Ngày xưa, có một vị vua tên là Bha-la-ti-a trị vì thành Ba-la-nại. Một hôm, vua thèm ăn thịt nai nướng trên than hồng. Vua giao việc nước cho các quan, đeo đủ năm thứ vũ khí, dẫn theo một bầy chó săn giống quý, khôn ngoan, được dạy dỗ kỹ càng, rời kinh thành lên miền núi Tuyết.
Vua đi ngược dòng sông Hằng cho tới chỗ không thể đi xa hơn được nữa, rồi men theo một con sông nhánh một quãng dài, vừa đi vừa săn nai, săn lợn rừng, nướng thịt mà ăn, cho tới khi lên tới một nơi rất cao.
Ở đó có một dòng suối đẹp. Mùa nước lên, nước sâu ngang ngực. Những mùa khác, nước chỉ ngập tới đầu gối. Lúc ấy, đủ loài cá và rùa đang nô đùa trong nước. Cát ven bờ trắng như bạc. Cây cối hai bên bờ trĩu nặng hoa trái, cành cong xuống. Bao nhiêu chim chóc, ong bướm say mật hoa, say nước trái cây, bay lượn dưới bóng mát. Từng đàn nai đủ loài thường lui tới đó.
Bên bờ dòng suối núi xinh đẹp ấy, có hai người khẩn-na-la, loài sống trên núi mang hình dạng giống người, đang âu yếm ôm nhau, hôn nhau, rồi lại khóc than thảm thiết.
Vua leo lên núi Hương men theo bờ suối, trông thấy đôi khẩn-na-la. Vua nghĩ: "Họ khóc lóc gì mà thảm thế nhỉ? Ta phải hỏi xem sao."
Vua đưa mắt nhìn đàn chó, búng tay một cái. Theo hiệu ấy, những con chó giống quý vốn thạo việc liền bò vào bụi rậm, nằm rạp bụng xuống đất. Thấy chúng đã khuất chỗ, vua đặt cung, ống tên và các thứ vũ khí khác bên một gốc cây gần đó, rồi bước thật khẽ không để lộ tiếng chân, tới gần đôi khẩn-na-la, hỏi:
— Mùa đông đã qua rồi, cớ sao hai người cứ quay lại bên bờ suối này mà than mãi thế? Hỡi những người trông giống người, tôi muốn biết người đời gọi hai người là gì.
Khẩn-na-la chồng không nói gì, chỉ có người vợ đáp:
— Núi Man-la, núi Ba Đỉnh, núi Vàng, chúng tôi đi khắp, theo từng dòng suối mát. Muông thú trong rừng tưởng chúng tôi là người, còn thợ săn thì gọi chúng tôi là yêu tinh.
Vua lại hỏi:
— Hai người âu yếm nhau như đôi tình nhân, thế mà lại khóc như kẻ đau khổ cùng cực. Hỡi những người trông giống người, cớ sao lại khóc? Hãy nói cho tôi nghe đi! Cớ sao lại buồn rầu? Cớ sao lại than thở? Hãy nói cho tôi nghe đi!
Người vợ đáp:
— Có một đêm chúng tôi phải nằm xa nhau, cả hai đều cô đơn, lòng đau đớn khôn nguôi, người này nhớ người kia. Mà đêm ấy, sẽ chẳng bao giờ trở lại nữa.
— Sao hai người lại phải qua đêm ấy một mình, cái đêm khiến hai người phải than thở rên rỉ mãi như thế? Hỡi những người trông giống người, có phải hai người mất của, hay mất cha?
— Ngài có thấy dòng suối kia, rợp bóng cây, chảy giữa đôi bờ đá. Hôm ấy trời nổi giông. Người thương của tôi lo lắng đi tìm tôi, lội sang bờ bên kia. Trong khi ấy tôi chân bước thoăn thoắt, đi hái hoa cỏ thơm, hái hoa đồng nội, để kết vòng hoa cho người thương và cho chính mình, khi hai đứa gặp lại nhau. Tôi hái những chùm hoa chuông, hoa tím biếc, hoa thuỷ tiên trắng còn đẫm sương, để kết vòng hoa cho người thương và cho chính mình, khi hai đứa gặp lại nhau. Rồi tôi hái một bó hoa hồng, loài hoa đẹp nhất trần gian, để kết vòng hoa cho người thương và cho chính mình, khi hai đứa gặp lại nhau.
— Rồi tôi tìm hoa tìm lá, rải thật dày trên mặt đất, làm chỗ cho hai đứa nằm ngủ êm đềm suốt đêm dài. Rồi tôi lấy gỗ đàn hương và các thứ gỗ thơm, đặt lên phiến đá mà giã thật nhỏ, làm hương thơm xoa lên mình người thương, và thơm nhất là để xoa lên mình tôi. Bên dòng suối chảy xiết, tôi hái từng bông hoa súng cho tới bông cuối cùng. Rồi chiều xuống, nước suối dâng lên, chẳng còn cách nào lội sang được nữa.
— Thế là hai đứa đứng hai bên bờ, người này nhìn sang người kia. Chúng tôi vừa cười vừa khóc với nhau. Ôi, đêm ấy chúng tôi đau khổ biết bao! Rồi sáng ra, mặt trời lên cao, chẳng bao lâu chúng tôi thấy dòng suối cạn. Thế là chúng tôi lội sang, ôm chặt lấy nhau, vừa cười vừa khóc. Đã bảy trăm năm chỉ thiếu ba năm, kể từ đêm chúng tôi phải xa nhau. Khi hai trái tim yêu thương phải chia lìa, một đêm dài như cả một đời người.
Vua hỏi:
— Hai người sống được bao nhiêu năm? Nếu lời đồn xưa nói tới, hay các bậc trưởng lão có dạy, thì xin cứ nói với tôi, đừng ngại.
— Một nghìn mùa hạ, khoẻ mạnh, tráng kiện, chẳng bao giờ đau đớn chết người. Buồn khổ ít, hạnh phúc nhiều, cho tới tận cùng vẫn được hưởng niềm vui yêu thương.
Nghe vậy, nhà vua nghĩ: "Những sinh linh này còn kém con người, vậy mà chỉ vì một đêm xa nhau đã khóc than suốt bảy trăm năm. Còn ta đây, làm chủ một vương quốc rộng ba trăm do-tuần, lại bỏ cả cơ ngơi lộng lẫy mà lang thang trong rừng. Thật là một điều lầm lỗi lớn."
Vua lập tức quay về. Về tới Ba-la-nại, các quan hỏi vua có thấy điều gì kỳ lạ trên núi Tuyết không. Vua kể cho họ nghe đầu đuôi câu chuyện.
Được đôi khẩn-na-la dạy cho như thế, nhà vua trở về, thôi không săn bắn nữa, đem của cải nuôi người nghèo khó, và vui hưởng những tháng ngày ngắn ngủi của đời người.
Đức Phật kể chuyện này khi vua Ba Tư Nặc nước Câu Tát La giận hoàng hậu Mạt Lợi, chẳng thèm nhìn mặt bà. Kể xong, Ngài dạy thêm:
— Hãy lấy chuyện đôi khẩn-na-la mà làm bài học, đừng giận hờn nhau, hãy sửa mình, kẻo phải như người khẩn-na-la kia, khổ vì lỗi lầm của chính mình suốt những tháng năm dài.
Nghe Ngài dạy, hoàng hậu Mạt Lợi rời chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cúi lạy, nói:
— Bạch Thế Tôn, con xin vui lòng nghe theo những lời tốt đẹp, nhân từ của Ngài. Cầu phúc lành cho Ngài! Ngài vừa nói xong, mọi nỗi buồn trong lòng con đã tan biến cả.
Từ đó về sau, vua nước Câu Tát La sống hoà thuận với hoàng hậu. Đức Phật cho biết: khẩn-na-la chồng thuở ấy là vua Câu Tát La, khẩn-na-la vợ là hoàng hậu Mạt Lợi, còn vua Bha-la-ti-a chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích