Có một chị bán cá đi qua cung điện, vừa đi vừa rao cá. Hoàng hậu ra một ô cửa sổ, vẫy chị lại gần xem chị có những gì. Đúng lúc ấy có một con cá rất to quẫy mạnh dưới đáy giỏ.
— Con này đực hay cái? Hoàng hậu hỏi. Ta muốn mua cá cái.
Nghe thế con cá bật cười thành tiếng.
— Con đực đấy ạ, chị bán cá đáp, rồi đi tiếp.
Hoàng hậu trở về phòng, giận điên lên. Tối đến vua tới thăm, thấy hoàng hậu có điều gì không vui.
— Nàng thấy trong người khó ở sao? Vua hỏi.
— Không, nhưng thiếp bực lắm vì cái thói lạ lùng của một con cá. Hôm nay có người đàn bà mang cá tới, thiếp vừa hỏi con cá ấy đực hay cái, thì nó cười, cười hết sức vô lễ.
— Cá mà cười! Không thể có chuyện ấy được! Chắc nàng nằm mơ.
— Thiếp đâu có ngốc. Thiếp nói điều thiếp tận mắt thấy, tận tai nghe.
— Lạ quá đi mất! Thôi được. Ta sẽ cho người tra xét.
Hôm sau vua kể lại với quan tể tướng những gì hoàng hậu nói, bảo quan phải điều tra cho ra, trong vòng sáu tháng phải có câu trả lời thoả đáng, không thì mất đầu. Quan tể tướng hứa sẽ cố hết sức, dù trong lòng gần như chắc chắn sẽ thất bại. Suốt năm tháng trời quan miệt mài không biết mệt, tìm cho ra vì sao con cá cười. Quan tìm khắp nơi, hỏi khắp mọi người. Các bậc hiền triết, học giả, những người giỏi phép thuật và đủ mọi thứ mẹo mực đều được hỏi tới. Nhưng không ai giải thích được chuyện ấy. Thế là quan trở về nhà, lòng tan nát, bắt đầu thu xếp mọi việc chờ cái chết đã cầm chắc, vì quan đã quá hiểu nhà vua, biết vua chẳng bao giờ nuốt lời đe doạ. Trong những việc thu xếp ấy, quan khuyên con trai đi xa một thời gian, chờ cơn giận của vua nguôi bớt.
Cậu con trai vừa thông minh vừa khôi ngô, lên đường đi, số phận đưa đâu thì tới đó. Đi được mấy hôm, cậu gặp một ông lão nông dân cũng đang đi tới một làng nọ. Thấy ông lão dễ mến, cậu xin đi cùng, bảo mình cũng đang tới đúng làng ấy. Ông lão đồng ý, hai người cùng đi. Trời nóng, đường thì dài và mệt nhọc.
— Bác có thấy là thỉnh thoảng hai ta cõng nhau đi thì dễ chịu hơn không? Chàng trai hỏi.
"Thằng cha này ngốc thật!" ông lão nghĩ bụng.
Lát sau hai người đi qua một cánh đồng lúa mì đã chín vàng chờ gặt, lúa đung đưa trong gió như một biển vàng.
— Lúa này đã bị ăn hay chưa hả bác? Chàng trai hỏi.
Không hiểu ý cậu, ông lão đáp:
— Tôi chẳng biết.
Một lúc sau hai người tới một làng lớn. Chàng trai đưa cho bạn đường một con dao gấp mà bảo:
— Bác cầm lấy, dùng nó kiếm lấy hai con ngựa. Nhưng nhớ mang trả con dao cho tôi, vì nó quý lắm đấy.
Ông lão nửa buồn cười nửa bực, đẩy con dao lại, lẩm bẩm gì đó, đại ý bạn đường của mình nếu không phải thằng ngốc thì cũng đang giở trò ngốc với mình. Chàng trai làm như không nghe thấy, gần như chẳng nói gì nữa cho tới khi vào thành. Ngay bên ngoài thành, cách một quãng ngắn, là nhà ông lão nông dân. Hai người dạo khắp chợ, vào cả nhà thờ Hồi giáo, mà chẳng ai chào hỏi, chẳng ai mời vào nghỉ chân.
— Nghĩa địa gì mà rộng thế! Chàng trai kêu lên.
"Thằng cha này nói cái gì thế không biết," ông lão nghĩ, "thành phố đông người thế này mà bảo là nghĩa địa?"
Ra khỏi thành, con đường dẫn họ đi qua một nghĩa địa. Ở đó có mấy người đang cầu nguyện bên một nấm mồ, phát bánh chapati, bánh kun-cha cho người qua đường, nhân danh người thân yêu đã khuất. Họ vẫy hai người lữ khách lại, cho họ bao nhiêu bánh tuỳ thích.
— Thành phố này mới tuyệt làm sao! Chàng trai nói.
"Giờ thì chắc chắn thằng cha này điên rồi!" ông lão nghĩ. "Không biết rồi nó còn làm gì nữa đây? Rồi nó sẽ gọi đất là nước, gọi nước là đất, chỗ tối thì bảo sáng, chỗ sáng thì bảo tối." Nhưng ông giữ kín những ý nghĩ ấy trong lòng.
Một lát sau hai người phải lội qua một con suối chảy dọc bìa nghĩa địa. Nước khá sâu, ông lão cởi giày cởi quần rồi mới lội qua, còn chàng trai thì cứ để nguyên giày nguyên quần mà lội.
"Chà! Chưa bao giờ ta thấy đứa nào ngốc từ lời nói tới việc làm như thằng này," ông lão tự nhủ.
Dù vậy ông vẫn thấy mến cậu ta. Nghĩ cậu ta sẽ làm vợ con mình được một trận cười, ông mời cậu về nhà ở chừng nào còn có việc ở làng này.
— Cảm ơn bác lắm, chàng trai đáp. Nhưng cho tôi hỏi trước đã, xà nhà bác có chắc không?
Ông lão hết cách với cậu ta, bỏ đó mà vào nhà, cười ngặt nghẽo.
Vợ con chào hỏi xong, ông nói:
— Ngoài cánh đồng đằng kia có một gã. Gã đi với tôi gần hết quãng đường. Tôi muốn mời gã về nhà mình ở chừng nào gã còn ở làng này. Nhưng gã ngốc quá, tôi chẳng hiểu gã nói cái gì cả. Gã lại muốn biết xà nhà mình có chắc không. Gã điên mất rồi!
Nói rồi ông lại phá lên cười.
Cô con gái ông lão vốn rất sắc sảo, khôn ngoan, bảo cha:
— Cha ơi, người ấy, dù là ai, cũng chẳng ngốc như cha nghĩ đâu. Người ấy chỉ muốn biết nhà mình có đủ sức đãi khách không thôi.
— Ồ, ra thế, ông lão đáp. Thế thì có khi con giải giúp cha mấy câu bí hiểm khác của gã. Lúc đi đường, gã hỏi hay là gã cõng cha, rồi cha cõng gã, gã nghĩ đi như thế thì dễ chịu hơn.
— Rõ quá rồi còn gì, cô gái đáp. Ý người ấy là một trong hai người kể chuyện cho đỡ buồn đường.
— Ồ, phải rồi. Rồi khi đi qua một cánh đồng lúa, gã hỏi cha lúa ấy đã bị ăn hay chưa.
— Thế mà cha không hiểu sao? Người ấy chỉ muốn biết chủ ruộng có mắc nợ không. Vì nếu chủ ruộng mắc nợ thì lúa ngoài đồng coi như đã bị ăn mất rồi, nghĩa là sẽ về tay chủ nợ cả.
— Phải, phải, phải. Đúng rồi! Rồi lúc vào một làng kia, gã bảo cha cầm con dao gấp của gã đi kiếm lấy hai con ngựa, rồi mang trả con dao cho gã.
— Đi đường xa, có hai cây gậy chống chẳng phải cũng đỡ chân như có hai con ngựa sao cha? Người ấy chỉ nhờ cha chặt hai cây gậy, và cẩn thận đừng làm mất con dao của người ta.
— Ra thế, ông lão nói. Rồi lúc đi trong thành, chẳng gặp ai quen, cũng chẳng ai cho miếng gì mà ăn, cho tới khi đi qua nghĩa địa. Ở đó có mấy người gọi cha với gã lại, dúi vào tay bánh chapati, bánh kun-cha. Thế là bạn đường của cha gọi thành phố là nghĩa địa, còn nghĩa địa thì gọi là thành phố.
— Cái này cũng hiểu được thôi cha ạ, nếu ta coi thành phố là chỗ cái gì cũng kiếm được, và coi người không biết hiếu khách còn tệ hơn người chết. Thành phố tuy đông người, mà với cha thì cũng như đã chết. Còn nghĩa địa, đầy những người chết, thì lại có những người tử tế chào hỏi, cho bánh mà ăn.
— Đúng, đúng! Ông lão nói, sửng sốt lắm. Rồi vừa nãy, lúc lội qua suối, gã lội mà chẳng cởi giày cởi quần.
— Con phục cái khôn của người ấy, cô gái đáp. Con vẫn thường nghĩ người ta thật dại, cứ đi chân trần mà liều lội dòng suối chảy xiết ấy, qua những hòn đá sắc ấy. Chỉ trượt chân một chút là ngã, ướt từ đầu tới chân. Người bạn đường của cha khôn ngoan lắm đấy. Con muốn được gặp, được nói chuyện với người ấy.
— Được thôi, ông lão bảo. Để cha đi tìm gã, đưa gã vào.
— Cha bảo người ấy là xà nhà mình đủ chắc, thế là người ấy vào ngay. Để con gửi trước một món quà cho người ấy, cho người ấy biết nhà mình đủ sức đãi khách.
Nói rồi cô gọi một người đầy tớ, sai mang cho chàng trai một bát bơ ghi, mười hai cái bánh chapati và một vò sữa, kèm lời nhắn: "Bạn ơi, trăng đang rằm, mười hai tháng thành một năm, và biển đang đầy tràn nước."
Đi được nửa đường, người đầy tớ mang quà gặp thằng con trai nhỏ của mình. Thằng bé thấy đồ ăn trong giỏ, đòi cha cho ăn một ít. Người cha dại dột chiều con. Một lúc sau anh ta gặp chàng trai, trao chỗ quà còn lại và lời nhắn.
— Anh gửi lời chào của ta tới cô chủ, chàng trai đáp, và thưa với cô rằng trăng mới non đầu tháng, ta chỉ thấy có mười một tháng trong năm, còn biển thì chẳng đầy chút nào.
Không hiểu những lời ấy nghĩa là gì, người đầy tớ cứ thế nhắc lại từng chữ với cô chủ như đã nghe. Thế là cái tội ăn bớt của anh ta bị lộ, và anh ta bị phạt nặng. Một lát sau chàng trai cùng ông lão nông dân tới. Cả nhà tiếp đãi chàng hết sức chu đáo, đối đãi với chàng mọi bề như con một người quyền quý, dù chủ nhà nghèo chẳng biết chàng xuất thân từ đâu. Cuối cùng chàng kể hết cho họ nghe chuyện con cá cười, chuyện cha chàng sắp bị xử tử, chuyện chàng phải đi lánh nạn, rồi hỏi họ xem chàng nên làm gì.
— Con cá cười, cô gái nói, cái chuyện có vẻ đã gây ra bao rắc rối ấy, là dấu hiệu cho biết trong cung có một người đàn ông đang mưu hại tính mạng nhà vua.
— Mừng quá, mừng quá! Con trai quan tể tướng reo lên. Vẫn còn kịp để ta quay về cứu cha khỏi cái chết nhục nhã oan uổng, và cứu nhà vua khỏi hiểm nguy.
Ngay hôm sau chàng vội vã về nước mình, đưa cả cô con gái ông lão nông dân theo. Vừa về tới nơi, chàng chạy ngay vào phủ báo cho cha biết những gì chàng vừa nghe được. Quan tể tướng tội nghiệp, giờ đã gần như chết lả vì ngồi chờ cái chết, lập tức được khiêng tới trước mặt vua, tâu lại tin con trai vừa mang về.
— Không đời nào! Vua phán.
— Tâu bệ hạ, nhất định là như thế, quan tể tướng tâu. Để chứng minh những gì thần nghe được là thật, xin bệ hạ cho tập hợp hết các thị nữ trong cung, truyền cho họ nhảy qua một cái hố phải đào sẵn. Thế là sẽ biết ngay trong số họ có người đàn ông nào không.
Vua cho đào hố, rồi truyền tất cả thị nữ trong cung thử nhảy qua. Ai cũng thử, nhưng chỉ có một người nhảy qua được. Và người ấy hoá ra là đàn ông!
Thế là hoàng hậu hết bực, và vị tể tướng già trung thành được cứu.
Sau đó, chẳng bao lâu, con trai quan tể tướng cưới con gái ông lão nông dân, và cuộc hôn nhân ấy hạnh phúc vô cùng.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích