Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Cuộc gặp trên đồi nho

Quan tổng trấn xứ Giu-đê · Chương 1/2 · của Anatole France

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 12.666 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Lu-xi-út Ê-li-út La-mi-a sinh ra ở nước Ý, cha…
  2. 2:44Ngay lập tức La-mi-a chắc mình biết gương mặt…
  3. 3:10Nghe tên ấy, Phong-xi-ô Phi-la-tô bước xuống kiệu, nhanh…
  4. 4:06Đừng nhắc chuyện ấy, Phong-xi-ô đáp, vì vừa về…
  5. 5:50Phong-xi-ô Phi-la-tô buồn rầu lắc đầu.
  6. 8:38Phong-xi-ô, La-mi-a đáp, tôi tin chắc ông đã đối…
  7. 11:24Thôi bỏ chuyện ấy, Phong-xi-ô nói. Hơi lưu huỳnh…

Chương 1: Cuộc gặp trên đồi nho

Lu-xi-út Ê-li-út La-mi-a sinh ra ở nước Ý, cha mẹ thuộc dòng dõi hiển hách. Khi còn chưa tới tuổi thành niên, chàng đã sang các trường ở A-ten học triết học. Rồi chàng về ở La Mã, sống một cuộc đời trác táng giữa đám công tử ăn chơi trong ngôi nhà trên đồi Ét-qui-li-nô. Nhưng bị tố là tư thông với bà Lê-pi-đa, vợ của Xun-pi-xi-út Qui-ri-nút, một bậc từng làm chấp chính quan, và bị kết tội, chàng bị hoàng đế Ti-bê-ri-út đày đi biệt xứ. Khi ấy chàng mới hai mươi tư tuổi. Trong mười tám năm lưu đày, chàng đi khắp Xy-ri, Pa-le-xtin, Cáp-pa-đốc, Ác-mê-ni, ở lâu ở An-ti-ốt, Xê-da-rê, Giê-ru-sa-lem. Khi Ti-bê-ri-út chết, Ca-i-út lên ngôi hoàng đế, La-mi-a được phép trở về Kinh Thành. Chàng còn lấy lại được một phần tài sản. Những khổ ải đã làm chàng khôn ngoan ra.

Ông tránh mọi giao du với những người đàn bà thuộc dòng tự do, không chạy chọt chức tước, xa lánh danh vọng, sống ẩn trong ngôi nhà trên đồi Ét-qui-li-nô. Ông chép lại những điều đáng nhớ đã thấy trong những chuyến đi xa, và bảo rằng mình lấy nỗi khổ ngày trước làm trò tiêu khiển cho những giờ hiện tại. Chính giữa những công việc êm đềm ấy, và trong lúc chuyên chú suy ngẫm sách của Ê-pi-quya, ông thấy tuổi già kéo tới, có chút ngạc nhiên và có phần buồn bã. Năm sáu mươi hai tuổi, khổ vì một chứng cảm khá phiền, ông tới tắm suối nước nóng ở Bai-a. Bờ biển này, xưa kia là chốn chim bói cá ưa thích, giờ là nơi lui tới của những người La Mã giàu có, ham hưởng lạc. Đã một tuần nay La-mi-a sống một mình, không bạn bè giữa đám đông rực rỡ ấy. Một hôm, ăn trưa xong, thấy người khoẻ khoắn, ông nảy ý muốn leo lên những ngọn đồi phủ đầy dây nho như những nữ tín đồ thần Rượu, trông xuống sóng biển.

Lên tới đỉnh, ông ngồi bên lề một lối mòn, dưới một cây đào hương, phóng mắt ngắm phong cảnh tuyệt đẹp. Bên trái ông, những cánh đồng Lửa trơ trụi, xám xịt, trải tới tận những phế tích thành Cu-mơ. Bên phải, mũi Mi-xen cắm mũi nhọn của nó vào biển Ti-ren. Dưới chân ông, về phía tây, thành Bai-a giàu có uốn theo đường cong duyên dáng của bờ biển, bày ra những khu vườn, những biệt thự đầy tượng, những dãy hành lang cột, những sân thượng bằng cẩm thạch, bên mặt biển xanh có đàn cá heo nô đùa. Trước mặt ông, bên kia vịnh, trên bờ biển Cam-pa-ni-a nhuộm vàng dưới ánh mặt trời đã xế, những ngôi đền lấp lánh, xa xa có những rặng nguyệt quế trên núi Pô-xi-líp làm vòng hoa, và tận cùng chân trời là núi lửa Vê-du-vơ đang mỉm cười.

La-mi-a rút trong nếp áo choàng ra một cuộn sách, cuốn Bàn về tự nhiên, nằm dài xuống đất mà đọc. Nhưng tiếng kêu của một người nô lệ báo ông đứng dậy nhường lối cho một chiếc kiệu đang lên con đường hẹp giữa những vườn nho. Chiếc kiệu để ngỏ tới gần, La-mi-a thấy nằm trên những chiếc gối một ông già vóc người đồ sộ, tay chống trán, mắt nhìn u ám mà kiêu hãnh. Cái mũi khoằm của ông trễ xuống tới môi, đôi môi bị kẹp giữa một cái cằm nhô ra và hai hàm cứng cỏi.

Ngay lập tức La-mi-a chắc mình biết gương mặt ấy. Ông phân vân một lúc chưa gọi được tên. Rồi bỗng ông lao tới bên kiệu, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ:

— Phong-xi-ô Phi-la-tô! ông kêu lên. Tạ ơn các thần, tôi lại được gặp ông!

Ông già ra hiệu cho nô lệ dừng lại, chăm chú nhìn người vừa chào mình.

— Phong-xi-ô, vị khách thân mến của tôi, người kia nói tiếp, hai mươi năm đã làm tóc tôi bạc và má tôi hóp đủ để ông không nhận ra Ê-li-út La-mi-a của ông nữa.

Nghe tên ấy, Phong-xi-ô Phi-la-tô bước xuống kiệu, nhanh hết mức mà tuổi già mỏi mệt và dáng vẻ trịnh trọng cho phép. Và ông ôm hôn Ê-li-út La-mi-a hai lần.

— Quả thật gặp lại ông tôi mừng lắm, ông nói. Than ôi, ông làm tôi nhớ lại những ngày xưa, hồi tôi làm tổng trấn xứ Giu-đê thuộc tỉnh Xy-ri. Ba mươi năm rồi kể từ lần đầu tôi gặp ông. Ấy là ở Xê-da-rê, nơi ông tới lê lết nỗi buồn chán của kiếp lưu đày. Tôi có may mắn làm vơi bớt phần nào, và vì tình bạn, La-mi-a ạ, ông đã theo tôi tới cái thành Giê-ru-sa-lem buồn thảm ấy, nơi bọn Do Thái bắt tôi uống đầy cay đắng và chán ghét. Hơn mười năm ông là khách, là bạn đồng hành của tôi. Cả hai chúng ta, nói chuyện về Kinh Thành, cùng an ủi nhau, ông thì vì những bất hạnh của ông, tôi thì vì những vinh hiển của tôi.

La-mi-a lại ôm hôn ông lần nữa.

— Ông không nói hết, Phong-xi-ô ạ. Ông không nhắc rằng ông đã dùng thế lực của mình với vua Hê-rốt An-ti-pa để giúp tôi, và đã rộng rãi mở hầu bao cho tôi.

— Đừng nhắc chuyện ấy, Phong-xi-ô đáp, vì vừa về tới La Mã ông đã sai một người nô lệ được giải phóng mang tới cho tôi một số tiền trả tôi cả gốc lẫn lãi rồi.

— Phong-xi-ô, tôi không nghĩ một món tiền là đủ trả hết ơn ông. Nhưng hãy cho tôi biết, các thần có chiều theo mọi ước muốn của ông không? Ông có được hưởng trọn hạnh phúc ông đáng được hưởng không? Kể tôi nghe về gia đình, về gia sản, về sức khoẻ của ông đi.

— Tôi về ở ẩn trên đảo Xi-xin, nơi tôi có ruộng đất. Tôi trồng lúa mì và bán lúa mì. Con gái lớn của tôi, con Phong-xi-a yêu quý nhất của tôi, goá chồng, về ở với tôi và trông nom nhà cửa. Tạ ơn các thần, đầu óc tôi vẫn minh mẫn, trí nhớ tôi chưa suy giảm. Nhưng tuổi già không đến một mình mà kéo theo cả một đoàn dài đau ốm tật nguyền. Bệnh thống phong hành hạ tôi tàn nhẫn. Và lúc này ông thấy đấy, tôi đang đi tìm thuốc chữa bệnh trên những cánh đồng Lửa. Mảnh đất bỏng rát ấy, ban đêm có lửa phụt ra, toả lên những hơi lưu huỳnh hăng hắc, người ta bảo làm dịu cơn đau và làm khớp tay chân mềm lại. Ít ra thì các thầy thuốc quả quyết như vậy.

— Mong rằng chính ông sẽ thấy được hiệu nghiệm, Phong-xi-ô ạ! Nhưng mặc cho bệnh thống phong và những vết cắn bỏng rát của nó, trông ông chẳng già hơn tôi, dù thật ra ông hơn tôi mười tuổi. Quả là ông giữ được sức lực hơn hẳn tôi bất cứ lúc nào, và tôi mừng thấy ông còn tráng kiện thế này. Sao ông lại rời bỏ việc công trước tuổi, ông bạn thân mến? Sao rời chức tổng trấn xứ Giu-đê, ông lại về sống trên đất đai ở Xi-xin như tự đày mình? Kể tôi nghe ông đã làm gì từ khi tôi thôi không còn được chứng kiến. Lúc tôi lên đường sang Cáp-pa-đốc, nơi tôi mong kiếm chút lời nhờ nuôi ngựa nuôi la, thì ông đang sửa soạn dẹp một cuộc nổi loạn của người Sa-ma-ri. Từ đó tôi không gặp lại ông. Cuộc hành quân ấy kết cục ra sao? Kể tôi nghe đi. Chuyện gì liên quan tới ông tôi cũng quan tâm.

Phong-xi-ô Phi-la-tô buồn rầu lắc đầu.

— Một nỗi lo lắng tự nhiên, ông nói, cùng ý thức bổn phận, đã khiến tôi làm việc công không chỉ chăm chỉ, mà còn với cả lòng yêu mến. Nhưng lòng thù ghét cứ đeo đuổi tôi không ngơi. Mưu mô và vu khống đã bẻ gãy đời tôi giữa lúc nhựa sống đang căng, làm khô héo những trái lẽ ra đã chín. Ông hỏi về cuộc nổi loạn của người Sa-ma-ri. Ta ngồi lên mô đất này đi. Tôi sẽ trả lời ông vắn tắt. Những biến cố ấy với tôi còn rõ như mới xảy ra hôm qua.

— Một gã dân thường có tài ăn nói, ở Xy-ri có khối kẻ như thế, đã thuyết phục người Sa-ma-ri cầm vũ khí tụ tập trên núi Ga-dim, xứ ấy coi là đất thánh. Hắn hứa sẽ cho họ thấy những bình thánh mà một vị anh hùng tổ phụ của họ, hay đúng hơn là một vị thần bản xứ, tên là Mô-sê, đã giấu ở đó từ thời xa xưa, thời Ê-van-đơ và tổ phụ Ê-nê của chúng ta. Tin lời hắn, người Sa-ma-ri nổi dậy. Nhưng được báo kịp để chặn trước, tôi cho bộ binh chiếm núi, đặt kỵ binh canh các lối lên.

— Những biện pháp đề phòng ấy là cấp bách. Bọn nổi loạn đã vây thị trấn Ti-ra-ta-ba dưới chân núi Ga-dim. Tôi đánh tan chúng dễ dàng, dập tắt cuộc nổi loạn vừa mới nhen. Rồi để răn đe cho lớn mà ít người phải chết, tôi đem xử tử những kẻ cầm đầu. Nhưng ông biết đấy, La-mi-a, tôi bị trói chặt dưới quyền quan tổng đốc Vi-tê-li-út. Hắn cai trị Xy-ri không phải cho La Mã mà chống lại La Mã, và cho rằng các tỉnh của Đế quốc là những trang trại để giao cho các tiểu vương. Những người có thế lực trong dân Sa-ma-ri tới quỳ dưới chân hắn khóc lóc vì căm ghét tôi. Nghe họ nói thì chẳng gì xa lạ với ý nghĩ của họ bằng chuyện bất tuân hoàng đế. Tôi là kẻ khiêu khích, và chính để chống lại sự hung bạo của tôi mà họ mới tụ tập quanh Ti-ra-ta-ba. Vi-tê-li-út nghe lời kêu ca của họ, giao việc xứ Giu-đê cho người bạn của hắn là Mác-xê-lút, và ra lệnh cho tôi về trình bày trước hoàng đế. Lòng nặng trĩu đau đớn và oán hận, tôi vượt biển. Khi tôi cập bờ nước Ý thì Ti-bê-ri-út, mòn mỏi vì tuổi tác và việc trị nước, đột ngột qua đời trên mũi Mi-xen, cái mũi đất mà từ đây ông thấy đang vươn dài trong sương chiều kia. Tôi xin người kế vị là Ca-i-út xét xử công bằng. Ông ta vốn sáng dạ và hiểu việc Xy-ri. Nhưng ông hãy cùng tôi thán phục cái bất công của số phận cứ quyết tâm làm tôi tiêu vong, La-mi-a ạ. Khi ấy Ca-i-út đang giữ bên mình ở Kinh Thành gã Do Thái A-gríp-pa, bạn đồng hành, bạn thuở nhỏ, mà hắn quý hơn con ngươi của mắt. Mà A-gríp-pa lại ủng hộ Vi-tê-li-út, vì Vi-tê-li-út là kẻ thù của An-ti-pa, kẻ mà A-gríp-pa căm ghét. Hoàng đế nghe theo ý gã người châu Á thân yêu của mình, thậm chí không thèm nghe tôi trình bày. Tôi đành chịu một nỗi thất sủng không đáng. Nuốt nước mắt, ăn toàn mật đắng, tôi lui về đất đai ở Xi-xin, nơi tôi hẳn đã chết vì đau khổ nếu đứa con gái dịu hiền Phong-xi-a không về an ủi cha nó. Tôi trồng lúa mì, và làm mọc lên những bông lúa mẩy nhất cả tỉnh. Nay đời tôi coi như đã xong. Mai sau người đời sẽ phán xử giữa Vi-tê-li-út và tôi.

— Phong-xi-ô, La-mi-a đáp, tôi tin chắc ông đã đối xử với người Sa-ma-ri theo lẽ ngay thẳng của trí tuệ ông và chỉ vì lợi ích của La Mã. Nhưng trong dịp ấy, phải chăng ông đã nghe theo quá mức cái lòng dũng cảm bồng bột luôn lôi cuốn ông? Ông nhớ đấy, ở Giu-đê, tôi trẻ hơn ông, lẽ ra phải hăng hái hơn, thế mà nhiều lần tôi đã khuyên ông khoan dung, mềm mỏng.

— Mềm mỏng với bọn Do Thái! Phong-xi-ô Phi-la-tô kêu lên. Tuy đã sống giữa họ, ông vẫn chẳng hiểu gì mấy về những kẻ thù của loài người ấy. Vừa kiêu căng vừa hèn hạ, gộp cả sự hèn nhát nhục nhã với sự ngoan cố không gì lay chuyển, họ làm mỏi mệt cả tình yêu lẫn lòng thù ghét. Đầu óc tôi được rèn theo những châm ngôn của hoàng đế Âu-gu-xtơ thần thánh. Khi tôi được bổ làm tổng trấn xứ Giu-đê, uy nghiêm của nền hoà bình La Mã đã bao trùm mặt đất. Người ta không còn thấy, như thời nội chiến, các quan tổng đốc làm giàu bằng cách cướp phá các tỉnh. Tôi biết bổn phận của mình. Tôi chú tâm chỉ dùng sự khôn ngoan và chừng mực. Các thần chứng giám cho tôi: tôi chỉ cố chấp trong sự mềm mỏng. Những ý nghĩ nhân hậu ấy giúp gì được cho tôi? Ông đã thấy tôi, La-mi-a, khi cuộc nổi loạn đầu tiên nổ ra lúc tôi mới nhậm chức. Có cần nhắc lại đầu đuôi không? Đồn binh Xê-da-rê về đóng quân mùa đông ở Giê-ru-sa-lem. Lính lê dương mang trên cờ hiệu hình hoàng đế. Cảnh ấy xúc phạm dân Giê-ru-sa-lem, vốn không công nhận hoàng đế là thần, như thể đã phải vâng lời thì vâng lời một vị thần lại không vinh dự hơn vâng lời một con người. Các thầy tế lễ của dân ấy tới trước toà tôi, nài xin với một vẻ khiêm nhường kiêu kỳ, xin tôi cho mang cờ hiệu ra khỏi thành thánh. Tôi từ chối, vì tôn trọng thần tính của hoàng đế và uy nghiêm của Đế quốc. Bấy giờ đám dân thường hùa theo các thầy tế, quây quanh dinh tổng trấn mà van nài đầy đe doạ. Tôi ra lệnh cho lính dựng giáo thành chụm trước tháp An-tô-ni-a, cầm roi như những vệ sĩ, đi giải tán đám đông xấc xược ấy. Nhưng bị đánh mà chẳng hề hấn gì, bọn Do Thái vẫn khẩn nài tôi, những kẻ ngoan cố nhất nằm lăn ra đất, chìa cổ, để mặc cho mình chết dưới roi. Ông đã chứng kiến nỗi nhục của tôi khi ấy, La-mi-a. Theo lệnh Vi-tê-li-út, tôi phải gửi cờ hiệu về Xê-da-rê. Quả thật tôi không đáng phải chịu nỗi nhục ấy. Trước mặt các thần bất tử, tôi thề rằng suốt thời làm quan, chưa một lần tôi xúc phạm công lý và luật pháp. Nhưng tôi đã già. Kẻ thù của tôi, những kẻ tố cáo tôi đã chết cả. Tôi sẽ chết mà không được báo thù. Ai sẽ bênh vực thanh danh của tôi?

Ông rên lên rồi im lặng. La-mi-a đáp:

— Khôn ngoan là đừng đặt nỗi sợ hay niềm hy vọng vào tương lai mờ mịt. Người đời nghĩ gì về ta thì có hề gì? Ta chỉ có chính ta làm nhân chứng và làm quan toà. Phong-xi-ô Phi-la-tô, hãy yên lòng với lời chứng ông tự dành cho đức hạnh của mình. Hãy bằng lòng với sự tự trọng của chính ông và sự quý trọng của bạn bè. Vả lại, người ta đâu thể cai trị các dân tộc chỉ bằng sự mềm mỏng. Cái lòng bác ái với loài người mà triết học khuyên dạy ít khi có chỗ trong việc làm của những người cầm quyền.

— Thôi bỏ chuyện ấy, Phong-xi-ô nói. Hơi lưu huỳnh bốc lên từ những cánh đồng Lửa mạnh nhất khi chúng thoát ra từ mặt đất còn được nắng sưởi ấm. Tôi phải đi cho kịp. Chào ông. Nhưng đã gặp lại được một người bạn, tôi muốn tận hưởng vận may này. Ê-li-út La-mi-a, hãy cho tôi được vinh hạnh mời ông tối mai tới dùng bữa ở nhà tôi. Nhà tôi ở ngay bờ biển, cuối thành phố, về phía Mi-xen. Ông sẽ dễ nhận ra nhờ dãy hành lang cột có bức hoạ vẽ Óc-phê giữa đám hổ và sư tử đang say mê tiếng đàn lia của chàng.

Rồi lúc trở lên kiệu, ông còn nói:

— Hẹn mai nhé, La-mi-a. Mai ta sẽ nói chuyện xứ Giu-đê.

— Hết chương 1 —

Mục lục Quan tổng trấn xứ Giu-đê

  1. 1Cuộc gặp trên đồi nho12 phút
  2. 2Bữa tối bên bờ biểnĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnatole France (1844 – 1924)
Năm mất1924
Xuất bản lần đầu1891
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Procurateur de Judée, L’Étui de nacre, 1892
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →