Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Xin-văng và Giô-cô-da

của Bá tước de Caylus

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 11.638 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày xửa ngày xưa, trong cùng một ngôi làng…
  2. 1:36Các con sẽ còn gặp ta nhiều lần nữa.…
  3. 2:44Nhưng một buổi sáng mùa xuân, khi mặt trời…
  4. 3:17Họ kinh hoàng biết bao khi thấy mặt nước…
  5. 4:32Bạn có thể hình dung họ vui mừng biết…
  6. 6:20Khi hết hạn phạt, con chim vàng xinh đẹp…
  7. 8:12Cơn giận của người giàu bao giờ cũng đáng…
  8. 9:51Chẳng gì dễ chịu bằng được ra lệnh, mà…

Ngày xửa ngày xưa, trong cùng một ngôi làng có hai đứa trẻ, một đứa tên Xin-văng, một đứa tên Giô-cô-da, đứa nào cũng xinh xắn, sáng dạ hơn người. Cha mẹ hai đứa lại chẳng ưa gì nhau, vì một mối hiềm khích cũ. Mối hiềm khích ấy xảy ra từ lâu lắm rồi, lâu tới mức hai nhà quên béng nó là chuyện gì, chỉ còn giữ thói thù nhau vì quen nết. Còn Xin-văng và Giô-cô-da thì chẳng hề thù oán ai, trái lại, xa nhau một lúc là chẳng vui.

Ngày ngày hai đứa cùng chăn đàn cừu, những giờ dài đầy nắng thì chơi đùa với nhau, hoặc nằm nghỉ trên một bờ cỏ rợp bóng.

Một hôm, bà tiên Đồng Cỏ đi ngang qua, trông thấy hai đứa. Bà mến khuôn mặt xinh xắn và nết na hiền dịu của chúng quá, liền nhận chúng về dưới sự che chở của mình. Chúng càng lớn, bà càng thương. Thoạt đầu bà chỉ tỏ lòng bằng cách để lại ở những chỗ chúng hay chơi nhiều món quà nhỏ, những thứ mà chúng thích tặng cho nhau. Vì chúng thương nhau lắm, điều đầu tiên chúng nghĩ tới bao giờ cũng là: Giô-cô-da sẽ thích cái gì nhỉ, hay: cái gì làm Xin-văng vui nhỉ. Bà tiên thích thú ngắm chúng hồn nhiên thưởng thức bánh trái, kẹo ngọt bà cho gần như ngày nào cũng có.

Khi hai đứa đã lớn, bà quyết định hiện ra cho chúng biết mặt. Bà chọn lúc chúng đang tránh nắng trưa dưới bóng râm của một hàng rào đầy hoa. Thoạt đầu chúng giật mình khi thấy một bà tiên cao, mảnh dẻ bỗng hiện ra, mặc toàn đồ xanh lá, đầu đội vòng hoa. Nhưng khi bà dịu dàng trò chuyện, kể rằng bà vẫn luôn thương chúng, và chính bà đã cho chúng bao nhiêu món quà xinh xắn mà chúng từng ngạc nhiên tìm thấy, thì chúng cảm ơn bà rối rít, và vui vẻ trả lời những câu bà hỏi.

Lúc từ biệt, bà dặn chúng đừng bao giờ kể với ai là đã gặp bà.

— Các con sẽ còn gặp ta nhiều lần nữa. Và ta sẽ thường ở bên các con, ngay cả những lúc các con không trông thấy ta.

Nói xong bà biến mất, để hai đứa ngẩn ngơ, xôn xao mãi.

Từ đó bà hay tới, dạy chúng bao nhiêu điều, chỉ cho chúng bao nhiêu điều kỳ diệu trong vương quốc tươi đẹp của bà. Rồi một hôm bà bảo chúng:

— Các con biết ta lúc nào cũng tốt với các con. Giờ ta nghĩ đã tới lúc các con làm một việc cho ta. Các con còn nhớ cái mạch nước mà ta gọi là mạch nước cưng của ta chứ? Hãy hứa với ta: sáng nào cũng vậy, trước khi mặt trời mọc, các con sẽ tới đó, dọn hết mọi hòn đá chắn dòng chảy, vớt hết mọi chiếc lá úa, mọi cành khô gãy làm vẩn đục làn nước trong. Nếu các con không quên, không trễ việc ấy, ta sẽ coi đó là bằng chứng các con biết ơn ta. Và ta hứa, chừng nào những tia nắng đầu tiên còn thấy mạch nước cưng của ta trong và ngọt nhất khắp đồng cỏ, chừng ấy hai con sẽ không bao giờ phải xa nhau.

Xin-văng và Giô-cô-da vui vẻ nhận lời. Thật ra hai đứa thấy đó chỉ là chút việc cỏn con so với bao nhiêu thứ bà tiên đã cho và đã hứa. Thế là suốt một thời gian dài, mạch nước được chăm sóc hết sức chu đáo, và là mạch nước trong trẻo, xinh đẹp nhất cả vùng.

Nhưng một buổi sáng mùa xuân, khi mặt trời còn lâu mới mọc, hai người đang từ hai phía rảo bước tới mạch nước thì thấy muôn vàn bông hoa rực rỡ mọc dày khắp nơi. Đẹp quá, mỗi người dừng lại hái một ít tặng người kia.

Giô-cô-da nói:

— Mình sẽ kết cho Xin-văng một vòng hoa.

Còn Xin-văng thì nghĩ: Giô-cô-da đội vòng hoa này chắc xinh lắm!

Họ đi lang thang chỗ này chỗ kia, mỗi lúc một xa, vì những bông hoa tươi nhất bao giờ cũng ở xa hơn một chút, cho tới khi những tia nắng đầu tiên của mặt trời mọc làm họ giật mình. Cả hai cùng quay lại chạy về phía mạch nước, tới nơi cùng một lúc, nhưng từ hai bờ đối diện.

Họ kinh hoàng biết bao khi thấy mặt nước vốn phẳng lặng nay sôi sùng sục. Ngay lúc họ còn đang nhìn xuống, một dòng nước lớn ào tới, nuốt chửng lấy mạch nước. Xin-văng và Giô-cô-da thấy mình bị chia cắt bởi một con sông rộng, nước chảy xiết.

Mọi chuyện xảy ra nhanh tới mức họ chỉ kịp kêu lên một tiếng, và mỗi người giơ cao bó hoa mình đã hái cho người kia thấy. Nhưng thế cũng đủ để hiểu nhau rồi.

Hai mươi lần Xin-văng lao mình xuống dòng nước cuồn cuộn, mong bơi được sang bờ bên kia, nhưng lần nào cũng có một sức mạnh không cưỡng nổi đẩy chàng trở lại bờ vừa rời. Còn Giô-cô-da, nàng còn thử vượt sông trên một thân cây bị bật cả rễ đang trôi xuống, nhưng cũng vô ích.

Thế là, lòng nặng trĩu, hai người bắt đầu đi dọc theo dòng sông. Sông giờ rộng tới mức họ khó khăn lắm mới nhận ra nhau. Ngày lẫn đêm, qua núi qua thung, lúc rét lúc nóng, họ cứ thế lặn lội đi, chịu đựng mỏi mệt, đói khát và đủ mọi gian khổ, chỉ được an ủi bởi niềm hy vọng sẽ có ngày gặp lại. Ba năm trôi qua, cuối cùng họ đứng trên những vách đá nơi con sông đổ ra biển cả mênh mông.

Giờ đây họ dường như còn xa nhau hơn bao giờ hết. Tuyệt vọng, họ lại định lao mình xuống những con sóng bạc đầu. Nhưng bà tiên Đồng Cỏ, thật ra chưa lúc nào thôi dõi theo họ, không muốn để họ chết đuối vào phút chót. Bà vội vung đũa thần, và lập tức hai người thấy mình đứng sát bên nhau trên bãi cát vàng.

Bạn có thể hình dung họ vui mừng biết bao khi hiểu rằng cuộc lặn lội mỏi mòn đã chấm dứt, và mãn nguyện biết bao khi được nắm tay nhau. Họ có bao nhiêu điều muốn nói, chẳng biết bắt đầu từ đâu. Nhưng cả hai cùng cay đắng tự trách mình đã lơ là để gây ra mọi khổ sở. Nghe thấy vậy, bà tiên liền hiện ra. Họ quỳ sụp dưới chân bà, van xin bà tha thứ. Bà rộng lòng tha, và hứa rằng nay hình phạt đã hết, bà sẽ luôn che chở cho họ.

Rồi bà cho gọi cỗ xe làm bằng cỏ bấc xanh, đính những giọt sương tháng Năm mà bà rất quý và bao giờ cũng tự tay nhặt nhạnh rất cẩn thận. Bà sai sáu con chuột chũi đuôi cụt chở cả ba về những đồng cỏ quen thuộc. Chúng chở đi nhanh không tưởng nổi. Xin-văng và Giô-cô-da mừng khôn xiết khi lại được thấy quê nhà yêu dấu sau bao năm lặn lội vất vả.

Bà tiên đã quyết lo cho họ được hạnh phúc. Trong lúc họ đi vắng, bà đã giải hoà xong mối hiềm khích giữa hai nhà, và xin được cha mẹ đôi bên ưng thuận cho đôi tình nhân chung thuỷ lấy nhau. Giờ bà dẫn họ tới một ngôi nhà nhỏ xinh xắn hết chỗ nói, nằm ngay bên mạch nước. Mạch nước đã trở lại vẻ êm đềm như xưa, chảy hiền hoà xuống con lạch nhỏ bao quanh khu vườn, vườn cây ăn trái và bãi cỏ của ngôi nhà. Thật chẳng còn thiếu thứ gì, cho Xin-văng và Giô-cô-da, cũng như cho đàn cừu của họ. Niềm vui của hai người làm chính bà tiên, người bày ra mọi thứ để họ vui, cũng thấy mãn nguyện.

Khi đã đi khắp nơi ngắm nghía chán chê, họ ngồi nghỉ dưới mái hiên phủ đầy hoa hồng. Bà tiên bảo, trong lúc chờ khách mời dự đám cưới tới, bà sẽ kể cho họ nghe một câu chuyện. Chuyện như sau.

Ngày xưa có một bà tiên, chẳng rõ làm sao mà gây ra chuyện tai quái, bị Toà án tối cao xứ Tiên phạt phải sống mấy năm trong lốt một con vật. Và đúng lúc được trở lại hình dạng thật, bà phải làm cho hai người đàn ông trở nên giàu có. Bà được tự chọn lốt mình sẽ mang. Vì thích màu vàng, bà hoá thành một con chim xinh đẹp, bộ lông vàng óng ánh chưa ai từng thấy.

Khi hết hạn phạt, con chim vàng xinh đẹp bay tới thành Bát-đa, và để cho một người bẫy chim bắt được, đúng vào lúc ông Ba-đi An-da-man đang đi tới đi lui trước toà cung điện mùa hè nguy nga của ông. Ba-đi An-da-man, tên ấy nghĩa là Kỳ Quan Của Thế Gian, được cả thành Bát-đa coi là người sung sướng nhất dưới gầm trời, vì của cải ông nhiều vô kể. Nhưng thật ra, vì lo giữ của, vì chán chường mọi thứ, vì lúc nào cũng thèm muốn thứ mình chưa có, nên ông chẳng biết tới một giây phút hạnh phúc thật sự nào. Ngay lúc này đây, ông vừa ra khỏi toà cung điện rộng lớn đủ cho năm mươi ông vua ở, mặt mũi chán chường, cáu kỉnh, vì chẳng tìm được thứ gì mới lạ để mua vui.

Người bẫy chim nghĩ đây là dịp tốt để dâng con chim kỳ lạ, và tin chắc ông sẽ mua ngay khi vừa trông thấy. Quả không sai. Ba-đi An-da-man cầm lấy con chim tù xinh đẹp, thấy dưới cánh phải có viết: Ai ăn đầu ta sẽ làm vua. Dưới cánh trái có viết: Ai ăn tim ta, sáng nào cũng thấy một trăm đồng vàng dưới gối. Giàu có là vậy, ông vẫn thèm ngay món vàng được hứa, và cuộc mua bán chóng vánh xong xuôi.

Rồi lại nảy ra chuyện nấu con chim thế nào, vì trong cả đạo quân đầy tớ, Ba-đi An-da-man chẳng tin nổi một ai. Sau cùng, ông hỏi người bẫy chim đã có vợ chưa. Nghe nói có rồi, ông bảo anh ta mang chim về nhà, bảo vợ nấu cho.

— Biết đâu món này làm ta ăn ngon miệng trở lại, đã lâu lắm rồi ta chẳng thấy ngon miệng. Nếu được thế, vợ anh sẽ được một trăm đồng bạc.

Người bẫy chim mừng rỡ chạy về nhà, và vợ anh nhanh tay nấu con chim vàng thành một món hầm thơm phức. Nhưng khi Ba-đi An-da-man tới căn nhà tranh, háo hức lục tìm trong đĩa cái đầu với quả tim, thì chẳng thấy đâu cả. Ông quay sang vợ người bẫy chim, giận dữ điên cuồng. Chị ta sợ quá quỳ sụp xuống, thú thật rằng hai đứa con chị về ngay trước khi ông tới, cứ nằng nặc xin món mẹ đang nấu, nên chị đã cho đứa này cái đầu, đứa kia quả tim, vì mấy miếng ấy xưa nay chẳng mấy ai chuộng. Ba-đi An-da-man lao ra khỏi nhà, thề sẽ trả thù cả nhà họ.

Cơn giận của người giàu bao giờ cũng đáng sợ, nên hai vợ chồng quyết định đưa các con đi thật xa cho khỏi vạ. Nhưng để chồng yên lòng, người vợ thú thật rằng chị cố ý cho các con cái đầu với quả tim, vì chị đã đọc được chữ viết dưới cánh chim. Tin rằng con mình thế là phát đạt, hai vợ chồng ôm hôn các con rồi tiễn chúng ra đi, dặn đi càng xa càng tốt, mỗi đứa một ngả, và nhớ gửi tin về.

Còn hai vợ chồng thì cải trang, ẩn náu ngay trong thành, thế cũng khôn đấy chứ. Nhưng ít lâu sau, Ba-đi An-da-man chết vì tức tối, uất ức vì mất kho vàng được hứa, thế là hai vợ chồng lại về căn nhà tranh chờ tin các con.

Đứa em, đứa ăn quả tim chim vàng, chẳng mấy chốc đã biết nó được gì, vì sáng nào thức dậy cũng thấy dưới gối một túi đựng một trăm đồng vàng. Nhưng như mọi người nghèo có thể nhớ lấy mà tự an ủi, trên đời chẳng có gì gây lắm phiền toái và phải lo giữ gìn như một kho của lớn. Cậu con trai người bẫy chim tiêu xài phung phí, lại bị đồn là có cả một kho vàng, nên chẳng bao lâu bị bọn cướp tấn công. Cậu chống cự và bị thương nặng tới mức chết.

Người anh, người đã ăn cái đầu chim vàng, đi một quãng đường dài mà chẳng gặp chuyện gì đặc biệt. Cho tới khi anh tới một thành phố lớn ở châu Á, đang náo loạn vì chuyện chọn ông tiểu vương mới. Các bậc thị dân tai mắt chia làm hai phe, cãi nhau mãi mới thoả thuận được rằng ai gặp chuyện kỳ lạ nhất thì người ấy làm tiểu vương.

Đúng lúc ấy chàng lữ khách trẻ của chúng ta bước vào thành, mặt mũi dễ coi, dáng điệu nhanh nhảu. Bỗng anh thấy có cái gì đậu xuống đầu mình, hoá ra là một con bồ câu trắng như tuyết. Thế là dân chúng đổ xô nhìn, chạy theo anh. Chẳng mấy chốc anh tới cung điện, đầu đội con bồ câu, sau lưng là cả thành phố. Chưa kịp hiểu chuyện gì, anh đã được tôn làm tiểu vương, khiến anh vô cùng ngạc nhiên.

Chẳng gì dễ chịu bằng được ra lệnh, mà cũng chẳng gì người ta quen nhanh bằng. Chàng tiểu vương trẻ chẳng mấy chốc thấy mình thoải mái hẳn ở địa vị mới. Nhưng thế không ngăn được anh phạm đủ mọi sai lầm, cai trị đất nước tệ tới mức cuối cùng cả thành nổi dậy, tước luôn cả quyền lẫn mạng anh. Đó là hình phạt đích đáng, vì trong những ngày vinh hiển, anh đã chối bỏ cha mẹ là vợ chồng người bẫy chim, để mặc họ chết trong nghèo khổ.

Kể xong, bà tiên nói:

— Ta kể chuyện này cho hai con nghe, Xin-văng và Giô-cô-da thân yêu, là để các con thấy rằng ngôi nhà nhỏ này với mọi thứ trong đó là món quà dễ mang lại hạnh phúc và an vui hơn nhiều thứ thoạt nhìn có vẻ to tát, đáng mơ ước hơn. Nếu các con hứa chắc chắn với ta sẽ cày cấy ruộng đồng, chăn nuôi đàn cừu, và giữ lời tốt hơn lần trước, ta sẽ lo cho các con không bao giờ thiếu những gì thật sự tốt cho mình.

Xin-văng và Giô-cô-da hứa chắc chắn, và vì họ giữ đúng lời, họ luôn được sống yên ổn, sung túc. Bà tiên đã mời hết bạn bè, láng giềng tới dự đám cưới. Đám cưới cử hành ngay, linh đình, vui vẻ. Hai người sống tới đầu bạc răng long, lúc nào cũng thương nhau bằng cả tấm lòng.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảBá tước de Caylus (1692 – 1765)
Năm mất1765
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện tiên của bá tước de Caylus, thế kỷ 18; dịch từ bản tiếng Anh Sylvain and Jocosa, Andrew Lang, The Green Fairy Book, 1892
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →