Thuở đức Phật ở tinh xá Kỳ Viên, trưởng lão A-nan vẫn thường vào cung vua Kô-sa-la giảng đạo cho các bà trong cung. Một hôm, có người dâng lên nhà vua một nghìn tấm áo, mỗi tấm đáng giá một nghìn đồng. Vua đem năm trăm tấm ban cho năm trăm bà hoàng hậu, cung phi. Các bà cất áo đi, đem tặng hết cho trưởng lão. Hôm sau, các bà vẫn mặc áo cũ tới chỗ vua dùng bữa sáng.
— Ta đã ban cho các nàng mỗi người một tấm áo đáng giá nghìn đồng, nhà vua nói, sao các nàng không mặc?
— Tâu bệ hạ, chúng thiếp đã đem tặng trưởng lão rồi ạ.
— Trưởng lão A-nan lấy hết à?
Các bà thưa phải, trưởng lão đã nhận hết.
— Đức Phật chỉ cho phép mỗi vị ba tấm áo, nhà vua nói. Chắc là A-nan đang buôn bán vải vóc đây!
Vua bực mình lắm. Ăn sáng xong, vua tới tận phòng trưởng lão, chào hỏi xong thì ngồi xuống, nói:
— Thưa thầy, các bà trong cung của ta có học, có nghe thầy giảng không?
— Tâu bệ hạ, có. Điều gì nên học, các bà học. Điều gì nên nghe, các bà nghe.
— À, thế cơ đấy. Các bà chỉ nghe thôi, hay còn tặng thầy áo trong áo ngoài nữa?
— Tâu bệ hạ, hôm nay các bà đã tặng tôi năm trăm tấm áo, mỗi tấm đáng giá nghìn đồng.
— Và thầy nhận à?
— Tâu bệ hạ, vâng, tôi đã nhận.
— Thưa thầy, đức Phật chẳng đã đặt ra luật mỗi người chỉ ba tấm áo đó sao?
— Đúng thế, tâu bệ hạ. Mỗi vị tỳ kheo chỉ được dùng ba tấm áo cho riêng mình. Nhưng chẳng ai cấm nhận những gì người ta dâng. Vì thế tôi nhận, để đem cho những vị tỳ kheo có áo đã rách.
— Nhưng các vị tỳ kheo nhận áo mới của thầy rồi thì làm gì với áo cũ?
— Làm áo choàng.
— Thế còn áo choàng cũ?
— Thì làm áo lót.
— Thế còn áo lót cũ?
— Thì làm chăn đắp.
— Thế còn chăn cũ?
— Thì làm chiếu trải.
— Thế còn chiếu cũ?
— Thì làm khăn lau.
— Thế còn khăn lau cũ thì sao?
— Tâu bệ hạ, đồ của người có lòng tin dâng cúng thì không được phép phí phạm. Vì thế các vị băm khăn lau cũ thành từng mẩu, trộn với đất sét, dùng làm vữa trát nhà.
— Thưa thầy, đồ được dâng thì không nên huỷ đi, tới cái khăn lau cũng vậy.
— Tâu bệ hạ, chúng tôi chẳng huỷ món quà nào cả, cái gì cũng được dùng cách này hay cách khác.
Câu chuyện ấy làm nhà vua hài lòng tới mức vua cho người mang nốt năm trăm tấm áo còn lại tới tặng trưởng lão. Nghe trưởng lão nói lời cảm tạ xong, vua trịnh trọng chào trưởng lão rồi ra về.
Trưởng lão đem năm trăm tấm áo đầu tiên cho các vị tỳ kheo có áo đã rách. Số bạn đồng tu của trưởng lão vừa đúng năm trăm vị. Trong số ấy có một vị tỳ kheo trẻ rất đắc lực với trưởng lão: quét dọn phòng, dọn đồ ăn thức uống, mang tăm và nước súc miệng, lo dọn nhà xí, phòng ở, phòng ngủ, việc gì cần cho tay chân, lưng vai của trưởng lão, vị ấy đều làm hết. Vì công lao lớn ấy, trưởng lão đem cả năm trăm tấm áo nhận sau tặng hết cho vị tỳ kheo trẻ, coi như phần chính đáng của vị ấy. Vị tỳ kheo trẻ lại đem chia cho các bạn đồng học của mình.
Các vị cắt áo ra, nhuộm vàng như hoa ca-ni-ca-ra, mặc vào rồi tới chào đức Phật, ngồi xuống một bên, thưa:
— Bạch Thế Tôn, một vị thánh đệ tử đã bước vào đạo quả đầu tiên, có thể nào khi cho lại thiên vị người này người kia không?
— Này các tỳ kheo, các vị thánh đệ tử không thể thiên vị khi cho.
— Bạch Thế Tôn, thầy của chúng con, vị Kho Tàng Giáo Pháp, đã đem năm trăm tấm áo, mỗi tấm đáng giá nghìn đồng, cho một vị tỳ kheo trẻ, và vị ấy đã chia lại cho chúng con.
— Này các tỳ kheo, A-nan cho như thế không phải là thiên vị đâu. Vị tỳ kheo trẻ ấy là người phục vụ rất đắc lực. A-nan đem tặng cho người hầu của mình vì công sức của người ấy, vì lòng tốt của người ấy, như một phần chính đáng, vì nghĩ rằng được người giúp thì phải giúp lại, muốn làm đúng như lòng biết ơn đòi hỏi. Ngày xưa cũng như bây giờ, những người hiền trí đều sống theo lẽ: được người giúp thì phải giúp lại.
Rồi theo lời xin của các vị, Ngài kể lại chuyện ngày xưa.
Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, đức Bồ Tát sinh làm một con sư tử, sống trong một cái hang trên núi.
Một hôm, sư tử ra khỏi hang, nhìn xuống chân núi. Quanh chân núi ấy là cả một vùng nước rộng. Trên một gò đất nhô lên giữa vùng nước có rất nhiều cỏ non xanh mướt, mọc trên lớp bùn dày. Thỏ, nai và những con vật nhẹ nhàng khác vẫn chạy trên bãi bùn ấy ăn cỏ. Hôm ấy cũng như mọi hôm, có một con nai đang gặm cỏ ở đó.
"Ta sẽ bắt con nai kia!" Sư tử nghĩ.
Nó nhảy một cú thật xa từ sườn núi về phía con nai. Nhưng con nai sợ hết hồn, vừa kêu vừa chạy biến. Sư tử không dừng được đà lao, rơi bịch xuống bãi bùn, lún sâu không sao lên được. Nó đứng đó suốt bảy ngày, bốn chân cắm chặt như bốn cái cột, không có lấy một miếng gì bỏ bụng.
Bấy giờ có một con chó rừng đi kiếm ăn, tình cờ trông thấy sư tử, sợ quá cắm đầu bỏ chạy. Nhưng sư tử gọi với theo:
— Này anh chó rừng, đừng chạy! Ta đây, đang bị mắc kẹt dưới bùn đây. Làm ơn cứu ta với!
Chó rừng quay lại.
— Tôi kéo anh lên được, chó rừng nói, nhưng tôi sợ lắm, lên được rồi anh lại ăn thịt tôi.
— Đừng sợ, ta không ăn thịt anh đâu, sư tử nói. Ngược lại, ta sẽ đền ơn anh thật xứng đáng. Chỉ cần anh kéo ta lên bằng cách nào đó.
Tin lời hứa ấy, chó rừng ra sức bới bùn quanh bốn chân sư tử, rồi đào những cái lỗ chỗ bốn chân sư tử cắm xuống thông ra phía nước. Nước chảy vào làm bùn mềm ra. Rồi chó rừng chui xuống dưới bụng sư tử, kêu to:
— Nào, anh ơi, gắng một hơi thật mạnh!
Vừa kêu, chó rừng vừa lấy đầu húc mạnh vào bụng sư tử. Sư tử dồn hết sức lực, vùng vẫy ngoi lên khỏi bùn, đứng được trên đất khô. Nghỉ một lát, sư tử nhảy xuống hồ tắm, kỳ cọ cho sạch bùn. Rồi sư tử giết một con trâu rừng, dùng nanh xé thịt, mời chó rừng:
— Ăn đi, anh bạn!
Đợi chó rừng ăn xong, sư tử mới ăn. Sau đó, chó rừng ngậm một miếng thịt vào mồm.
— Để làm gì thế? Sư tử hỏi.
— Để cho vợ tôi, đang chờ tôi ở nhà.
— Được lắm, sư tử nói, rồi cũng lấy một miếng cho vợ mình. Này anh bạn, sư tử lại nói, chúng ta lên đỉnh núi nghỉ một lát, rồi tới nhà chị nhà anh.
Thế là hai con cùng tới đó. Sư tử cho chó rừng cái ăn. Khi cả hai đã no nê, sư tử nói:
— Từ nay ta sẽ lo cho anh chị.
Sư tử đưa vợ chồng chó rừng về chỗ mình ở, cho ở trong một cái hang ngay gần cửa hang của mình.
Từ đó về sau, sư tử và chó rừng thường cùng nhau đi săn, để vợ ở nhà. Hai con giết đủ thứ thú, ăn no nê, rồi mang phần về cho hai vợ. Thời gian trôi qua, chó rừng cái và sư tử cái mỗi con sinh được hai con, và cả hai nhà sống với nhau rất vui vẻ.
Một hôm, sư tử cái bỗng nảy ra một ý nghĩ: "Chồng mình có vẻ quý vợ chồng con cái nhà chó rừng quá. Hay là giữa chồng mình với con chó rừng cái kia có điều gì mờ ám? Chắc vì thế nên chồng mình mới quý chúng như vậy. Được rồi, mình sẽ làm cho nó khổ sở, sợ hãi, phải bỏ đi khỏi chỗ này."
Thế là khi sư tử và chó rừng đi săn vắng, sư tử cái quấy nhiễu, doạ nạt chó rừng cái, hỏi sao còn ở đây mãi, sao không chạy đi cho rảnh. Lũ sư tử con cũng doạ nạt lũ chó rừng con y như vậy.
Chó rừng cái kể lại với chồng những gì đã xảy ra.
— Rõ ràng là sư tử đã nói gì đó về chúng ta rồi, chó rừng cái nói. Chúng ta ở đây lâu quá rồi, giờ thì nó sẽ giết chúng ta mất. Thôi, chúng ta về chỗ ở cũ đi!
Nghe vậy, chó rừng tới gặp sư tử, nói:
— Anh ơi, chúng tôi ở đây đã lâu rồi. Ở lâu quá thì người ta chán. Khi chúng ta đi vắng, chị nhà anh mắng mỏ, doạ nạt vợ tôi, hỏi sao còn ở đây, bảo đi đi cho khuất mắt. Các cháu nhà anh cũng làm thế với các cháu nhà tôi. Nếu không ưa người hàng xóm nào thì cứ bảo người ta đi, cho người ta đi chỗ khác, việc gì phải làm khổ người ta như thế?
Rồi chó rừng đọc câu kệ:
— Kẻ mạnh bao giờ cũng muốn gì được nấy, bản tính họ là như thế. Vợ anh gầm gừ dữ dội, giờ tôi sợ chính cái nơi mà trước kia tôi từng tin cậy.
Sư tử nghe xong, quay sang sư tử cái, nói:
— Này mình, mình có nhớ có lần tôi đi săn suốt một tuần, rồi dẫn vợ chồng anh chó rừng này về đây không?
— Có, em nhớ.
— Thế mình có biết vì sao suốt tuần ấy tôi không về không?
— Không, em không biết.
— Mình ơi, hôm ấy tôi vồ hụt một con nai, sa xuống bùn, mắc kẹt ở đó. Tôi không sao lên được, đứng suốt một tuần không có gì ăn. Chính anh chó rừng này đã cứu mạng tôi. Người bạn này đã cứu mạng tôi đấy! Có hoạn nạn mới biết bạn hiền, dù bạn lớn hay bạn nhỏ. Từ nay mình đừng bao giờ coi thường bạn tôi, vợ con bạn tôi nữa.
Rồi sư tử đọc câu kệ:
— Người bạn biết làm tròn việc của người bạn, dù nhỏ bé, yếu ớt tới đâu, cũng là họ hàng, là máu mủ ruột thịt, là bạn bè thân thiết của ta. Đừng khinh bạn ấy, hỡi người vợ nanh sắc của ta! Chính anh chó rừng này đã cứu mạng ta đấy.
Nghe chuyện, sư tử cái làm lành với chó rừng cái, từ đó sống hoà thuận với chó rừng cái và các con của nó. Lũ con của hai nhà cùng nhau chơi đùa từ thuở bé. Khi cha mẹ chúng mất đi, chúng vẫn không cắt đứt tình bạn, mà sống vui vẻ với nhau như cha mẹ chúng ngày trước. Tình bạn ấy kéo dài không hề đứt đoạn suốt bảy đời.
Đức Phật giảng xong, trong số người nghe có người chứng quả thứ nhất, có người chứng quả thứ hai, quả thứ ba, quả thứ tư. Rồi Ngài cho biết: con chó rừng thuở ấy là A-nan, còn con sư tử chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích