Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Khúc ba: Từ vùng hoang mạc tới nhà người cháu

Bài ca Giáng sinh · Chương 7/10 · của Charles Dickens

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 18.068 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Và giờ, không một lời báo trước của Hồn…
  2. 3:57Ha, ha! Ha, ha, ha!
  3. 5:42Cháu dâu Cờ-rút gợi ý:
  4. 6:50Cháu trai Cờ-rút nói:
  5. 12:13Hồn Linh rất hài lòng khi thấy lão trong…
  6. 13:58Nào! Cậu Cờ-rút!
  7. 15:45Đêm nay, lúc nửa đêm. Nghe kìa! Giờ ấy…
  8. 17:18Hồn Linh! Chúng là con của ngài sao?

Chương 7: Khúc ba: Từ vùng hoang mạc tới nhà người cháu

Và giờ, không một lời báo trước của Hồn Linh, họ đứng trên một vùng đồng hoang lạnh lẽo và vắng vẻ, nơi những khối đá thô kệch khổng lồ nằm ngổn ngang như thể đó là nghĩa địa của những người khổng lồ. Và nước loang ra bất cứ chỗ nào nó muốn, hay lẽ ra đã loang ra, nếu không có giá lạnh giam giữ nó, và chẳng có gì mọc ngoài rêu, kim tước gai và cỏ thô rậm rạp. Phía tây, mặt trời lặn đã để lại một vệt đỏ rực như lửa, chiếu lên cảnh hoang tàn trong một khoảnh khắc như một con mắt hằn học, rồi cau có thấp xuống, thấp xuống, thấp xuống nữa, và mất hút trong bóng tối dày đặc của đêm đen nhất.

Cờ-rút hỏi:

– Đây là nơi nào?

Hồn Linh đáp:

– Nơi những người thợ mỏ sống, những người làm việc trong lòng đất. Nhưng họ biết ta. Xem kìa!

Một ánh đèn sáng lên từ cửa sổ một túp lều, và họ nhanh chóng tiến tới đó. Đi xuyên qua bức tường bằng bùn và đá, họ thấy một nhóm người vui vẻ quây quần quanh bếp lửa hồng. Một ông lão và một bà lão già lắm rồi, cùng con cái, cháu chắt của họ, và thêm một thế hệ nữa sau đó, ai cũng diện quần áo ngày lễ thật vui tươi. Ông lão, bằng một giọng ít khi vượt lên trên tiếng gió hú trên vùng hoang mạc cằn cỗi, đang hát cho họ nghe một bài hát Giáng sinh. Đó đã là một bài hát rất cũ từ hồi ông còn bé. Và thỉnh thoảng cả nhà lại hát theo điệp khúc. Hễ họ cất giọng lên là ông lão lại vui hẳn lên và hát to. Hễ họ ngừng là sức lực của ông lại tụt xuống.

Hồn Linh không nán lại đây, mà bảo Cờ-rút nắm lấy áo mình, rồi bay qua vùng hoang mạc, lao đi, đi đâu? Không phải ra biển chứ? Ra biển. Cờ-rút kinh hãi khi ngoái lại nhìn, thấy dải đất liền cuối cùng, một dãy đá đáng sợ, ở sau lưng họ. Và tai lão điếc đặc vì tiếng sóng ầm ầm, cuộn trào, gầm thét, giận dữ giữa những hang động khủng khiếp nó đã khoét ra, và dữ dội tìm cách xói mòn mặt đất.

Dựng trên một dải đá ngầm ảm đạm, cách bờ chừng một dặm, nơi sóng nước cọ xát và đập vào suốt cả năm cuồng nộ, có một ngọn hải đăng đơn độc. Những đống rong biển lớn bám ở chân nó, và những con chim bão, có thể tưởng như sinh ra từ gió, như rong biển sinh ra từ nước, bay lên sà xuống quanh nó, như những con sóng chúng lướt qua.

Nhưng ngay cả ở đây, hai người canh đèn đã nhóm một ngọn lửa, qua lỗ châu mai trên bức tường đá dày hắt ra một tia sáng lên biển cả đáng sợ. Nắm bàn tay chai sạn của nhau qua chiếc bàn thô sơ họ ngồi, họ chúc nhau Giáng sinh vui vẻ bằng cốc rượu pha nước của mình. Và một người, người lớn tuổi hơn, mặt mày sứt sẹo, rỗ nát vì thời tiết khắc nghiệt như tượng đầu mũi của một con tàu cũ, cất lên một bài hát mạnh mẽ, tự nó cũng như một cơn bão.

Hồn Linh lại lao đi, trên mặt biển đen ngòm đang dập dềnh, đi mãi, đi mãi, cho tới khi, như ông bảo Cờ-rút, đã ở rất xa mọi bờ biển, họ đáp xuống một con tàu. Họ đứng bên người lái tàu ở bánh lái, người canh ở mũi tàu, những sĩ quan đang trực, những bóng người tối sẫm, ma quái ở những vị trí của mình. Nhưng người nào trong số họ cũng đang ngâm nga một điệu nhạc Giáng sinh, hay có một ý nghĩ về Giáng sinh, hay thì thầm với bạn mình về một ngày Giáng sinh đã qua, cùng với những hy vọng về nhà gắn với nó. Và mọi người trên tàu, thức hay ngủ, tốt hay xấu, ngày hôm ấy đều đã có một lời tử tế với người khác hơn bất cứ ngày nào trong năm. Đều đã dự phần ít nhiều vào ngày hội. Đều đã nhớ tới những người mình thương ở nơi xa, và biết rằng họ cũng vui khi nhớ tới mình.

Cờ-rút hết sức ngạc nhiên, trong khi đang lắng nghe tiếng gió rên rỉ, và nghĩ rằng thật trang nghiêm biết bao khi đi tới trong bóng tối cô quạnh trên một vực thẳm chưa ai biết, mà những tầng sâu của nó là những bí mật sâu thẳm như Cái Chết. Cờ-rút hết sức ngạc nhiên, trong lúc đang như thế, lại nghe thấy một tràng cười giòn giã. Còn ngạc nhiên hơn nhiều khi Cờ-rút nhận ra đó là tiếng cười của chính cháu trai mình, và thấy mình đang ở trong một căn phòng sáng sủa, khô ráo, lấp lánh, với Hồn Linh đứng mỉm cười bên cạnh, nhìn chính người cháu ấy với vẻ hoà nhã tán thưởng!

Cháu trai Cờ-rút cười:

– Ha, ha! Ha, ha, ha!

Nếu tình cờ, một sự tình cờ khó có, các bạn biết một người đàn ông có tiếng cười diễm phúc hơn cháu trai Cờ-rút, thì tôi chỉ có thể nói rằng tôi cũng muốn được biết người ấy. Hãy giới thiệu anh ta với tôi, tôi sẽ vun đắp tình quen biết.

Đó là một sự sắp đặt công bằng, ngay thẳng, cao quý của mọi vật, rằng trong khi bệnh tật và buồn phiền có thể lây lan, thì trên đời chẳng có gì lây lan không cưỡng nổi bằng tiếng cười và tính vui vẻ. Khi cháu trai Cờ-rút cười theo kiểu ấy, ôm bụng, lắc đầu, vặn vẹo mặt mũi thành những kiểu méo mó kỳ quặc nhất, thì cháu dâu của Cờ-rút cũng cười giòn giã như anh. Và bạn bè của họ đang có mặt chẳng chịu kém chút nào, cũng cười vang hết cỡ.

– Ha, ha! Ha, ha, ha, ha!

Cháu trai Cờ-rút kêu lên:

– Cậu ấy bảo Giáng sinh là chuyện vớ vẩn, thề có trời! Mà cậu ấy tin thế thật!

Cháu dâu Cờ-rút phẫn nộ nói:

– Thế thì càng đáng xấu hổ cho cậu ấy, anh Phết!

Phước lành cho các bà các cô, họ chẳng bao giờ làm việc gì nửa vời. Họ lúc nào cũng nghiêm túc.

Cô rất xinh, xinh vô cùng. Với một gương mặt tuyệt vời có lúm đồng tiền, trông như đang ngạc nhiên. Một cái miệng nhỏ chín mọng, như sinh ra để được hôn, mà chắc chắn là được hôn thật. Đủ loại chấm nhỏ xinh xinh quanh cằm, hoà vào nhau khi cô cười. Và đôi mắt ngập nắng nhất mà các bạn từng thấy trên đầu một sinh linh bé nhỏ. Nói chung, cô là người mà các bạn sẽ gọi là khêu gợi, các bạn biết đấy, mà cũng làm người ta vừa lòng nữa. Ồ, hoàn toàn vừa lòng.

Cháu trai Cờ-rút nói:

– Cậu ấy là một ông già khôi hài, sự thật là thế. Và không dễ chịu như cậu ấy có thể dễ chịu. Tuy vậy, những lỗi lầm của cậu ấy tự mang theo hình phạt, và anh chẳng có gì để nói chống lại cậu ấy.

Cháu dâu Cờ-rút gợi ý:

– Em chắc là cậu ấy giàu lắm, anh Phết. Ít ra anh lúc nào cũng bảo em thế.

Cháu trai Cờ-rút nói:

– Thì đã sao, em yêu! Của cải chẳng có ích gì cho cậu ấy. Cậu ấy chẳng làm được điều gì tốt với nó. Cậu ấy chẳng làm cho mình được thoải mái với nó. Cậu ấy chẳng có được niềm vui khi nghĩ rằng, ha, ha, ha! Rằng cậu ấy sẽ có lúc dùng nó làm lợi cho CHÚNG TA.

Cháu dâu Cờ-rút nhận xét:

– Em chẳng còn kiên nhẫn với cậu ấy.

Các chị em của cháu dâu Cờ-rút và tất cả các bà các cô khác đều cùng ý kiến ấy.

Cháu trai Cờ-rút nói:

– Ồ, anh thì có! Anh thấy thương cậu ấy. Có cố anh cũng chẳng giận cậu ấy được. Ai chịu thiệt vì những ý thích quái gở của cậu ấy? Bao giờ cũng là chính cậu ấy. Đấy, cậu ấy nảy ra ý không ưa chúng ta, và không chịu đến ăn tối với chúng ta. Hậu quả là gì? Cậu ấy chẳng mất một bữa tối đáng kể gì.

Cháu dâu Cờ-rút ngắt lời:

– Em thì nghĩ cậu ấy mất một bữa tối rất ngon.

Mọi người khác cũng nói thế, và phải công nhận họ là những người phán xét có thẩm quyền, vì họ vừa ăn tối xong, và với món tráng miệng trên bàn, đang quây quần quanh lò sưởi dưới ánh đèn.

Cháu trai Cờ-rút nói:

– Ừ! Anh rất mừng được nghe thế, vì anh chẳng tin tưởng lắm vào những bà nội trợ trẻ này. Cậu nói sao, Tốp-pơ?

Tốp-pơ rõ ràng đã để mắt tới một cô em của cháu dâu Cờ-rút, vì anh đáp rằng một anh chàng độc thân là một kẻ bị ruồng bỏ khốn khổ, chẳng có quyền phát biểu ý kiến về chuyện này. Nghe thế, cô em của cháu dâu Cờ-rút, cô đầy đặn đeo yếm đăng ten, không phải cô cài hoa hồng, đỏ mặt.

Cháu dâu Cờ-rút vỗ tay nói:

– Nói tiếp đi anh Phết. Anh ấy chẳng bao giờ nói hết điều đã bắt đầu! Anh ấy thật lố bịch!

Cháu trai Cờ-rút lại cười thoả thích một tràng nữa. Và vì không thể nào ngăn sự lây lan, dù cô em đầy đặn đã cố hết sức dùng dấm thơm để ngăn, tấm gương của anh được mọi người đồng lòng noi theo.

Cháu trai Cờ-rút nói:

– Anh chỉ định nói là hậu quả của việc cậu ấy không ưa chúng ta, không vui chơi với chúng ta, theo anh nghĩ, là cậu ấy mất đi vài khoảnh khắc dễ chịu chẳng hại gì cho cậu ấy. Anh chắc chắn cậu ấy mất đi những người bạn dễ chịu hơn những gì cậu ấy có thể tìm thấy trong ý nghĩ của chính mình, ở cái phòng giấy cũ mốc meo hay những căn phòng bụi bặm của cậu ấy. Anh định năm nào cũng cho cậu ấy cùng một cơ hội ấy, dù cậu ấy có thích hay không, vì anh thương cậu ấy. Cậu ấy có thể chửi bới Giáng sinh cho tới chết, nhưng cậu ấy sẽ không thể không nghĩ về nó tốt hơn, anh thách cậu ấy đấy, nếu năm này qua năm khác cậu ấy thấy anh đến đó, vui vẻ, và nói: “Cậu Cờ-rút, cậu có khoẻ không?” Nếu chuyện ấy chỉ làm cậu ấy nổi hứng để lại cho anh thư ký nghèo của mình năm mươi bảng, thì cũng đã là được rồi. Và anh nghĩ hôm qua anh đã làm cậu ấy lung lay.

Giờ đến lượt họ cười khi nghĩ tới chuyện anh làm Cờ-rút lung lay. Nhưng vì vốn hết sức tốt bụng, và chẳng quan tâm lắm mình cười cái gì, miễn là cười, anh khuyến khích họ vui vẻ, và vui vẻ chuyền chai rượu đi.

Uống trà xong, họ chơi nhạc. Vì họ là một gia đình yêu âm nhạc, và tôi dám bảo đảm với các bạn, họ biết mình đang làm gì khi hát một bài hợp xướng hay một bài hát đuổi. Nhất là Tốp-pơ, anh có thể gầm gừ giọng trầm như một tay cừ khôi, mà chẳng bao giờ phồng mạch máu to trên trán hay đỏ mặt vì nó. Cháu dâu Cờ-rút chơi đàn hạc giỏi. Và trong số những bản nhạc khác, cô chơi một điệu nhạc nhỏ giản dị, chẳng có gì to tát, các bạn có thể học huýt sáo nó trong hai phút. Điệu nhạc ấy đã từng quen thuộc với cô bé đến trường nội trú đón Cờ-rút về, như Hồn Linh Giáng sinh Quá khứ đã nhắc lão nhớ. Khi giai điệu ấy vang lên, mọi điều Hồn Linh kia đã cho lão xem hiện về trong tâm trí lão. Lão mềm lòng hơn, mềm lòng hơn nữa. Và lão nghĩ rằng giá như lão được nghe nó thường xuyên, từ nhiều năm trước, thì có lẽ lão đã tự tay vun đắp những điều tử tế của cuộc đời cho hạnh phúc của chính mình, mà chẳng phải cần tới cái thuổng của người đào huyệt đã chôn Gia-cốp Mác-lây.

Nhưng họ không dành cả buổi tối cho âm nhạc. Một lúc sau họ chơi phạt. Vì đôi khi được làm trẻ con cũng hay, mà hay nhất là vào dịp Giáng sinh, khi chính Đấng sáng lập vĩ đại của nó cũng từng là một đứa trẻ. Khoan đã! Trước hết là một ván bịt mắt bắt dê. Dĩ nhiên là có. Và tôi chẳng tin Tốp-pơ bị bịt mắt thật, cũng như tôi chẳng tin anh ta có mắt trong ủng. Theo tôi, đó là chuyện đã dàn xếp giữa anh ta và cháu trai Cờ-rút, và Hồn Linh Giáng sinh Hiện tại biết điều ấy. Cái cách anh ta đuổi theo cô em đầy đặn đeo yếm đăng ten là một sự xúc phạm lòng cả tin của bản chất con người. Làm đổ bộ dụng cụ cời lửa, vấp ngã vào ghế, đâm sầm vào cây dương cầm, quấn mình trong rèm cửa, cô ấy đi đâu, anh ta theo đó! Anh ta lúc nào cũng biết cô em đầy đặn ở đâu. Anh ta chẳng thèm bắt ai khác. Nếu các bạn có cố ý ngã vào người anh ta, như vài người đã làm, anh ta sẽ làm bộ cố tóm lấy các bạn, một sự xúc phạm trí khôn của các bạn, rồi lập tức lỉnh sang hướng cô em đầy đặn. Cô thường kêu lên là không công bằng, và quả thật là không công bằng. Nhưng khi cuối cùng anh ta bắt được cô, khi bất chấp mọi tiếng sột soạt của váy lụa và những cú lướt qua nhanh nhẹn, anh ta dồn được cô vào một góc không lối thoát, thì lúc ấy cách cư xử của anh ta mới thật đáng ghét. Vì anh ta làm bộ không biết là cô, làm bộ cần phải sờ mũ tóc cô, rồi để chắc chắn hơn về danh tính cô, lại còn ấn vào một chiếc nhẫn nào đó trên ngón tay cô, và một sợi dây chuyền nào đó trên cổ cô. Thật đê tiện, thật quái gở! Chắc chắn cô đã cho anh ta biết ý kiến của mình về chuyện ấy, khi một người khác bị bịt mắt, và hai người họ thì thầm tâm sự với nhau sau tấm rèm.

Cháu dâu Cờ-rút không tham gia ván bịt mắt bắt dê, mà được ngồi thoải mái trên một chiếc ghế lớn có kê ghế để chân, trong một góc ấm cúng, nơi Hồn Linh và Cờ-rút đứng ngay sau lưng cô. Nhưng cô tham gia ván chơi phạt, và yêu người yêu của mình một cách đáng ngưỡng mộ bằng đủ mọi chữ cái trong bảng chữ cái. Cả trò đố Như thế nào, Khi nào, Ở đâu cô cũng rất giỏi, và trước niềm vui thầm kín của cháu trai Cờ-rút, cô thắng các chị em mình dễ dàng, dù họ cũng là những cô gái sắc sảo, như Tốp-pơ có thể kể cho các bạn nghe. Ở đó có thể có tới hai chục người, già có trẻ có, nhưng ai cũng chơi, và cả Cờ-rút cũng thế. Vì hoàn toàn quên mất, trong niềm say mê với những gì đang diễn ra, rằng giọng mình chẳng vang lên trong tai họ, đôi khi lão nói to câu đoán của mình, và rất nhiều lần đoán đúng nữa. Vì cây kim sắc nhất, loại tốt nhất của phố Oai-sa-pơn, bảo đảm không cắt đứt chỉ ở lỗ, cũng không sắc hơn Cờ-rút, dù lão vẫn tự cho mình là cùn.

Hồn Linh rất hài lòng khi thấy lão trong tâm trạng ấy, và nhìn lão với vẻ ưu ái đến nỗi lão van xin như một cậu bé được ở lại cho tới khi khách về. Nhưng Hồn Linh nói điều ấy không thể được.

Cờ-rút nói:

– Có trò mới kìa. Nửa giờ thôi, Hồn Linh, chỉ một thôi!

Đó là trò đố Có và Không, trong đó cháu trai Cờ-rút phải nghĩ ra một thứ gì đó, còn những người khác phải tìm ra đó là gì. Anh chỉ trả lời các câu hỏi của họ bằng có hay không, tuỳ trường hợp. Loạt câu hỏi dồn dập như súng nổ mà anh phải chịu cho thấy anh đang nghĩ về một con vật, một con vật sống, một con vật khá khó ưa, một con vật dữ, một con vật đôi khi gầm gừ, càu nhàu, đôi khi lại nói, sống ở Luân Đôn, đi lại trên phố, không bị đem ra trưng bày, không bị ai dắt, không sống trong vườn thú, chưa bao giờ bị giết ở chợ, và không phải ngựa, lừa, bò cái, bò đực, hổ, chó, lợn, mèo hay gấu. Mỗi câu hỏi mới đặt ra, anh cháu ấy lại phá lên cười một tràng mới, và buồn cười không tả xiết đến nỗi phải đứng dậy khỏi ghế xô pha mà giậm chân. Cuối cùng cô em đầy đặn, rơi vào tình trạng tương tự, kêu lên:

– Em tìm ra rồi! Em biết đó là gì rồi, anh Phết! Em biết đó là gì rồi!

Phết kêu lên:

– Là gì?

– Là cậu Cờ-rút của anh!

Mà đúng là thế thật. Ai nấy đều thán phục, dù có người phản đối rằng câu trả lời cho câu hỏi “Có phải là con gấu không?” lẽ ra phải là “Có”. Vì một câu trả lời phủ định đủ để làm họ quay ý nghĩ khỏi ông Cờ-rút, giả sử họ đã từng có chút khuynh hướng nghĩ về phía ấy.

Phết nói:

– Cậu ấy đã cho chúng ta khối niềm vui, chắc chắn thế, và sẽ thật vô ơn nếu không nâng cốc chúc sức khoẻ cậu ấy. Đây có ngay một cốc rượu vang nóng sẵn trong tay, và anh xin nói: “Cậu Cờ-rút!”

Mọi người kêu lên:

– Nào! Cậu Cờ-rút!

Cháu trai Cờ-rút nói:

– Chúc ông già Giáng sinh vui vẻ và Năm mới hạnh phúc, dù ông ấy là gì đi nữa! Ông ấy không chịu nhận lời chúc của tôi, nhưng dù sao vẫn chúc ông ấy có được những điều ấy. Cậu Cờ-rút!

Cậu Cờ-rút đã dần dần trở nên vui vẻ và nhẹ lòng đến mức lẽ ra lão đã nâng cốc đáp lại đám người không hay biết gì ấy, và cảm ơn họ bằng một bài diễn văn không ai nghe thấy, nếu Hồn Linh cho lão thời gian. Nhưng cả cảnh ấy đã qua đi trong hơi thở của tiếng cuối cùng người cháu vừa nói. Và lão cùng Hồn Linh lại lên đường.

Họ đã thấy nhiều, đã đi xa, đã thăm nhiều mái nhà, nhưng lần nào cũng kết thúc vui vẻ. Hồn Linh đứng bên giường bệnh, và người bệnh vui lên. Ở những miền đất xa lạ, và họ thấy như gần nhà. Bên những người đang vật lộn, và họ kiên nhẫn trong niềm hy vọng lớn hơn. Bên cảnh nghèo, và nó trở nên giàu có. Ở nhà tế bần, ở bệnh viện, ở nhà tù, ở mọi chốn nương thân của khốn khổ, nơi con người phù phiếm với chút quyền lực nhỏ bé ngắn ngủi của mình chưa đóng chặt cửa mà ngăn Hồn Linh ở ngoài, ông đều để lại lời chúc phúc của mình, và dạy cho Cờ-rút những lời răn của ông.

Đó là một đêm dài, nếu chỉ là một đêm. Nhưng Cờ-rút ngờ điều ấy, vì những ngày lễ Giáng sinh dường như đã được dồn cả vào khoảng thời gian họ ở bên nhau. Lạ một điều nữa là trong khi Cờ-rút vẫn không thay đổi hình dạng bên ngoài, thì Hồn Linh già đi, già đi rõ rệt. Cờ-rút đã nhận thấy sự thay đổi ấy, nhưng không bao giờ nói ra, cho tới khi họ rời một bữa tiệc đêm Hiển linh của trẻ con. Khi ấy, nhìn Hồn Linh lúc hai người đứng với nhau ở một khoảng trống, lão nhận thấy tóc ông đã bạc.

Cờ-rút hỏi:

– Đời các Hồn Linh ngắn thế sao?

Hồn Linh đáp:

– Đời ta trên trái đất này rất ngắn ngủi. Nó kết thúc đêm nay.

Cờ-rút kêu lên:

– Đêm nay!

– Đêm nay, lúc nửa đêm. Nghe kìa! Giờ ấy đang tới gần.

Đúng lúc ấy chuông đang điểm mười một giờ bốn mươi lăm.

Cờ-rút nói, chăm chú nhìn áo của Hồn Linh:

– Xin tha thứ nếu tôi hỏi điều không phải, nhưng tôi thấy có cái gì kỳ lạ, không thuộc về ngài, đang thò ra dưới vạt áo ngài. Đó là bàn chân hay móng vuốt?

Hồn Linh buồn bã đáp:

– Cũng có thể là móng vuốt, vì chỗ thịt trên đó. Nhìn đây.

Từ những nếp áo, ông đưa ra hai đứa trẻ, khốn khổ, hèn mọn, đáng sợ, gớm guốc, thảm hại. Chúng quỳ dưới chân ông, bám vào bên ngoài áo ông.

Hồn Linh kêu lên:

– Ôi, Con người! Hãy nhìn đây. Nhìn đi, nhìn xuống đây!

Đó là một bé trai và một bé gái. Vàng vọt, gầy gò, rách rưới, cau có, như sói con, nhưng lại cũng phủ phục trong sự nhẫn nhục. Ở chỗ lẽ ra tuổi thơ duyên dáng phải làm đầy đặn nét mặt chúng, và điểm lên đó những sắc màu tươi tắn nhất, thì một bàn tay úa tàn khô héo như bàn tay tuổi già đã véo, đã vặn xoắn và xé chúng ra từng mảnh. Ở chỗ lẽ ra các thiên thần có thể ngự trên ngai, thì quỷ dữ lại ẩn nấp và trừng mắt nhìn ra đe doạ. Không một sự biến đổi, một sự sa đoạ, một sự lệch lạc nào của loài người, ở bất cứ bậc nào, qua mọi bí ẩn của tạo hoá kỳ diệu, lại sinh ra những quái vật khủng khiếp và đáng sợ được một nửa như thế.

Cờ-rút kinh hoàng giật lùi lại. Được cho xem chúng theo cách ấy, lão cố nói rằng chúng là những đứa trẻ xinh xắn, nhưng lời nói tự nghẹn lại, chứ không chịu đồng loã với một lời nói dối to lớn đến thế.

Cờ-rút chỉ nói được:

– Hồn Linh! Chúng là con của ngài sao?

Hồn Linh nhìn xuống chúng, nói:

– Chúng là con của Con người. Và chúng bám lấy ta, kêu cứu vì cha chúng. Thằng bé này là Ngu dốt. Con bé này là Thiếu thốn. Hãy coi chừng cả hai, và mọi kẻ thuộc hàng chúng, nhưng trên hết hãy coi chừng thằng bé này. Vì trên trán nó ta thấy viết chữ Diệt vong, trừ khi chữ ấy được xoá đi. Hãy chối bỏ đi!

Hồn Linh kêu lên, đưa tay về phía thành phố:

– Hãy vu khống những kẻ nói điều ấy với các người! Hãy thừa nhận nó vì những mục đích bè phái của các người, và làm nó tệ hơn. Rồi hãy chờ kết cục!

Cờ-rút kêu lên:

– Chúng không có chỗ nương thân hay nguồn trợ giúp nào sao?

Hồn Linh quay sang lão lần cuối, dùng chính lời của lão:

– Không có nhà tù à? Không có nhà tế bần à?

Chuông điểm mười hai giờ.

Cờ-rút nhìn quanh tìm Hồn Linh, nhưng không thấy. Khi tiếng chuông cuối cùng ngừng ngân, lão nhớ tới lời tiên báo của lão Gia-cốp Mác-lây già, và ngước mắt lên, thấy một Bóng ma trang nghiêm, khoác áo trùm đầu, đang tiến về phía lão như một làn sương trôi trên mặt đất.

— Hết chương 7 —

Mục lục Bài ca Giáng sinh

  1. 1Khúc một: Đêm Giáng sinh trong phòng giấy17 phút
  2. 2Khúc một: Hồn ma của Mác-lây19 phút
  3. 3Khúc hai: Hồn Linh Giáng sinh Quá khứ16 phút
  4. 4Khúc hai: Buổi khiêu vũ và lời chia tay17 phút
  5. 5Khúc ba: Hồn Linh Giáng sinh Hiện tại12 phút
  6. 6Khúc ba: Bữa tối nhà Cờ-rát-chít14 phút
  7. 7Khúc ba: Từ vùng hoang mạc tới nhà người cháu18 phút
  8. 8Khúc bốn: Hồn Linh cuối cùng14 phút
  9. 9Khúc bốn: Tấm bia không ai chăm sóc15 phút
  10. 10Khúc năm: Kết thúc13 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảCharles Dickens (1812 – 1870)
Năm mất1870
Xuất bản lần đầu1843
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: A Christmas Carol in Prose, Being a Ghost Story of Christmas, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →