Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, ở xứ Ca-xi có một ngôi làng tên là Đam-ma-pa-la. Làng mang tên ấy vì đó là nơi gia đình một người tên Đam-ma-pa-la sinh sống. Người bà-la-môn này giữ trọn mười điều thiện, nên dân quanh vùng gọi ông là Đam-ma-pa-la, nghĩa là người giữ gìn đạo lý. Trong nhà ông, đến cả người làm cũng bố thí, giữ giới và ăn chay vào ngày trai giới.
Thuở ấy, đức Bồ Tát sinh vào nhà này. Người ta đặt tên cho Ngài là cậu Đam-ma-pa-la con. Vừa tới tuổi, cha cho cậu một nghìn đồng tiền, gửi đi học ở thành Tắc-ca-si-la. Cậu tới đó, theo học một vị thầy danh tiếng khắp thiên hạ, và trở thành học trò giỏi nhất trong số năm trăm chàng trai.
Đúng lúc ấy, người con trai cả của vị thầy qua đời. Vị thầy cùng học trò và họ hàng khóc lóc làm lễ tang cho con ngoài bãi tha ma. Cả họ hàng lẫn học trò ai nấy đều than khóc, chỉ riêng Đam-ma-pa-la là không khóc, không than.
Từ bãi tha ma về, năm trăm chàng trai ngồi quanh thầy, nói:
— Ôi, một chàng trai tốt đẹp, hiền lành, còn non trẻ như thế mà bị cướp đi ngay giữa tuổi xuân, phải lìa cha lìa mẹ!
Đam-ma-pa-la nói:
— Đúng là còn non trẻ thật, như các anh nói. Thế thì tại sao anh ấy lại chết trẻ? Còn trẻ thì đâu đã đến lúc chết.
Họ bảo:
— Này anh, anh không biết rằng ai rồi cũng phải chết hay sao?
— Tôi biết chứ. Nhưng còn trẻ thì người ta không chết. Người ta chỉ chết khi đã già.
— Thế mọi vật trên đời chẳng phải đều vô thường, đều không bền chắc hay sao?
— Vô thường thật, điều đó đúng. Nhưng còn tuổi trẻ thì người ta không chết. Chỉ khi đã già người ta mới chết.
— Ồ, nhà anh có cái lệ ấy à?
— Phải, nhà tôi có cái lệ ấy.
Mấy chàng trai đem câu chuyện kể lại với thầy. Thầy cho gọi Đam-ma-pa-la tới, hỏi:
— Đam-ma-pa-la, con ơi, có đúng là nhà con không ai chết trẻ không?
— Thưa thầy, đúng như vậy.
Nghe thế, vị thầy nghĩ: "Cậu này nói một điều thật lạ lùng! Ta phải đi một chuyến tới gặp cha cậu ấy mà hỏi cho ra lẽ. Nếu quả đúng như thế, ta sẽ sống theo nếp sống của nhà ấy."
Lo xong mọi việc cho con trai, chừng bảy tám ngày sau, vị thầy gọi Đam-ma-pa-la tới, dặn:
— Con ạ, thầy phải đi xa ít lâu. Thầy đi vắng thì con thay thầy dạy bảo các bạn học.
Dặn xong, ông kiếm mấy khúc xương dê rừng, rửa sạch, ướp thơm, bỏ vào một cái túi. Rồi ông dẫn theo một chú tiểu đồng, rời Tắc-ca-si-la, đi mãi rồi cũng tới ngôi làng kia. Ông hỏi đường tới nhà ông Đam-ma-pa-la, rồi dừng lại trước cửa.
Người làm đầu tiên trong nhà trông thấy ông liền đỡ lấy cái lọng trong tay ông, cởi giày cho ông, đỡ lấy cái túi trên tay chú tiểu đồng. Ông bảo họ vào thưa với chủ nhà rằng thầy học của cậu Đam-ma-pa-la con đang đứng ngoài cửa.
— Vâng ạ.
Người làm vào gọi chủ. Người cha vội ra tới ngưỡng cửa, nói:
— Mời thầy vào nhà!
Ông đi trước dẫn khách vào, mời khách ngồi lên giường, rửa chân cho khách, làm đủ mọi lễ tiếp khách.
Ăn uống xong, hai người ngồi chuyện trò thân mật. Vị thầy nói:
— Thưa ông bà-la-môn, cậu Đam-ma-pa-la nhà ta, khi đã đầy đủ trí tuệ, đã tinh thông ba bộ kinh Vệ-đà và mười tám môn nghề, thì chẳng may đã qua đời. Mọi vật trên đời đều vô thường. Xin ông đừng đau buồn.
Ông bà-la-môn vỗ tay cười vang.
— Ông bà-la-môn cười gì thế?
— Tôi cười vì người chết đâu phải con tôi. Chắc là người nào khác.
— Không đâu, ông bà-la-môn ạ. Con trai ông chết thật, chứ chẳng phải ai khác. Ông nhìn mấy khúc xương của cậu ấy đây mà tin đi.
Nói rồi ông mở túi lấy xương ra.
— Đây là xương của con trai ông.
— Xương dê rừng thì có, hay là xương chó. Con tôi không chết đâu. Bảy đời nay nhà tôi chưa hề có chuyện ai chết lúc còn trẻ. Ông nói sai rồi.
Rồi cả nhà ai nấy cùng vỗ tay cười vang.
Thấy chuyện lạ lùng ấy, vị thầy mừng lắm, nói:
— Thưa ông bà-la-môn, cái lệ người trẻ không chết trong dòng họ ông hẳn phải có duyên cớ. Vì sao nhà ông không ai chết trẻ? Nhà ông giữ nếp gì, theo đạo gì, đó là quả của việc lành nào? Xin ông nói cho tôi biết vì sao trong dòng họ ông, người trẻ không bao giờ chết.
Bấy giờ ông bà-la-môn kể ra những điều nhà ông vẫn giữ, khiến trong nhà không ai chết trẻ:
— Chúng tôi sống ngay thẳng, chúng tôi không nói dối. Mọi tội lỗi xấu xa chúng tôi tránh thật xa, mọi điều ác chúng tôi không làm. Vì thế nhà tôi không ai chết trẻ.
— Chúng tôi nghe việc làm của kẻ dại và của người khôn. Việc kẻ dại làm, chúng tôi không theo. Chúng tôi theo người khôn, tránh xa kẻ dại. Vì thế nhà tôi không ai chết trẻ.
— Trước khi cho, chúng tôi đã vui lòng. Trong lúc cho, chúng tôi vui lòng. Cho rồi, chúng tôi cũng không hối tiếc. Vì thế nhà tôi không ai chết trẻ.
— Các vị tu hành, các bà-la-môn, khách bộ hành, người ăn xin, kẻ khất thực, tất cả những ai thiếu thốn, chúng tôi đều cho họ được thoả lòng. Người khát chúng tôi cho uống, người đói chúng tôi cho ăn. Vì thế nhà tôi không ai chết trẻ.
— Đã có vợ, chúng tôi không thèm muốn vợ người khác, mà giữ trọn lời thề vợ chồng. Vợ chúng tôi cũng một lòng chung thuỷ với chúng tôi. Vì thế nhà tôi không ai chết trẻ.
— Con cái do những người vợ chung thuỷ ấy sinh ra đều sáng dạ, được dạy dỗ học hành, tinh thông kinh Vệ-đà, tài đức vẹn toàn. Vì thế nhà tôi không ai chết trẻ.
— Ai cũng gắng làm điều phải để mong được lên cõi trời. Cha sống như thế, mẹ sống như thế, con trai con gái, chị em anh em đều sống như thế. Vì thế nhà tôi không ai chết trẻ.
— Cả những người làm trong nhà, trai cũng như gái, người hầu kẻ hạ, cho đến người thấp hèn nhất, cũng một lòng làm điều lành để mong lên cõi trời. Vì thế nhà tôi không ai chết trẻ.
Sau cùng, ông nói về phúc của những người sống theo lẽ phải:
— Đạo lý che chở cho người một lòng giữ đạo lý. Đạo lý giữ cho tròn thì đem lại hạnh phúc. Ai sống theo lẽ phải thì được phúc ấy, người ngay thẳng không bao giờ gặp tai hoạ. Đạo lý che chở người giữ đạo lý, như cái lọng che cho người ta lúc trời mưa. Con tôi vẫn còn sống. Việc lành giữ cho Đam-ma-pa-la được yên lành. Mấy khúc xương ông mang tới đây là xương của một kẻ nào khác.
Nghe xong, vị thầy nói:
— Chuyến đi này của tôi thật là một chuyến đi tốt lành, có kết quả, không uổng công chút nào!
Rồi ông mừng rỡ xin lỗi cha của Đam-ma-pa-la, nói:
— Tôi tới đây mang theo mấy khúc xương dê rừng này là để thử ông thôi. Con trai ông vẫn mạnh khoẻ bình an. Xin ông truyền lại cho tôi cái nếp sống giữ gìn mạng sống ấy.
Cha của Đam-ma-pa-la bèn chép những điều ấy lên một chiếc lá đưa cho thầy. Vị thầy ở lại làng ít ngày rồi trở về Tắc-ca-si-la. Ông dạy cho Đam-ma-pa-la đủ mọi nghề, mọi môn học, rồi tiễn chàng về nhà với một đoàn tuỳ tùng đông đảo.
Đức Phật kể chuyện này cho vua cha Tịnh Phạn nghe. Khi Ngài đang tu khổ hạnh, chư thiên từng hiện ra báo với vua rằng thái tử đã chết đói, nhưng vua nhất định không tin. Kể xong, Ngài cho biết: cha mẹ thuở ấy là cha mẹ Ngài bây giờ, vị thầy là Xá Lợi Phất, đoàn tuỳ tùng là chúng đệ tử của Ngài, còn chàng Đam-ma-pa-la chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích