Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Gã Láu Cá

của Andrew Lang

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 18.350 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ngày xưa ở đất Ai-len có một bà goá…
  2. 2:04"Nếu nó đã nhất định làm kẻ trộm, thì…
  3. 4:34Mặc kệ. Đêm lễ Các Thánh nào tôi cũng…
  4. 6:15Hôm ấy Gã Láu Cá tình cờ đang lang…
  5. 8:51Nhưng lấy bằng cách nào?
  6. 10:54Muốn xuống thì nhớ huýt sáo nhé. Còn nếu…
  7. 14:37Nhà vua quay sang con gái, kêu lên:
  8. 16:28Quan thị vệ ra hiệu cho Gã Láu Cá…

Ngày xưa ở đất Ai-len có một bà goá chỉ có độc một người con trai. Cậu bé sáng dạ, nên bà dành dụm đủ tiền cho cậu đi học, định chừng nào cậu đủ lớn sẽ cho theo học bất cứ nghề gì cậu thích. Nhưng tới lúc ấy, cậu bảo cậu chẳng chịu học nghề nào cả, cậu sẽ làm kẻ trộm.

Bà mẹ buồn lắm khi nghe vậy. Nhưng bà biết rõ hễ cấm cản là cậu càng quyết làm cho bằng được. Vì thế bà chỉ đáp rằng đời kẻ trộm thì kết thúc bằng sợi dây treo cổ trên cầu Đáp-lin, rồi để mặc cậu, mong rằng lớn hơn chút nữa cậu sẽ biết điều hơn.

Một hôm bà tới nhà thờ nghe một vị giảng đạo nổi tiếng, và nài con trai đi cùng. Hàng xóm gọi cậu là Gã Láu Cá, vì những trò tinh quái cậu hay bày ra. Nhưng cậu chỉ cười, bảo cậu chẳng thích nghe giảng, rồi nói thêm:

— Nhưng con hứa với mẹ thế này: ra khỏi nhà thờ, nghề đầu tiên mẹ nghe người ta nhắc tới sẽ là nghề của con suốt đời.

Những lời ấy làm người đàn bà đáng thương được an ủi đôi chút, và bà chào con, lòng nhẹ nhõm hơn trước.

Khi Gã Láu Cá đoán bài giảng sắp xong, cậu nấp vào bụi rậm bên con đường mòn dẫn thẳng về nhà mẹ. Bà mẹ đi qua, đang mải nghĩ tới bao điều hay vừa được nghe, thì có tiếng ai hét ngay sát tai:

— Ăn trộm! Ăn trộm! Ăn trộm!

Bất thình lình quá, bà giật nảy mình. Thằng con tinh nghịch đã đổi giọng nên bà không nhận ra, lại nấp kỹ tới mức bà nhìn quanh khắp nơi cũng chẳng thấy ai. Bà vừa khuất sau khúc quanh, Gã Láu Cá đã chui ra, chạy thật nhanh băng qua rừng, về tới nhà trước mẹ. Bà về thì thấy cậu đang nằm duỗi dài thoải mái trước bếp lửa. Cậu hỏi:

— Mẹ có tin gì kể con nghe không?

— Không, chẳng có gì. Mẹ ra khỏi nhà thờ là về ngay, chẳng dừng lại nói chuyện với ai.

Cậu làm ra vẻ thất vọng:

— Ồ, vậy là chẳng ai nhắc tới nghề nào với mẹ cả à?

Bà chậm rãi đáp:

— Có... Ít ra thì lúc mẹ đi trên đường mòn có tiếng ai hét "Ăn trộm! Ăn trộm! Ăn trộm!", nhưng chỉ có thế.

Cậu đáp:

— Thế là đủ quá rồi. Con đã bảo mẹ thế nào? Đó sẽ là nghề của con.

Bà mẹ nói:

— Thế thì đời con sẽ kết thúc bằng sợi dây treo cổ trên cầu Đáp-lin.

Đêm ấy bà không ngủ được, nằm trong bóng tối nghĩ mãi về con trai.

"Nếu nó đã nhất định làm kẻ trộm, thì ít ra cũng phải làm kẻ trộm cho giỏi. Mà ai dạy được nó bây giờ?" bà mẹ tự hỏi. Rồi một ý nghĩ chợt tới. Bà dậy sớm từ khi mặt trời chưa mọc, lên đường tới nhà lão Kẻ Cắp Đen, người ta còn gọi lão là Con Chim Giá Treo Cổ. Lão là tên trộm tài tình tới mức ai cũng từng bị lão lấy trộm, vậy mà chẳng ai bắt được lão.

Tới chỗ lão Kẻ Cắp Đen ở những khi lão không bận đi làm ăn, người đàn bà nói:

— Chào ông. Con trai tôi thích học nghề của ông. Ông có vui lòng dạy nó không?

Lão đáp:

— Nếu nó sáng dạ thì tôi chẳng ngại thử. Mà dĩ nhiên, nếu có ai biến được nó thành tay trộm hạng nhất thì đó là tôi. Nhưng nếu nó đần thì vô ích thôi. Tôi không chịu nổi bọn đần độn.

Người đàn bà thở dài:

— Không, nó chẳng đần đâu. Tối nay, trời tối, tôi sẽ cho nó tới.

Nghe mẹ kể bà đã đi đâu, Gã Láu Cá nhảy cẫng lên vì sung sướng.

— Con sẽ thành tay trộm giỏi nhất xứ Ai-len!

Cậu reo lên, chẳng để ý tới việc mẹ lắc đầu lẩm bẩm gì đó về "cầu Đáp-lin".

Tối nào, trời tối, Gã Láu Cá cũng tới nhà lão Kẻ Cắp Đen, và cậu học được bao nhiêu mánh mới. Dần dần cậu được theo lão ra ngoài xem lão làm việc. Cuối cùng có một ngày thầy cậu nghĩ cậu đã đủ khéo để giúp một vụ lớn. Lão bảo:

— Trên đồi kia có một lão nhà giàu vừa bán hết đàn gia súc béo được nhiều tiền lắm, rồi mua mấy con gầy giá rẻ. Lão đã nhận tiền bán đàn béo, nhưng chưa trả tiền mua đàn gầy, hiện đang nhốt trong chuồng. Mai lão sẽ cầm tiền ra chợ, vậy đêm nay ta phải mò tới được cái rương. Khi mọi người yên giấc, ta sẽ nấp trên gác xép.

Đêm ấy không trăng, lại là đêm lễ Các Thánh. Ai nấy đều đang nướng hạt dẻ, chơi trò trói tay mà đớp táo nổi trong chậu nước, và đủ thứ trò khác, khiến Gã Láu Cá chờ mãi họ chẳng chịu đi ngủ, sốt cả ruột. Lão Kẻ Cắp Đen vốn quen nghề, cuộn mình trên đống cỏ khô ngủ, dặn cậu khi nào đám người vui chơi tan thì đánh thức lão dậy.

Nhưng Gã Láu Cá không ngồi yên được nữa. Cậu lẻn xuống chuồng bò, tháo dây buộc đầu lũ gia súc. Chúng đá nhau, rống ầm lên, làm náo loạn tới mức người trong nhà phải chạy ra buộc lại. Nhân lúc ấy, Gã Láu Cá lẻn vào nhà vốc một nắm hạt dẻ to, rồi quay lên gác xép, nơi lão Kẻ Cắp Đen vẫn đang ngủ. Thoạt đầu cậu cũng nhắm mắt, nhưng chỉ lát sau cậu đã ngồi dậy, rút trong túi ra cây kim to với cuộn chỉ, khâu gấu áo của lão Kẻ Cắp Đen vào một tấm da bò nặng trịch treo ngay sau lưng lão.

Lúc ấy lũ gia súc đã được buộc lại, nhưng người trong nhà không tìm thấy hạt dẻ đâu, nên ngồi quây quanh bếp lửa kể chuyện.

Gã Láu Cá nói:

— Tôi cắn một hạt dẻ đây.

Lão Kẻ Cắp Đen kêu lên:

— Không được! Chúng nghe thấy đấy.

— Mặc kệ. Đêm lễ Các Thánh nào tôi cũng phải cắn hạt dẻ.

Rồi cậu cắn một hạt, kêu tách một tiếng.

Một người trong đám vui chơi dưới nhà nói:

— Có ai cắn hạt dẻ trên kia. Lên nhanh xem đứa nào.

Người ấy nói to, lão Kẻ Cắp Đen nghe thấy, vùng chạy khỏi gác xép, kéo lê theo sau tấm da bò to tướng Gã Láu Cá đã khâu vào áo lão.

Lão chủ nhà hét lên:

— Nó ăn trộm tấm da của tao!

Tất cả ùa ra đuổi theo. Nhưng lão nhanh chân quá, họ đuổi không kịp. Cuối cùng lão giật được tấm da ra khỏi áo, rồi chạy như thỏ về tới chỗ ẩn náu cũ. Nhưng mấy việc ấy tốn khá lâu. Trong khi đó, Gã Láu Cá tụt xuống khỏi gác, lục khắp nhà cho tới khi tìm ra chiếc rương đựng vàng bạc, giấu sau một đống rơm, trên phủ mấy ổ bánh mì và một bánh pho mát to. Gã Láu Cá đeo mấy túi tiền lên vai, kẹp ổ bánh với bánh pho mát dưới nách, rồi thong thả về nhà lão Kẻ Cắp Đen.

Thầy cậu giận dữ quát:

— Cuối cùng mày cũng về hả, đồ khốn! Tao sẽ trả thù mày.

Gã Láu Cá bình thản đáp:

— Ổn cả mà. Tôi mang về đúng thứ ông muốn đây.

Cậu đặt mọi thứ đang mang xuống đất.

Vợ lão Kẻ Cắp Đen nói:

— Chà! Thằng này mới là tay trộm giỏi hơn.

Lão Kẻ Cắp Đen cũng nói thêm:

— Phải, mày mới là thằng sáng dạ.

Rồi họ chia của, lão Kẻ Cắp Đen được một nửa, Gã Láu Cá được một nửa.

Vài tuần sau, lão Kẻ Cắp Đen hay tin có một đám cưới sắp tổ chức gần thị trấn. Chú rể có nhiều bạn bè, ai cũng gửi quà mừng. Có một lão nhà giàu ở trên phía đồng hoang nghĩ rằng với một đôi vợ chồng trẻ mới ra ở riêng thì chẳng gì có ích bằng một con cừu béo tốt. Lão sai người chăn cừu lên núi, nơi đàn cừu đang ăn cỏ, bắt về con đẹp nhất. Người chăn cừu chọn con to nhất, béo nhất, lông trắng nhất, trói chân nó lại, vác lên vai, vì đường còn xa.

Hôm ấy Gã Láu Cá tình cờ đang lang thang trên đồng hoang, thấy người đàn ông vác con cừu trên vai đi trên con đường chạy ngang nhà lão Kẻ Cắp Đen. Con cừu nặng, người kia lại chẳng vội, nên đi chậm. Cậu biết mình thừa sức về tới chỗ thầy trước khi người chăn cừu kịp lọt vào tầm mắt.

Cậu vạch nhanh lùm cây che túp lều, kêu lên:

— Tôi cá là tôi sẽ lấy trộm được con cừu của cái gã đang tới kia trước khi gã đi qua đây.

Lão Kẻ Cắp Đen đáp:

— Thật thế à? Tao cá với mày một trăm đồng bạc là mày chẳng làm nổi đâu.

— Được, dù sao tôi cũng cứ thử.

Gã Láu Cá đáp, rồi biến vào bụi rậm. Cậu chạy thật nhanh tới một khu rừng mà người chăn cừu thế nào cũng phải đi qua, rồi dừng lại, cởi một chiếc giày, bôi bùn lên, đặt giữa lối đi. Xong xuôi, cậu nấp sau một tảng đá mà chờ.

Chẳng mấy chốc người kia tới. Thấy chiếc giày nằm đó, anh ta dừng lại ngắm.

"Giày tốt đấy," anh ta tự nhủ, "nhưng bẩn quá. Giá có chiếc kia thì mình cũng chịu khó cọ sạch."

Anh ta vứt chiếc giày xuống rồi đi tiếp.

Gã Láu Cá mỉm cười khi nghe thế. Cậu nhặt chiếc giày lên, lẻn theo một lối tắt vòng lên trước, đặt chiếc giày kia xuống lối đi. Mấy phút sau người chăn cừu tới, thấy chiếc giày thứ hai nằm giữa đường. Anh ta kêu lên:

— Ô hay, đây là chiếc còn lại của chiếc giày bẩn kia! Mình quay lại nhặt chiếc kia, thế là có một đôi giày tốt.

Anh ta đặt con cừu xuống cỏ, quay lại lấy chiếc giày. Bấy giờ Gã Láu Cá xỏ giày vào chân, vác con cừu về nhà. Lão Kẻ Cắp Đen phải trả cậu một trăm đồng tiền cá.

Tối ấy, về tới trang trại, người chăn cừu kể chuyện với chủ. Lão chủ mắng anh ta ngu ngốc, cẩu thả, rồi bảo hôm sau lên núi bắt về một con dê non, lão sẽ gửi con ấy làm quà cưới. Nhưng Gã Láu Cá đã rình sẵn. Cậu nấp trong rừng, và vừa thấy người chăn cừu vác con dê non tới gần, cậu bắt đầu kêu be be như cừu, đến mẹ của con cừu cũng chẳng phân biệt được.

"Ơ hay, hẳn là nó tuột được dây trói chân rồi lạc vào đây," người kia nghĩ. Anh ta đặt con dê non xuống cỏ, vội vã đi về phía có tiếng kêu. Thế là cậu bé chạy lại nhặt con dê, mang về cho lão Kẻ Cắp Đen.

Người chăn cừu đi tìm con cừu không thấy, quay về thì thấy con dê cũng biến mất, không tin nổi mắt mình. Anh ta sợ không dám về nhà kể lại cái chuyện y hệt hôm qua, nên lùng sục khắp rừng cho tới gần tối. Rồi anh ta thấy chẳng còn cách nào, đành về thú thật với chủ.

Dĩ nhiên lão chủ giận lắm vì cái vạ thứ hai. Nhưng lần này lão bảo anh ta lùa từ trên núi xuống một con bò mộng to, và cảnh cáo nếu để mất nốt con này thì mất luôn chỗ làm. Một lần nữa, Gã Láu Cá đang rình đã thấy anh ta đi qua. Khi thấy người chăn cừu quay về lùa theo con bò mộng to tướng, cậu bảo lão Kẻ Cắp Đen:

— Nhanh lên, vào rừng đi, ta thử lấy luôn con bò mộng.

Lão hỏi:

— Nhưng lấy bằng cách nào?

— Ồ, dễ lắm! Ông nấp ra đằng kia kêu be be như cừu, tôi sang phía bên kia kêu như dê non. Ổn cả, tôi đảm bảo đấy.

Người chăn cừu đang thong thả lùa con bò, bỗng nghe một tiếng be be to giữa bụi rậm xa xa bên này đường, và một tiếng kêu yếu ớt đáp lại từ bên kia. Anh ta bảo:

— Ô hay, hẳn là con cừu với con dê non mình làm mất. Phải, chắc chắn rồi.

Anh ta vội buộc con bò vào một gốc cây, rồi đi tìm con cừu và con dê, lục khắp rừng tới mỏi chân. Dĩ nhiên khi anh ta quay lại thì hai tên trộm đã lùa con bò về nhà, làm thịt mất rồi. Thế là người chăn cừu đành về thú với chủ rằng mình lại bị lừa.

Từ đó lão Kẻ Cắp Đen và Gã Láu Cá mỗi ngày một táo tợn, lấy trộm vô số gia súc đem bán, giàu lên trông thấy. Một hôm hai thầy trò đi chợ về, túi đầy tiền, đi ngang qua một cái giá treo cổ dựng trên đỉnh đồi.

Gã Láu Cá kêu lên:

— Ta dừng lại xem cái giá treo cổ kia đi. Tôi chưa bao giờ thấy gần thế này. Người ta bảo đó là chỗ kết thúc của mọi kẻ trộm.

Chẳng có ai quanh đó, nên hai người xem xét kỹ từng phần của nó. Gã Láu Cá nói:

— Không biết bị treo cổ thì thấy thế nào nhỉ. Tôi muốn biết, phòng khi có ngày bị bắt. Tôi thử trước, rồi tới lượt ông.

Vừa nói cậu vừa buộc đầu dây thòng lọng vào cổ mình. Buộc chắc rồi, cậu bảo lão Kẻ Cắp Đen cầm đầu dây kia kéo cậu lên khỏi mặt đất.

— Khi nào tôi chán, tôi sẽ giãy chân, lúc ấy ông thả tôi xuống.

Lão Kẻ Cắp Đen kéo dây lên. Nhưng chưa được nửa phút, chân Gã Láu Cá đã bắt đầu giãy, lão vội thả cậu xuống.

Gã Láu Cá, mặt hơi tím tái, giọng nói khàn khàn kỳ lạ, lẩm bẩm:

— Ông chẳng tưởng tượng nổi bị treo lên thì thấy buồn cười thế nào đâu. Chắc ông chưa thử bao giờ, không thì ông đã chẳng để tôi lên trước. Ôi, đó là thứ khoái nhất tôi từng làm. Tôi giãy chân là vì sướng quá, ông mà ở trên ấy thì ông cũng giãy.

Lão Kẻ Cắp Đen đáp:

— Ừ, thế thì để tao thử, nếu nó sướng thế. Nhưng nhớ buộc nút cho thật chắc, tao chẳng muốn ngã gãy cổ đâu.

— Ồ, cái ấy để tôi lo! Khi nào ông chán thì cứ huýt sáo, tôi sẽ thả ông xuống.

Thế là lão Kẻ Cắp Đen được kéo lên. Vừa lên cao hết cỡ dây, Gã Láu Cá đã gọi với lên:

— Muốn xuống thì nhớ huýt sáo nhé. Còn nếu ông cũng khoái như tôi thì cứ giãy chân.

Lập tức chân lão Kẻ Cắp Đen bắt đầu giãy, bắt đầu đạp. Gã Láu Cá đứng bên dưới nhìn, cười ngặt nghẽo.

— Ôi, ông buồn cười quá! Giá ông tự nhìn thấy mình! Ôi, ông buồn cười quá đi mất! Khi nào thấy đủ rồi thì huýt sáo, tôi thả xuống cho.

Rồi cậu lại cười ngả nghiêng.

Nhưng chẳng có tiếng huýt sáo nào. Chẳng mấy chốc đôi chân thôi giãy, thôi đạp, vì lão Kẻ Cắp Đen đã chết, đúng như Gã Láu Cá muốn.

Rồi cậu về nhà vợ lão Kẻ Cắp Đen, bảo bà rằng chồng bà đã chết, và cậu sẵn sàng cưới bà nếu bà muốn. Nhưng người đàn bà vốn thương lão Kẻ Cắp Đen, dù lão là kẻ trộm. Bà ghê sợ lùi lại trước Gã Láu Cá, rồi hô hoán người ta đuổi bắt cậu. Cậu phải chạy trốn sang một vùng khác, nơi chẳng ai biết những việc cậu đã làm.

Nếu mẹ Gã Láu Cá biết chút nào về những chuyện này, có lẽ bà đã nghĩ giờ con mình hẳn đã chán nghề trộm cắp, sẵn sàng thử làm một nghề lương thiện. Nhưng thật ra cậu mê những mánh khoé và những pha mạo hiểm, không có chúng thì đời buồn tẻ lắm. Thế là cậu cứ làm như trước, lại kết bè kết bạn, dạy họ hư hỏng như mình, cho tới khi cả bọn lấy trộm cả kho lương của nhà vua. Nghe lời khuyên của ông Thông Thái, nhà vua sai quân lính đi bắt bọn trộm.

Một thời gian dài, quân lính tìm mọi cách mà không tóm được chúng. Gã Láu Cá quá khôn ngoan so với tất cả bọn họ, họ đặt bẫy thì cậu đặt bẫy giỏi hơn. Cuối cùng, một đêm, cậu lẻn tới chỗ mấy người lính đang ngủ trong một nhà kho, giết họ, rồi thuyết phục dân làng rằng nếu không giết nốt những người lính còn lại trước sáng, thì chính họ chắc chắn sẽ bị giết. Thế là khi mặt trời mọc, trong làng chẳng còn một người lính nào sống sót.

Dĩ nhiên tin ấy chẳng mấy chốc tới tai nhà vua. Ngài nổi giận, cho mời ông Thông Thái tới bàn bạc. Ông Thông Thái khuyên ngài mời hết dân chúng trong vùng tới dự một buổi khiêu vũ. Gã trộm táo tợn, xấc xược kia thế nào cũng tới, và thế nào cũng mời công chúa nhảy với hắn.

— Ông khuyên hay lắm.

Nhà vua nói, rồi mở tiệc, sửa soạn buổi khiêu vũ. Hết thảy dân chúng trong vùng đều có mặt, và Gã Láu Cá tới cùng họ.

Khi ai nấy đã ăn uống no say, họ kéo vào phòng khiêu vũ. Người đông nghịt. Trong lúc mọi người chen nhau qua cửa, ông Thông Thái, giấu trong áo một lọ thuốc mỡ đen, chấm một chấm nhỏ xíu lên má Gã Láu Cá, gần mang tai. Gã Láu Cá chẳng cảm thấy gì. Nhưng khi tới gần công chúa để mời nàng nhảy, cậu thoáng thấy chấm đen trong một tấm gương bạc. Lập tức cậu đoán ra ai đã chấm và chấm để làm gì, nhưng cậu chẳng nói gì, nhảy đẹp tới mức công chúa vô cùng thích thú. Nhảy xong, cậu cúi chào bạn nhảy rồi rời nàng, lẫn vào đám đông đang chen chúc nơi cửa. Đi ngang qua ông Thông Thái, cậu không những lấy trộm được lọ thuốc, mà còn chấm hai chấm đen lên mặt ông, và một chấm lên mặt hai mươi người đàn ông khác. Rồi cậu lại nhét lọ thuốc vào áo ông Thông Thái.

Một lúc sau, cậu lại tới xin công chúa cho được hân hạnh nhảy thêm bài nữa. Nàng nhận lời. Trong lúc cậu cúi xuống buộc dây giày, nàng lấy trong túi ra một lọ thuốc khác mà ông thầy phép đã đưa cho, chấm một chấm đen lên má cậu. Nhưng nàng không khéo tay bằng ông Thông Thái, nên Gã Láu Cá cảm thấy ngón tay nàng chạm vào. Thế là nhảy xong, cậu tìm cách chấm thêm chấm đen thứ hai lên mặt hai mươi người kia, và chấm thêm hai chấm nữa lên mặt ông thầy phép. Rồi cậu lại nhét lọ thuốc vào túi nàng.

Cuối cùng buổi khiêu vũ kết thúc. Nhà vua ra lệnh đóng hết cửa, lục soát tìm người có hai chấm đen trên má. Quan thị vệ đi giữa đám khách, chẳng mấy chốc tìm ra một người như thế. Nhưng ông vừa định bắt người ấy dẫn tới trước nhà vua thì mắt ông lại thấy một người khác cũng có dấu y như vậy, rồi người nữa, người nữa, cho tới khi đếm đủ hai mươi người, chưa kể ông Thông Thái, đều có chấm trên mặt.

Không biết làm sao, quan thị vệ vội về tâu với nhà vua. Nhà vua lập tức cho gọi ông Thông Thái, rồi gọi con gái tới.

Nhà vua bảo ông thầy phép:

— Hẳn tên trộm đã lấy trộm lọ thuốc của ông.

— Tâu bệ hạ không, nó đây.

Ông Thông Thái đáp, giơ lọ thuốc ra.

Nhà vua quay sang con gái, kêu lên:

— Thế thì hẳn nó lấy lọ của con.

— Thưa cha, nó vẫn nằm yên trong túi con đây.

Nàng vừa đáp vừa lấy lọ thuốc ra. Cả ba nhìn nhau, im lặng.

Cuối cùng nhà vua nói:

— Thôi được. Kẻ làm việc này khôn ngoan hơn người thường. Nếu hắn chịu ra mặt với ta, hắn sẽ được cưới công chúa, được cai trị nửa vương quốc khi ta còn sống, và cả vương quốc khi ta chết.

Rồi ngài bảo một người hầu:

— Ra phòng khiêu vũ loan báo điều ấy, rồi đưa gã kia tới đây.

Người hầu ra phòng khiêu vũ làm đúng như lời nhà vua dặn. Nhưng anh ngạc nhiên biết bao khi không phải một người, mà cả hai mươi người cùng bước ra, ai cũng có chấm đen trên mặt.

— Tôi là người ngài cần tìm!

Tất cả cùng kêu lên một lúc. Người hầu cũng bối rối như quan thị vệ lúc nãy, bảo họ đi theo mình tới trước mặt nhà vua.

Nhưng chuyện khó quá, nhà vua chẳng phân xử nổi, đành triệu tập hội đồng. Họ bàn bạc hàng mấy giờ liền mà chẳng đi tới đâu, rốt cuộc nghĩ ra một kế mà lẽ ra họ nghĩ ra ngay từ đầu cũng được.

Kế ấy thế này. Người ta sẽ đưa một đứa trẻ vào cung, công chúa sẽ trao cho nó một quả táo. Rồi đứa trẻ cầm quả táo, được dẫn vào căn phòng nơi hai mươi người có chấm đen ngồi thành vòng tròn. Đứa trẻ trao quả táo cho ai thì người ấy sẽ được cưới công chúa.

Nhà vua nói:

— Dĩ nhiên rốt cuộc có thể không đúng người, nhưng cũng có thể đúng. Dù sao đó cũng là cách tốt nhất ta làm được.

Chính công chúa dẫn đứa trẻ vào căn phòng nơi hai mươi người đàn ông đang ngồi. Con bé đứng giữa vòng tròn một lúc, nhìn hết người này tới người khác, rồi chìa quả táo cho Gã Láu Cá. Cậu đang quấn một mảnh dăm bào quanh ngón tay, trên cổ đeo lủng lẳng chiếc ống thổi của cây kèn túi.

Quan thị vệ đi cùng công chúa nói:

— Anh không được có thứ gì mà người khác không có.

Ông bảo con bé ra ngoài đứng một phút, rồi lấy mảnh dăm bào và chiếc ống thổi đi, bắt Gã Láu Cá đổi chỗ ngồi. Rồi ông gọi con bé vào. Nhưng con bé vẫn nhận ra cậu, đi thẳng tới trao quả táo.

Quan thị vệ ra hiệu cho Gã Láu Cá quỳ trước nhà vua, nói:

— Đây là người đứa trẻ đã hai lần chọn. Công bằng cả, chúng thần đã thử tới hai lần.

Thế là Gã Láu Cá cưới được con gái nhà vua. Hôm sau họ làm lễ cưới.

Vài ngày sau, cô dâu chú rể đi dạo cùng nhau. Con đường dẫn xuống bờ sông, và trên sông có một cây cầu.

— Cầu này là cầu gì thế?

Gã Láu Cá hỏi. Công chúa bảo đây là cầu Đáp-lin.

— Thật thế ư? Ồ, bao nhiêu lần, mỗi khi tôi giở trò tinh quái, mẹ tôi lại bảo rằng đời tôi sẽ kết thúc bằng sợi dây treo cổ trên cầu Đáp-lin.

Công chúa bật cười:

— Ồ, nếu chàng muốn cho lời mẹ ứng nghiệm thì chỉ cần để em buộc chiếc khăn tay vào cổ chân chàng, em sẽ giữ chàng treo lơ lửng bên thành cầu.

— Thế thì vui đấy. Nhưng nàng không đủ sức giữ ta đâu.

— Ồ, đủ chứ. Chàng cứ thử xem.

Thế là cuối cùng cậu để nàng buộc chiếc khăn tay vào cổ chân, thả cậu treo lơ lửng bên thành cầu. Cả hai cười đùa, trêu chọc sức khoẻ của công chúa.

— Giờ kéo ta lên đi.

Cậu gọi. Nhưng đúng lúc cậu nói, có tiếng hô hoán vang lên rằng cung điện đang cháy. Công chúa giật mình quay lại, buông tay khỏi chiếc khăn. Gã Láu Cá rơi xuống, đập đầu vào một tảng đá, chết ngay tức khắc.

Thế là rốt cuộc lời mẹ cậu vẫn ứng nghiệm.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1910
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện dân gian vùng Cao nguyên Scotland, J. F. Campbell sưu tầm trong tập Popular Tales of the West Highlands (1860); dịch từ bản tiếng Anh The Shifty Lad, Andrew Lang, The Lilac Fairy Book, 1910
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →