhìn. Tôi hỏi thì nàng nói: bị chồng ruồng rẫy, cha mẹ chồng không thương, nên mới đến nông nỗi này. Nàng khóc lã chã, thật đứt ruột người nghe. Rồi nàng gửi thư nhờ tôi, tôi đã nhận lời. Nay tôi tới đây.

Nói rồi chàng lấy thư dâng lên. Long quân Động Đình đọc xong, lấy tay áo che mặt mà khóc:

— Đó là tội của cha già này. Ta không biết nghe biết xét, chẳng khác gì kẻ điếc kẻ mù, để đứa con gái yếu đuối nơi khuê phòng phải xa xôi chịu hãm hại. Ông là người dưng ngoài đường, thế mà biết lo cho con ta. Chừng nào ta còn răng còn tóc, đâu dám phụ ơn này!

Nói xong, vua lại thở than thương xót hồi lâu, kẻ hầu hai bên đều rơi lệ. Bấy giờ có viên hoạn quan hầu cận, vua đưa thư cho y, sai đem vào trong cung. Chỉ một lát, cả trong cung khóc rống lên. Vua giật mình, bảo người hai bên:

— Mau vào bảo trong cung đừng làm ồn. Sợ Tiền Đường biết mất.

Liễu Nghị hỏi:

— Tiền Đường là ai?

Long quân đáp:

— Đó là em trai yêu của quả nhân, trước làm chủ sông Tiền Đường, nay đã thôi việc.

— Sao lại không cho ông ấy biết?

— Vì nó mạnh quá người thường. Xưa vua Nghiêu gặp nạn lụt chín năm, chính là do một cơn giận của nó. Mới đây nó lại bất hoà với thiên tướng, dâng nước ngập năm ngọn núi. Thượng đế nghĩ quả nhân xưa nay có chút đức mọn, nên tha tội cho em ruột ta. Nhưng nó vẫn bị xích giữ ở đây, cho nên người đất Tiền Đường ngày ngày vẫn trông nó về.

Lời chưa dứt thì bỗng một tiếng nổ lớn, trời long đất lở, cung điện rung chuyển, mây khói sôi trào. Chốc lát có một con rồng đỏ dài hơn nghìn thước, mắt như chớp, lưỡi như máu, vảy đỏ, bờm lửa, cổ còn kéo theo sợi xích vàng, sợi xích còn dính cây cột ngọc. Nghìn tiếng sấm vạn tia sét cuộn quanh mình nó, mưa đá, tuyết, mưa rào trút xuống cùng một lúc. Rồi nó xé toạc trời xanh mà bay đi.

Liễu Nghị sợ quá ngã lăn ra đất. Long quân đứng dậy tự tay đỡ chàng mà nói:

— Đừng sợ, không hại gì đâu.

Hồi lâu chàng mới hơi yên, tự trấn tĩnh lại được. Chàng xin cáo từ:

— Mong được sống mà về, để tránh lúc nó quay lại.

Long quân nói:

— Không đến nỗi thế đâu. Lúc nó đi thì như vậy, lúc về thì không như vậy. Mong ông nán lại cho trọn tình.

Rồi vua sai rót rượu, cùng chàng nâng chén, đãi theo lễ cõi người.

Chẳng bao lâu, gió lành mây đẹp, không khí ấm áp hoà vui. Cờ phướn lung linh, tiếng tiêu tiếng nhạc theo sau. Nghìn vạn người đẹp nói cười rộn rã. Ở giữa có một người, đôi mày thanh tú tự nhiên, ngọc đeo đầy mình, lụa là phấp phới. Liễu Nghị đến gần nhìn kỹ, chính là người đã gửi thư cho chàng. Nàng như mừng như tủi, nước mắt rơi như tơ. Chốc lát khói hồng che bên trái, khí tía toả bên phải, hương thơm vờn quanh, nàng đi vào trong cung. Long quân cười bảo Liễu Nghị:

— Người tù sông Kinh về rồi.

Rồi vua cáo từ vào cung. Một lát sau, lại nghe trong cung tiếng than thở oán hờn hồi lâu không dứt.

Một lúc sau, vua trở ra, cùng Liễu Nghị ăn uống. Lại có một người mặc áo tía, cầm hốt ngọc xanh, dáng người cao lớn, thần sắc lẫm liệt, đứng bên trái vua. Vua bảo Liễu Nghị:

— Đây là Tiền Đường.

Liễu Nghị đứng dậy, bước tới vái chào. Tiền Đường quân cũng đáp lễ rất chu đáo, nói với chàng:

— Cháu gái tôi vô phúc, bị thằng ranh làm nhục. Nhờ quân tử sáng suốt giữ chữ tín chữ nghĩa, đưa nỗi oan xa xôi về đến nơi. Bằng không, cháu tôi đã thành nắm đất bên bờ sông Kinh rồi. Ơn đức ấy, lời nào nói cho hết.

Liễu Nghị khiêm nhường lui lại tạ ơn, chỉ biết cúi đầu vâng dạ. Rồi Tiền Đường quân quay lại thưa với anh:

— Ban nãy giờ Thìn em ra khỏi điện Linh Hư, giờ Tị tới Kinh Dương, giờ Ngọ đánh nhau ở đó, chưa kịp về đây. Giữa chừng em phóng lên chín tầng trời, tâu với Thượng đế. Thượng đế biết nỗi oan, tha cho lỗi lầm của em, những tội trách phạt trước kia cũng được xoá luôn. Nhưng vì ruột gan nóng nảy, em không kịp từ biệt, làm kinh động trong cung, lại mạo phạm đến khách quý. Em hổ thẹn lo sợ, chẳng biết đã sai đến đâu.

Nói rồi lui lại lạy hai lạy. Long quân hỏi:

— Giết bao nhiêu mạng?

— Sáu mươi vạn.

— Có hại mùa màng không?

— Tám trăm dặm.

— Thằng chồng bạc tình đâu?

— Em ăn rồi.

Long quân buồn rầu nói:

— Thằng ranh làm điều như thế, thật không thể nhịn. Nhưng chú cũng quá nóng vội. May nhờ Thượng đế anh minh, xét thấu nỗi oan cùng cực. Bằng không, ta biết nói sao đây. Từ nay về sau, đừng làm như thế nữa.

Tiền Đường quân lại lạy hai lạy.

Đêm ấy, vua cho Liễu Nghị nghỉ ở điện Ngưng Quang. Hôm sau lại mở tiệc đãi chàng ở cung Ngưng Bích, mời đủ bạn bè họ hàng, tấu nhạc lớn, rượu ngon la liệt, món ăn thơm sạch bày đầy.

Mở đầu, tiếng kèn tiếng tù và, trống trận, cờ xí, gươm giáo, một vạn người múa ở bên phải. Trong số đó có một người bước ra nói:

— Đây là khúc Tiền Đường phá trận.

Cờ xí tung bay khí thế hùng tráng, người múa xông xáo dũng mãnh, khách ngồi xem ai nấy dựng cả tóc gáy. Lại có chuông khánh, đàn sáo, lụa là, châu ngọc, một nghìn thiếu nữ múa ở bên trái. Trong đó có một nàng bước ra nói:

— Đây là khúc Công chúa về cung.

Tiếng nhạc trong trẻo uyển chuyển, như kể lể như nhớ thương, khách ngồi nghe bất giác rơi nước mắt. Hai điệu múa xong, Long quân vui lắm, ban lụa là cho người múa. Rồi mọi người ngồi sát lại bên nhau, uống rượu thoả thích.

Rượu đã ngà say, Long quân Động Đình gõ vào chiếu mà hát:

— Trời cao xanh thẳm, đất rộng mênh mông. Người ta mỗi kẻ một lòng, sao mà đo cho thấu. Thần cáo thánh chuột, nương miếu dựa tường. Một khi sấm sét nổi lên, ai dám đương đầu. Nhờ người trung chính, tín nghĩa dài lâu, cho cốt nhục được về quê cũ. Cùng nói lời hổ thẹn, đến bao giờ quên.

Long quân hát xong, Tiền Đường quân lạy hai lạy rồi hát:

— Trời xanh xe duyên, sống chết có đường. Kẻ kia không đáng làm vợ, kẻ nọ không đáng làm chồng. Ruột gan cay đắng, ở góc sông Kinh. Gió sương đầy tóc mai, mưa tuyết thấm áo là. Nhờ ngài sáng suốt đem lá thư trắng, cho cốt nhục nhà ta lại như xưa. Mãi mãi xin nói lời trân trọng, không lúc nào quên.

Tiền Đường quân hát xong, Long quân cũng đứng dậy, hai vị cùng nâng chén mời Liễu Nghị. Liễu Nghị khép nép nhận chén, uống cạn, rồi rót hai chén dâng lại hai vua, cất tiếng hát:

— Mây biếc lững lờ, sông Kinh xuôi đông. Thương người đẹp khóc như mưa, hoa cũng sầu. Lá thư nhỏ đến được nơi xa, giải nỗi lo cho vua. Mối oan đã rửa sạch, nàng trở về chốn yên vui. Đội ơn tiệc nhã nhặn, cảm tấm lòng ngọt ngào. Nhà quê vắng vẻ, khó ở lâu. Muốn từ biệt ra đi, lòng còn vương vấn.

Hát xong, mọi người đều hô vạn tuế. Long quân Động Đình lấy ra một chiếc hộp ngọc biếc, đựng chiếc sừng tê rẽ nước. Tiền Đường quân lấy ra một chiếc mâm hổ phách đỏ, đựng viên ngọc soi sáng ban đêm. Hai vị đều đứng dậy tặng Liễu Nghị. Chàng tạ ơn rồi nhận. Sau đó người trong cung đều đem lụa là, châu ngọc ném xuống cạnh chàng, chồng chất rực rỡ, chỉ chốc lát đã vùi lấp trước sau. Liễu Nghị cười nói, nhìn quanh bốn phía, vái tạ không kịp. Đến khi rượu tàn vui trọn, chàng cáo từ đứng dậy, lại về nghỉ ở điện Ngưng Quang.

Hôm sau, lại mở tiệc đãi Liễu Nghị ở gác Thanh Quang. Tiền Đường quân nhân lúc say rượu, sa sầm nét mặt, ngồi xổm mà nói với chàng:

— Ông có nghe câu: đá cứng có thể vỡ chứ không thể cuộn, kẻ sĩ trọng nghĩa có thể giết chứ không thể làm nhục không? Tôi có điều tâm sự muốn bày tỏ với ông. Nếu ông bằng lòng thì cả hai ta cùng lên tận mây xanh. Nếu không bằng lòng thì cả hai ta cùng vùi xuống đất bùn. Ông nghĩ sao?

Liễu Nghị nói:

— Xin cho nghe.

Tiền Đường quân nói:

— Vợ thằng Kinh Dương chính là con gái yêu của Long quân Động Đình. Nết na hiền thục, tư chất tốt đẹp, được họ hàng chín đời kính trọng. Chẳng may bị kẻ xấu làm nhục, nay đã dứt hẳn rồi. Tôi muốn gửi nó cho người cao nghĩa, đời đời làm thân thích, để kẻ chịu ơn biết chỗ nương về, kẻ đem lòng thương biết chỗ gửi gắm. Như thế chẳng phải là đạo của người quân tử, có trước có sau đó sao?

Liễu Nghị nghiêm nét mặt đứng dậy, rồi bật cười mà nói:

— Thật không ngờ Tiền Đường quân lại hèn kém đến thế! Lúc đầu tôi nghe ngài vượt chín châu, ôm năm núi để trút cơn giận. Rồi lại thấy ngài giật đứt xích vàng, kéo bung cột ngọc, lao đi cứu nạn người thân. Tôi cho là cương quyết, sáng suốt, ngay thẳng, chẳng ai bằng ngài. Kẻ xúc phạm thì không tránh cái chết, người cảm động thì không tiếc mạng sống, đó mới là chí của bậc trượng phu. Sao giữa lúc tiếng tiêu tiếng sáo đang hoà, bạn bè khách khứa đang vui, ngài lại chẳng kể đạo lý, đem uy thế ra ép người? Đó há phải điều tôi vẫn mong ở ngài! Giả như gặp ngài giữa sóng cả, giữa núi đen, ngài vùng vẫy vảy râu, khoác mây khoác mưa, ép tôi phải chết, thì tôi coi ngài như cầm thú, cũng chẳng có gì mà ân hận. Nay ngài mình mặc áo mũ, ngồi bàn lễ nghĩa, đủ tính tình của năm đạo thường, gánh ý nghĩa sâu xa của trăm nết tốt, đến hiền tài cõi người cũng có kẻ không bằng, huống hồ loài thiêng dưới sông nước. Thế mà ngài lại muốn đem tấm thân to lớn, cái tính hung hăng, mượn hơi rượu mà bức bách người, như thế có gọi là ngay thẳng được chăng? Tấm thân tôi đây, chưa đủ để nhét vừa một mảnh vảy của ngài. Thế nhưng tôi dám đem tấm lòng không chịu khuất phục, để thắng cái khí thế vô đạo của ngài. Xin ngài nghĩ lại!

Tiền Đường quân ngần ngừ, rồi tạ lỗi:

— Quả nhân sinh trưởng trong cung cấm, chưa từng được nghe lời ngay thẳng. Ban nãy ăn nói ngông cuồng, mạo phạm đến bậc cao minh. Lui lại tự xét, tội không đáng được tha. Mong quân tử đừng vì thế mà xa cách là được.

Tối hôm ấy lại vui vẻ yến tiệc, vui như cũ. Liễu Nghị và Tiền Đường quân từ đó trở thành bạn tri kỷ.

Hôm sau, Liễu Nghị xin về. Phu nhân của Long quân Động Đình đặt tiệc tiễn riêng chàng ở điện Tiềm Cảnh, cả trai gái tôi tớ trong cung đều ra dự. Phu nhân khóc mà nói với chàng:

— Con gái tôi chịu ơn sâu của quân tử, tiếc chưa được đền đáp, mà đã đến lúc chia tay.

Phu nhân bảo người con gái từng bị đày ở Kinh Dương ra giữa tiệc lạy tạ Liễu Nghị. Phu nhân lại nói:

— Lần chia tay này, liệu còn ngày gặp lại chăng?

Liễu Nghị lúc đầu tuy không nhận lời Tiền Đường quân, nhưng ngồi ở tiệc này, nét mặt lại có vẻ tiếc nuối lắm. Tiệc tan, chàng từ biệt, cả cung buồn bã. Quà tặng châu báu kỳ lạ không sao kể hết. Chàng lại theo đường cũ ra tới bờ hồ, thấy hơn mười người hầu gánh túi theo sau, đưa tới tận nhà rồi mới chào đi.

Liễu Nghị đến chợ châu báu ở Quảng Lăng bán những thứ được tặng. Chưa bán được một phần trăm mà tiền của đã lên tới hàng triệu. Các nhà giàu vùng Hoài Hữu đều cho là không ai bằng chàng.

Chàng cưới vợ họ Trương, rồi vợ mất. Lại cưới vợ họ Hàn, được mấy tháng, vợ họ Hàn cũng mất. Chàng dời nhà đến Kim Lăng. Sống cảnh goá bụa, chàng thường buồn rầu, nên tính chuyện tìm người bạn đời mới. Có bà mối đến bảo:

— Có cô con gái họ Lư, người Phạm Dương. Cha tên là Hạo, từng làm huyện lệnh Thanh Lưu. Về già ông ham đạo, một mình vào chốn mây suối, nay không biết ở đâu. Mẹ họ Trịnh. Năm kia cô lấy chồng họ Trương ở Thanh Hà, chẳng may chồng chết sớm. Bà mẹ thương con còn trẻ, tiếc con thông minh xinh đẹp, muốn chọn người có đức mà gả. Chẳng hay ông nghĩ sao?

Liễu Nghị bèn chọn ngày làm lễ cưới. Hai họ đều là nhà giàu sang, lễ vật theo phép đều hết sức đầy đặn, kẻ sĩ ở Kim Lăng ai nấy đều ngưỡng mộ.

Ở với nhau được hơn một tháng, một buổi tối Liễu Nghị vào phòng, nhìn vợ, thấy rất giống Long nữ, nhưng vẻ tươi tắn đầy đặn lại hơn. Chàng bèn kể cho vợ nghe chuyện cũ. Người vợ nói:

— Ở đời làm gì có chuyện như thế. Nhưng chàng với thiếp sắp có một đứa con.

Liễu Nghị càng quý vợ hơn. Sinh con được hơn một tháng, người vợ trang điểm lộng lẫy, thay áo đẹp, mời chàng vào trong phòng có rèm, cười mà nói:

— Chàng không nhớ thiếp ngày trước sao?

Liễu Nghị đáp:

— Xưa nay chúng ta đâu phải thông gia, nhớ gì mà nhớ?

Người vợ nói:

— Thiếp chính là con gái Long quân Động Đình. Nỗi oan bên sông Kinh, nhờ chàng mà được giải. Thiếp đội ơn chàng, thề trong lòng sẽ báo đáp. Đến khi chú Tiền Đường bàn chuyện hôn nhân mà chàng không nghe, thành ra chia lìa, mỗi người một phương, không thể hỏi han nhau. Cha mẹ định gả thiếp cho thằng nhãi ở Trạc Cẩm, thiếp bèn đóng cửa, cắt tóc, tỏ rõ không bằng lòng. Tuy bị quân tử chối từ, phận mình chẳng có ngày gặp lại, nhưng tấm lòng ban đầu, đến chết cũng không đổi. Về sau cha mẹ thương chí của thiếp, lại muốn sai người lên ngỏ lời với chàng. Nhưng gặp lúc chàng cưới vợ hết lần này đến lần khác, cưới họ Trương rồi lại cưới họ Hàn. Đến khi họ Trương họ Hàn lần lượt qua đời, chàng dọn về ở đây, cha mẹ thiếp mới mừng là thiếp được toại nguyện báo ơn chàng. Nay được hầu hạ quân tử, cùng nhau vui sống trọn đời, thiếp có chết cũng không còn ân hận.

Rồi nàng nghẹn ngào, nước mắt giàn giụa. Nàng lại nói với chàng:

— Lúc đầu thiếp không nói, vì biết chàng không phải người ham sắc. Nay thiếp nói ra, vì biết chàng đã có lòng thương thiếp. Phận đàn bà mỏng manh, không đủ giữ được lòng người lâu dài, nên thiếp nhờ vào đứa con chàng yêu để gửi gắm phận mình. Chẳng biết ý chàng thế nào, thiếp vừa buồn vừa sợ, không sao yên lòng. Hôm chàng nhận thư, chàng cười bảo thiếp: mai này về Động Đình, đừng tránh mặt ta. Thật không biết lúc ấy chàng có nghĩ tới ngày hôm nay chăng? Về sau chú thiếp hỏi, chàng nhất định không nghe. Chàng thật lòng không muốn, hay là vì giận? Chàng nói cho thiếp nghe đi!

Liễu Nghị đáp:

— Hình như là có số trời. Lúc đầu ta gặp nàng bên bờ sông Kinh, thấy nàng bị oan ức, tiều tuỵ, trong lòng thật bất bình. Nhưng ta tự hẹn với lòng chỉ đưa nỗi oan của nàng đến nơi, ngoài ra không nghĩ gì khác. Câu đừng tránh mặt ta chỉ là tình cờ buột miệng, nào có ý gì. Đến khi Tiền Đường quân ép ta, ta chỉ thấy cái lẽ không thể thuận, nên mới bị khích mà nổi giận. Ta vốn lấy việc nghĩa làm chí hướng, há lại có chuyện giết người chồng rồi cưới người vợ? Đó là điều không thể thứ nhất. Ta vốn lấy sự trong sạch làm điều cao quý, há lại có chuyện bị ép mà phải khuất lòng? Đó là điều không thể thứ hai. Vả lại lúc ấy ta nói thẳng tuột theo lòng mình, chén thù chén tạc rộn ràng, chỉ cốt nói cho ngay, chẳng kịp tính hoạ phúc. Thế nhưng đến hôm chia tay, thấy nàng có vẻ lưu luyến, lòng ta ân hận lắm. Rốt cuộc vì việc đời ràng buộc, không có cách nào đền đáp. Ôi, ngày nay nàng là con gái họ Lư, lại ở cõi người, thì tấm lòng ban đầu của ta cũng không bị lầm lạc. Từ nay về sau, mãi mãi cùng nàng vui vầy, lòng chẳng còn chút gì vướng bận.

Người vợ cảm động khóc nức nở, hồi lâu không thôi. Một lúc sau, nàng nói với chàng:

— Chàng đừng vì thiếp là loài khác mà cho rằng thiếp vô tình, thiếp vốn phải biết báo đáp. Rồng sống vạn tuổi, nay thiếp xin cùng chàng chung hưởng. Dưới nước trên cạn, đâu đâu chàng cũng đi được. Chàng đừng cho là thiếp nói càn.

Liễu Nghị khen:

— Không ngờ làm khách của nước rồng, lại được ăn thuốc thần tiên.

Rồi hai vợ chồng cùng về Động Đình thăm cha mẹ. Đến nơi, lễ nghi giữa chủ và khách long trọng không sao ghi hết.

Sau đó họ sống ở Nam Hải gần bốn mươi năm. Nhà cửa, xe ngựa, của quý, áo xống, đồ chơi, đến nhà công hầu cũng không hơn được. Họ hàng Liễu Nghị đều được nhờ. Năm tháng trôi qua mà dung mạo chàng không hề già đi, người Nam Hải ai cũng lấy làm lạ.

Đến khoảng năm Khai Nguyên, nhà vua đang để tâm vào chuyện thần tiên, ra sức tìm người có đạo thuật. Liễu Nghị không được yên, bèn cùng vợ trở về Động Đình. Hơn mười năm, chẳng ai biết tung tích chàng.

Cuối năm Khai Nguyên, người em họ của Liễu Nghị là Tiết Hỗ, làm huyện lệnh vùng kinh kỳ, bị biếm đi miền đông nam. Đi qua Động Đình, giữa ban ngày trời trong, ông nhìn ra xa, chợt thấy một ngọn núi biếc nhô lên giữa làn sóng xa. Người lái thuyền đều nép sang bên mà nói:

— Chỗ này vốn không có núi, e là thuỷ quái.

Trong lúc mọi người còn đang chỉ trỏ thì núi đã sát tới thuyền. Có một chiếc thuyền hoa từ phía núi phóng tới đón Tiết Hỗ. Trong thuyền có người gọi:

— Liễu công đang chờ ngài.

Tiết Hỗ chợt nhớ ra, vội giục thuyền tới chân núi, vén áo bước nhanh lên. Trên núi có cung điện giống như ở cõi người. Ông thấy Liễu Nghị đứng giữa cung, phía trước bày đàn sáo, phía sau người hầu châu ngọc đầy rẫy, đồ chơi quý giá còn gấp mấy cõi người. Lời lẽ của Liễu Nghị càng thêm huyền diệu, dung mạo càng thêm trẻ trung. Chàng ra tận thềm đón, nắm tay Tiết Hỗ mà nói:

— Mới xa nhau trong chớp mắt, mà tóc em đã ngả vàng rồi.

Tiết Hỗ cười:

— Anh thành thần tiên, em thành xương khô, đó là số mệnh.

Liễu Nghị lấy ra năm mươi viên thuốc tặng Tiết Hỗ, dặn:

— Mỗi viên thuốc này thêm được một năm tuổi. Hết số năm thì lại đến đây, đừng ở lâu cõi người mà tự chuốc khổ.

Yến tiệc vui vẻ xong, Tiết Hỗ cáo từ. Từ đó về sau, bặt hẳn tin tức. Tiết Hỗ thường kể chuyện này với người đời. Gần bốn mươi tám năm sau, Tiết Hỗ cũng không biết đi đâu.

Lý Triều Uy người Lũng Tây chép lại chuyện này, rồi than rằng: Đứng đầu năm loài, ắt phải là loài thiêng, ở đây đã thấy rõ. Người là loài không vảy không lông, mà đem chữ tín trao cho loài có vảy. Long quân Động Đình bao dung mà ngay thẳng, Tiền Đường quân nhanh nhẹn mà khảng khái, đều đáng được truyền lại. Tiết Hỗ chỉ kể mà không chép, chỉ riêng ông là đã từng đặt chân đến cõi ấy. Ta thấy chuyện có nghĩa, nên viết thành bài này.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảTruyền kỳ đời Đường (nhiều tác giả)
Xuất bản lần đầu800
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Liễu Nghị truyện của Lý Triều Uy, truyền kỳ đời Đường (Wikisource chữ Hán)
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →